Trờng đại học vinh
Khoa lịch sử
----------***---------
Nguyễn thị nhung
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Nghệ An
Từ 1930 đến 1939
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Lớp 47B3 (2006 - 2010)
Giáo viên hớng dẫn: ts. Trần văn thức
Vinh - 2010
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
-Về mặt khoa học:
Nghệ An là một trong những tỉnh lớn của xứ Trung Kì và là cửa ngõ
thông ra biển của nước Lào, tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở
Nghệ An trong thời kỳ 1930-1939 là góp phần vào việc nghiên cứu tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội ở xứ Trung Kì, rộng ra là cả nước thời thuộc
Pháp. Đây là một nội dung mà các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế ,chính trị,
văn hóa, xã hội rất quan tâm.
Nghiên cứu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam thời
kỳ 1930-1939 đã có nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm. Tuy
nhiên, ở quy mô một tỉnh, một địa phương trong giai đoạn đó thì chưa được
hình kinh tế - chính trị- xã hội Nghệ An từ năm 1930 đến năm 1939” làm
đề tài luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lịch sử Nghệ An thời thuộc Pháp, các học giả đã có
nhiều bài nghiên cứu, tham luận về phong trào cách mạng 1930-1931 với
đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Đó là bản anh hùng ca đã gây tiếng vang
lớn không chỉ trong nước mà còn cả trên thế giới. Tuy nhiên, đến thời kỳ
sau đó từ 1932 đến 1939 Nghệ An ít có tiếng vang hơn ên ít được giới
nghiên cứu quan tâm hơn. Cho đến nay “Tình hình kinh tế- chính trị- xã hội
Nghệ An từ 1930 đến 1939” vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào.
Những tài liệu hiện có chỉ đề cập vấn đề này ở một số khía cạnh khác nhau.
Xét trên phạm vi cả nước, cho đến nay đáng chú ý nhất là tác phẩm
của tác giả Nguyễn Văn Khánh “ Cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam thời
thuộc địa (1858-1945) ” Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 1999. Đây là công
trình khảo cứu có tính hệ thống đề cập và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
và sự biến đổi cơ cấu kinh tế-xã hội Việt Nam thời Pháp đô hộ nhằm làm
sáng tỏ quá trình phá vỡ , thu hẹp kết cấu cổ truyền, dần dần hình thành xác
lập và mở rộng các yếu tố kinh tế-xã hội thuộc địa mang tính chất tư bản
3
chủ nghĩa ở nước ta. Đánh giá tích cực và hạn chế của công cuộc tư bản
hóa của thực dân Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, tác phẩm chỉ quan tâm tới
cơ cấu kinh tế - xã hội của cả nước mà chưa tập trung nói về sự biến đổi ở
Bắc Trung kì và Nghệ An.
2.2.Tại Nghệ An cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên
quan tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn 1930-1939.
Dưới góc độ lịch sử Đảng, trong các cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ
Nghệ An, tập 1 (1930-1954), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998; Lịch
Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương, Nhà
xuất bản Nghệ Tĩnh, Vinh, 1985; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt
Nam huyện Nam Đàn, Sơ thảo, tập 1 (1930-1954), Nhà xuất bản Nghệ
Tĩnh, 1990; Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương, Sơ thảo, tập 1 (1930-1963),
Nhà xuất bản Nghệ An, 1991; Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
huyện Nghi Lộc, Nhà xuất bản Nghệ An, 1991; Lịch sử Đảng bộ Hưng
Nguyên, tập 1 (1930-1945), Nhà xuất bản Nghệ An, 2000; Lịch sử Đảng bộ
huyện Quỳnh Lưu (1930-2000), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000…Hầu hết các cuốn sách kể trên đều được biên soạn dưới sự chỉ đạo
của các Cấp ủy Đảng, do đó nội dung của nó mới chỉ dừng lại ở việc tái
hiện các sự kiện lịch sử có liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
phong trào cách mạng của nhân dân Nghệ An. Nếu có đề cập đến tình hình
kinh tế-xã hội của địa phương mình dưới thời thuộc Pháp thì cũng chỉ
nhằm trình bày hoàn cảnh lịch sử của phong trào cách mạng và chỉ dừng lại
ở việc liệt kê, chưa có sự phân tích cụ thể.
