§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
ĐỒ ÁN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TRUYỀN TẢI BÁO HIỆU TRONG MẠNG NGN
Giảng viên hướng dẫn: THS. CAO THÀNH NGHĨA
Sinh viên thực hiện:
LÊ VĂN THỊNH
Lớp 48K ĐTVT
NGHỆ AN, THÁNG 1-2012
i
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
MỤC LỤC
2.3.3 Ngươi sư dung SS7 (SS7 Users)..............................................................xxxviii
2.3.4 Cac phân ưng dung INAP, MAP, OMAP.......................................................xli
2.4 Vi du vê thiêt lâp cuôc goi đơn gian sư dung hê thông bao hiêu sô 7....xliv
CHƯƠNG 3....................................................................................................xlvii
TRUYÊN TAI BAO HIÊU SÔ7 TRONG NGN.............................................xlvii
3.1 SIGTRAN...............................................................................................xlviii
3.1.1 Giơi thiêu khai quat vê SIGTRAN............................................................xlviii
3.1.2 Cac kiên truc sư dung SIGTRAN................................................................xlix
3.1.3 Kiên truc giao thưc SIGTRAN.......................................................................liii
3.1.4 Cac yêu câu vê chưc năng đôi vơi SIGTRAN.............................................liii
3.1.5 Cac yêu câu vê bao mât trong SIGTRAN.....................................................lvi
3.2 Giao thưc truyên dân điêu khiên luông SCTP..........................................lvii
3.2.1 Khai niêm SCTP............................................................................................lvii
3.2.2 Đông lưc thuc đây đê phat triên SCTP.......................................................lvii
3.2.3 Mô hinh chưc năng cua SCTP.......................................................................lix
3.2.4 Khuôn dang goi tin SCTP.............................................................................lxiii
3.2.5 Cơ chê phân phat dư liêu trong SCTP..........................................................lxv
ii
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
3.2.6 Cơ chê node đa đia chi cua STCP (Multi Homed Node).............................lxvi
4.4 Giao thưc lơp thich ưng ngươi sư dung SCCP (SUA)..............................xcv
4.4.1 Tông quan vê SUA.......................................................................................xcv
4.4.2 Kiên truc truyên tai bao hiêu.....................................................................xcvi
4.4.3 Cac dich vu cung câp bơi lơp SUA...........................................................xcviii