Tóm lại “Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Nghệ An từ 1930 đến
1939” là một vấn đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện.
Hầu hết thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội được nêu ra trong các tác
phẩm kể trên còn rất tản mạn và rời rạc. Vì vậy tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội ở Nghệ An đang cần tiếp tục nghiên cứu để có cách nhìn toàn diện
và chính xác hơn.
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây cùng với
nguồn tài liệu thu thập được, chúng tôi sẽ cố gắng bổ sung thêm những
phần còn thiếu và chưa được nghiên cứu để hoàn chỉnh cơ bản Lịch sử
5
Nghệ An trong những năm 30 của thế kỷ XX dưới ách thống trị của thực
dân Pháp.
4.2. Phương Pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng
phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp logic và phương pháp lịch sử.
Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp
khác để hỗ trợ như phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh,
phân tích…
5. Đóng góp của luận văn
Với đề tài nghiên cứu này, luận văn bước đầu khôi phục lại bức tranh
toàn cảnh về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An thời kỳ 1930-1939.
Tiến hành thống kê, sắp xếp và bổ sung những tư liệu còn thiếu, đóng góp
một phần nhỏ bé vào việc biên soạn Lịch sử Nghệ An được trọn vẹn và đầy
đủ hơn.
Cũng từ luận văn này, chúng tôi mong muốn phần lịch sử địa
phương sẽ được quan tâm hơn trong các chương trình dạy học lịch sử của
các cấp học. Giáo viên và học sinh có thể sử dụng những tài liệu trong luận
văn này làm tài liệu tham khảo khi giảng dạy và học tập lịch sử Nghệ An
trong những năm 30 của thế kỷ XX. Qua đó giáo dục tinh thần dân tộc và
hứng thú tìm hiểu cội nguồn quê hương trong đông đảo học sinh, sinh viên
hiện nay.
Luận văn cũng sẽ là nguồn tư liệu cho các độc giả gần xa có mong
muốn tìm hiểu lịch sử Nghệ An trong thời kỳ 1930-1939.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An
trước năm 1930.
Chương 2: Tình hình kinh tế Nghệ An từ 1930 đến 1939.
Chương 3: Tình hình chính trị - xã hội Nghệ An từ 1930 đến 1939.
7
nhà Lê” là kênh đào chạy suốt từ bắc đến nam của tỉnh.
8
Khoáng sản là một tiềm năng lớn của Nghệ An, trong lòng đất chứa
nhiều khoảng sản kim loại như: vàng, bạc, thiếc, chì, kẽm, măng gan với
trữ lượng lớn. Đặc biệt, Nghệ An nổi tiếng với nguồn đá đỏ ở Quỳ Châu.
Đất đai nông nghiệp phong phú, vùng đất đỏ bazan ở Phủ Quỳ rất
thích hợp để trồng cây công nghiệp. Ngoài ra, còn có đất phù sa ven sông,
ven biển, tuy độ màu mỡ không cao, nhưng là vùng thâm canh cây lương
thực.
Giao thông của tỉnh khá thuận lợi, Nghệ An là nơi mà con đường
quốc lộ 1A chạy suốt chiều dài của tỉnh, quốc lộ 7 nối đường 1A ở ngã ba
Diễn Châu sang Lào, quốc lộ 15A từ giáp giới Nghệ An - Thanh Hóa đến
Nghệ An - Hà Tĩnh, quốc lộ 16 nối Cửa Lò - Vinh - Thanh Chương - Đô
Lương. Ngoài hai cảng lớn là Bến Thủy, Cửa Lò còn có cầu Hiếu, cầu
Bùng, cầu Đô Lương đều sử dụng có hiệu quả. Sân bay Vinh đã đưa vào
hoạt động và tiếp tục được nâng cấp. Như vậy, Nghệ An có đầy đủ các loại
hình giao thông: đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không.
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia
thành bốn mùa rõ rệt. Do đặc thù và vị trí địa lý nên Nghệ An không chỉ là
nơi hứng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt
mà còn chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam nóng trong mùa hạ. Là nơi
giao thoa của nhiều chế độ thời tiết nên nhìn chung khí hậu ở Nghệ An
tương đối khắc nghiệt. Đó cũng là nhân tố góp phần hình thành nên tính
cách của con người xứ Nghệ.
Từ xưa đến nay Nghệ An luôn là vị trí chiến lược quan trọng của cả
nước. Nhận xét về vị thế của Nghệ An, Phan Huy Chú viết “Nghệ An núi
cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh
đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhân dân Nghệ An đã liên tục chống thù
trong giặc ngoài. Trong vương quốc Vạn Xuân, Nghệ An là biên thùy phía
Nam và đánh tan cuộc tấn công lấn chiếm của vua Chămpa vào năm 543.
Thành Vạn An (Nam Đàn) hiện nay là chứng tích cho cuộc khởi nghĩa lẫy
lừng của Mai Thúc Loan, mở rộng vùng giải phóng rồi tự xưng là Mai Hắc
Đế năm 713.
Trải qua các triều đại Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nghệ An
đã trở thành phên dậu vững chắc “ Cối kê của sự quân tu ký-Hoan Diễn tồn
10
thập vạn binh” (Cối kê chuyện cũ nguời nên nhớ-Hoan Diễn kia còn 10 vạn
binh) như lời vua Trần; là nơi Lê Lợi đã xây dựng bàn đạp để chiến thắng
quân Minh, giải phóng thủ đô Thăng Long và còn là nơi Quang Trung đã
chiêu tập binh mã, chuẩn bị quân lương để chiến thắng quân Thanh. Sau
khi thống nhất đất nước Quang Trung còn cho xây dựng Phượng Hoàng
Trung Đô ( vùng tây núi Quyết hiện nay ) với ý định dời kinh đô từ Phú
Xuân ( Huế ) ra. Nhiều con em của Nghệ An đã trở thành dũng tướng như
Đặng Dung, Đặng Tất, Nguyễn Biểu và biết bao mưu sĩ, võ tướng quê
Nghệ An đã cống hiến tài năng cho các cuộc chiến tranh giữ nước như
Nguyễn Xí, Lưu Quốc Câu, Lê Quốc Lý…
Nghệ An là nơi đứng chân vững chắc nhưng cũng là nơi chiến
trường, nhân dân Nghệ An đã chịu bao cảnh đau thương trong các cuộc
giao tranh giữa Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trước thái độ bạc nhược,
đầu hàng của triều đình Huế, các nhà văn thân cùng nhân dân Nghệ An đã
tỏ rõ quyết tâm đánh cả “ Triều lẫn Tây”. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra do
các vị đại khoa đứng đầu như Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã (1885-1889)
…
Sau khi phong trào Cần Vương bị thất bại, nhiều thế hệ người Nghệ
có tính cộng đồng cao.
1.2.Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nghệ An trước năm
1930
Từ trước năm 1858, Việt Nam là một nước quân chủ độc lập có chủ
quyền. Hàng ngàn năm sống dưới chế độ quân chủ, trải qua nhiều thời đại
khác nhau nhưng nền kinh tế của Việt Nam nói chung cũng như của Nghệ
An nói riêng vẫn không hề có sự biến chuyển gì nhiều. Một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu vẫn được duy trì và được củng cố từ triều đại này sang
triều đại khác. Bởi kinh tế nông nghiệp là nền tảng của chế độ phong kiến,
chính nền kinh tế đã quy định cơ cấu xã hội. Ở Nghệ An hay ở bất cứ nơi
nào trên đất nước ta cũng chỉ tồn tại hai giai cấp chính là giai cấp nông dân
( thuộc tầng lớp bị trị ) và giai cấp địa chủ phong kiến ( thuộc tầng lớp
thống trị ).
12
Nhưng tất cả đã thay đổi khi vết giày xâm lược của thực dân Pháp
đặt chân lên nước ta. Ngày 1/9/1958 định mệnh ấy, thực dân Pháp nổ súng
xâm lược Việt Nam. 26 năm sau, với điều ước Patơnốt ( 6/6/1884 ), chúng
hoàn thành thôn tính nước ta. 20/7/1885, dưới sự chỉ đạo của Sơmông,
quân Pháp tiến vào đánh chiếm thành Nghệ An. Từ đây lịch sử Nghệ An
bước vào một giai đoạn mới.
1.2.1. Kinh tế:
Hoàn thành việc xâm lược nước ta, thực dân Pháp bắt tay ngay vào
công cuộc khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn.
Nghệ An - một mảnh đất giàu nguồn tài nguyên, đông dân, giao
thông thủy bộ thuận lợi, lại giáp Lào nên được các tập đoàn tư bản Pháp tập
trung khai thác với tốc độ nhanh, nhất là những năm đầu của thế kỷ XX.
Vinh - Bến Thủy trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của
Cảng Bến Thủy cùng với Nhà máy xe lửa Trường Thi là hai cơ sở tiêu
biểu nhất thuộc ngành công nghiệp giao thông vận tải của tư bản Pháp ở Nghệ
Tĩnh.
* Về công nghiệp chế biến:
Từ quá trình thăm dò ở thế kỷ XVIII rằng Nghệ Tĩnh là miền rừng
núi có nhiều gỗ quý, Giăng-Duy-Puy ( Jean Dupuis ) đã lập một trạm thu
mua gỗ ở cửa khẩu Vinh. Năm 1892, cơ sở buôn bán lâm sản của Duy Puy
chuyển qua tay “ Công ty thương nghiệp, thương mại Trung Kỳ ”. Năm
1900 “ Công ty Lào ” mở xưởng cưa và xưởng mộc ở Bến Thủy. Năm
1903 “ Công ty diêm Đông Dương ” cho xây dựng Nhà máy diêm ở Bến
Thủy.
Ngày 10/10/1922, “ Công ty vô danh rừng và diêm ” ( viết tắt là
SIFA) ra đời trên cơ sở sát nhập hai công ty “Công ty thương mại và lâm
sản Trung Kỳ ” và “ Công ty diêm ”. SIFA quản lý hầu hết các xí nghiệp
lớn ở Bến Thủy gồm Nhà máy cưa SIRI, Nhà máy cưa Lào - Xiêm, Nhà
máy diêm, Nhà máy điện. SIFA trở thành công ty chế biến gỗ lớn nhất ở
Nghệ An.
* Ngành kinh tế nông nghiệp:
Đây là một nền kinh tế cổ truyền của nước ta từ khi hình thành quốc
gia, dân tộc. Cho đến những năm trước khi thực dân Pháp tiến hành khai
14
thác thuộc địa thì nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo gần như độc tôn trong
toàn bộ cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nông nghiệp Nghệ
An đã có sự biến đổi sâu sắc. Thực dân Pháp đã tiến hành cướp ruộng đất
để lập đồn điền. Từ năm 1925-1930 quá trình cướp ruộng xảy ra mạnh
nhất, nếu như năm 1925 mới chỉ có 3 đồn điền thì đến năm 1929 đã có 35
đồn điền. Lớn nhất là đồn điền của Van-te ở Nghĩa Đàn chiếm 4.128 ha.
Từ sau điều ước Patơnốt (1884), Trung Kì trở thành xứ “ bảo hộ ” nên
dân Nghệ An phải chịu cảnh “ một cổ hai tròng ”, vừa chịu ách cai trị của thực
dân Pháp, vừa bị bọn phong kiến Nam triều đè nén. Đứng đầu tỉnh có Tổng
đốc, thứ đến là Bố chánh ( coi việc thuế má, ruộng đất, dân số ), án sát, hình
pháp, đốc học, lãnh binh (trị an). Ngoài ra còn có thông phán, kinh dịch, thừa
phái, lục sự…Song song với bộ máy quan lại phong kiến, có tòa sứ với tên
Công sứ đứng đầu, dưới Công sứ có Phó sứ (chuyên việc văn phòng và chủ sự
kho bạc). Ngoài ra còn có tham tá, thông phán người Việt. Các sở chuyên
môn thuộc tòa sứ gồm có lục bộ (giao thông, xây dựng), nha đoan (đánh thuế
gián thu), kiểm lâm (quản lý khai thác rừng), y tế, thú y, nông chính. Sở mật
thám và trại thám binh là hai cơ quan theo dõi trấn áp dân chúng.
Về mặt hình thức, cả hai bộ máy cai trị đó kết cấu với nhau đàn áp,
bóc lột nhân dân đến tận xương tủy nhưng thực chất cơ quan phong kiến
Nam triều chỉ là con rối dưới sự điều khiển giật giây của tòa sứ. Chúng thi
hành chính sách chuyên chế về chính trị, mọi quyền hành đều nằm trong
tay tòa sứ.
1.2.3. Về mặt xã hội:
Chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho nguồn tài
nguyên của Nghệ An ngày càng bị hao mòn, đời sống nhân dân kiệt quệ.
Người nông dân không chỉ bị mất đất, mất ruộng, mà còn phải chịu nhiều
thứ sưu thuế nặng nề. Có hàng trăm thứ thuế, điển hình là thuế điền thổ và
thuế đinh. Thuế điền thổ được chia ra làm 4 hạng điền, 6 hạng thổ. Sưu
thuế như một tảng đá lớn đè nặng trên lưng người nông dân. Tảng đá ấy
ngày càng nặng thêm theo từng năm, nếu như năm 1904 tăng 8% thì đến
năm 1924 đã tăng 30%.
16
Thuế thân (thuế đinh hoặc sưu) là một thứ thuế vô lý đánh vào đầu
Tầng lớp tiểu tư sản ở Nghệ An gồm viên chức, trí thức, học sinh,
thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ. Họ phần đông xuất thân từ các gia đình
nhà nho. Họ cũng bị tư sản Pháp ráo riết chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đời
sống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào con đường phá sản và thất nghiệp. Vì vậy,
họ đã hăng hái tham gia các phong trào yêu nước và trở thành những hạt
nhân của phong trào yêu nước. Tuy nhiên do địa vị kinh tế và chính trị của
mình, tầng lớp tiểu tư sản vẫn không tránh khỏi có lúc thiếu vững vàng
kiên định.
Nông dân Nghệ An chiếm hơn 90% dân số trong tỉnh, bị đế quốc
phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề bằng thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô
tức, phu phen, tạp dịch…Họ bị bần cùng hóa và phá sản trên quy mô lớn,
nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ trở thành công nhân, số đông nông dân vẫn
phải sống quanh quẩn trong lũy tre làng. Sống trên mảnh đất có bề dày
truyền thống yêu nước, nên nông dân Nghệ An có ý thức dân tộc cao, giàu
lòng yêu nước. Họ sẽ trở thành lực lượng hăng hái và đông đảo nhất của
cách mạng.
Giai cấp công nhân Nghệ An được hình thành và phát triển từ những
năm đầu thế kỷ XX. Tuy ra đời muộn nhưng công nhân Nghệ An phát triển
nhanh và tập trung ở khu công nghiệp Vinh - Bến Thủy, một bộ phận ở các
đồn điền Phủ Quỳ. Cùng mang đặc điểm của giai cấp công nhân cả nước
(bị ba tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, tư sản Người Việt; có
quan hệ tự nhiên gắn bó với giai cấp nông dân; kế thừa truyền thống yêu
nước anh hùng và bất khuất của dân tộc) nhưng giai cấp công nhân Nghệ
An vừa mới ra đời đã được tắm mình trong phong trào yêu nước, sớm được
tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin nên đã nhanh chóng bước lên vũ đài chính
trị, để trở thành lực lượng nắm quyền lãnh đạo cách mạng.
18
dân Pháp đã thi hành chính sách đàn áp khủng bố khốc liệt làm cho bầu
19
chính trị của nước ta trở nên ngột ngạt, nóng bỏng. Các công ty tư bản Pháp
thấy vậy tìm cách thu hồi vốn đầu tư, không đầu tư vốn vào Đông Dương
như thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Những biến động chính - trị xã
hội đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như
kinh tế Nghệ An nói riêng.
Sau cuộc khủng bố trắng (1931-1933), phong trào cách mạng trong
nước tạm lắng xuống khiến thực dân Pháp phần nào yên tâm và có nhiều
điều chỉnh trong chính sách cai trị Đông Dương nhằm vừa xoa dịu mâu
thuẫn với người bản xứ vừa tiếp tục chính sách khai thác thuộc địa ở Việt
Nam. Thực dân Pháp đã cho khởi công ở Nghệ An hai công trình đập nước
quan trọng là đập nước Đô Lương và Bara Nam Đàn mang lại nhiều nguồn
lợi kinh tế cho nhân dân Nghệ An. Thực dân Pháp còn cho các điền chủ
người Âu mở rộng đồn điền ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Đây là một trong
những yếu tố tác động đến nền kinh tế Nghệ An.
Bước sang những năm 1936-1939, tình hình thế giới đã xảy ra nhiều
biến động mà tâm điểm chính là sự ra đời của chủ nghĩa phát xít ở Đức,
Italia và Nhật Bản đang đe dọa trực tiếp đến nền hòa bình và an ninh thế
giới. Một phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít đã được Quốc tế
cộng sản phát động, trong Đại hội Quốc tế cộng sản lần 7 (7/1935). Hưởng
ứng lời kêu gọi đó, ở Việt Nam đã diễn ra phong trào đấu tranh đòi dân
sinh dân chủ sôi nổi, sâu rộng trong phạm vi cả nước. Phái đoàn điều tra
thuộc địa do J.Gôda dẫn đầu sang nước ta mang cùng một số chính sách
tiến bộ của chính phủ Pháp trong giai đoạn này tạo điều kiện cho kinh tế
Việt Nam cũng như Nghệ An có điều kiện phục hồi và phát triển.
Như vậy chỉ trong vòng 10 năm (1930-1939), tình hình trong nước
và thế giới có nhiều thăng trầm biến đổi. Thực dân Pháp đã tìm mọi cách
Đến năm 1930 Walther đã mở rộng diện tích đồn điền của mình lên tới
6.300 ha. Tiếp đó, Công ty rừng và diêm Đông Dương đã đầu tư xây dựng
đồn điền ở Phủ Quỳ với diện tích hàng ngàn ha, trồng cao su, cà phê và
chăn nuôi gia súc. Sự hiện diện của tập đoàn tư bản này ở Phủ Quỳ đã
chứng tỏ đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích kinh tế.
Bên cạnh các điền chủ người Pháp, tại Phủ Quỳ, một số điền chủ người
Việt cũng cố gắng vươn lên cạnh tranh cùng tư bản Pháp. Tiêu biểu như Lê
21
Bôn Đào, Ký Viễn, Lê Văn Quý, Trần Thúy Roanh…Sự xuất hiện của tư
sản người Việt trong nền kinh tế đồn điền đã tạo nên một nét mới trong bức
tranh kinh tế đồn điền ở Nghệ An tồn tại cho đến hết Chiến tranh thế giới
lần thứ hai.
Ngoài Phủ Quỳ, trong khoảng thời gian từ 1919-1939 các điền chủ
người Pháp và người Việt còn đầu tư lập ra một hệ thống đồn điền ở khắp
các huyện thuộc địa bàn Nghệ An. Tiêu biểu là đồn điền Sapainhe, Poul
Hugon, Ký Viễn ở Hạnh Lâm (Thanh Chương), Lejeune (Anh Sơn), Mi
Phare (Kẻ Tụ - Quỳ Châu), Emileur, Chavanon (Quỳnh Lưu), Thừa Duệ
( Nghĩa Động - Nam Đàn), Bá Hộ Cầu (Hưng Nguyên), Trần Thị Vực (Yên
Thành),…
Nét độc đáo của kinh tế đồn điền ở Nghệ An đó là các đồn điền của
các điền chủ người Âu chỉ tồn tại một thời gian rồi sau đó được chuyển
nhượng, bán lại cho các công ty lớn như các tập đoàn SIFA hoặc phải bán
toàn bộ sản phẩm cho tập đoàn này. Như vậy quyền sở hữu đất đai thuộc về
một chủ hoặc một công ty.
Mặt khác, mối quan hệ giữa điền chủ và người lao động được xây
dựng trên cơ sở hợp đồng giữa hai bên được pháp luật quy định rõ chứ
không phải là mối quan hệ giữa điền chủ - tá điền hoặc địa chủ - nông dân
tự do. Lực lượng công nhân làm việc ở đây có hai loại: công nhân làm việc
hiện theo hai phương thức: đối với trâu bò trưởng thành nuôi để lấy sức kéo
và lấy phân bón. Số trâu bò này có chuồng trại nuôi nhốt và thường do vài
người đảm nhận. Đối với bê, nghé (trâu bò nhỏ) hoặc trâu bò sắp sinh được
quản lý theo kiểu cho nông dân trong vùng nuôi rẽ và chia sản phẩm theo
hình thức 50/50. Tiêu biểu cho phương thức này có Ký Viễn, Thừa Duệ, Bá
Hộ Cầu, Bá Hộ Hiên…
Công nhân làm trong các đồn điền có hai hạng: công nhân làm việc lâu dài
và công nhân làm việc theo mùa vụ. Mối quan hệ chủ đạo giữa điền chủ và
người lao động được xây dựng bằng một bản hợp đồng lao động do pháp
luật quy định rõ trong nhiều nghị định như nghị định 5/10/1871; 8/11/1880;
26/8/1899…Trên cơ sở đó, ngày 5/2/1902 toàn quyền Đông Dương ban bố
việc thi hành nghị định ngày 26/8/1899 cho cả khu vực Trung Kỳ và Cao
23
Miên với nội dung cụ thể là “Tất cả mọi người bản xứ ở Bắc Kỳ, Trung kỳ
không phải là công nhân Pháp đã trưởng thành, là nữ hay nam, làm việc tôi
tớ trong gia đình hay người Âu hóa phải theo một hợp đồng được cam kết
bằng lời hay bằng văn bản đều bắt buộc phải có một cuốn sổ. Cuốn sổ này
có giá trị như một giấy phép lưu trú, trong đó ghi rõ nhân dạng, quê quán
và chỗ ở cuối cùng của người có sổ cũng như tính chất và thời hạn hợp
đồng, lương được hưởng và cách thức trả lương… Nếu hủy hợp đồng
không có lý do chính đáng, ngừng công việc không báo trước 15 ngày, hay
hết hạn hợp đồng hoặc muốn hủy hợp đồng không báo trước với chính
quyền, người đó sẽ bị xử phạt từ 1-5 ngày và phạt tiền từ 1-15 Fr…”
[29;125].
Từ năm 1919-1939, chính quyền thuộc địa còn ban hành nhiều văn
bản có nội dung liên quan đến vấn đề công nhân lao động trong các đồn
điền, hầm mỏ, nhà máy…Đáng chú ý là bản nghị định ngày 15/10/1927 về
“Thể lệ bảo hộ nhân công bản xứ và người châu Á làm theo giao kèo trong
canh cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc.
Phần lớn sản phầm thu được từ các đồn điền ở Nghệ An dùng để
xuất khẩu qua cảng Bến Thủy. Điều này đã mang lại cho các điền chủ
những món lợi nhuận lớn.
Kinh tế đồn điền phát triển kéo theo quan hệ giữa điền chủ với người
lao động có nhiều nét mới, hình thức trả công lao động bằng lương khi
hoàn thành hợp đồng là một bước đi mới mà trước đó chưa có ở Nghệ An.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại phương thức bóc lột theo kiểu phong
kiến ( phát canh thu tô ) đối với công nhân làm việc theo mùa vụ.
Như vậy, kinh tế đồn điền ở Nghệ An trong những năm 30 của thế
kỷ XX không chỉ tác động đến đời sống kinh tế mà còn tác động đến cả đời
sống chính trị, xã hội của cư dân xứ Nghệ.
* Kinh tế nông nghiệp ở làng xã:
Trước năm 1930 kinh tế nông nghiệp ở làng xã Nghệ An vẫn luôn
nằm trong tình trạng bấp bênh, trì trệ, lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên.
Đã thế ruộng đất thì ngày càng bị thu hẹp do nạn bao chiếm, cướp đoạt của
địa chủ và thực dân Pháp để làm đồn điền. Những phần đất màu mỡ,phì
nhiêu bị chúng nắm hết, nông dân chỉ còn phần đất nhỏ, xương xẩu, cằn
25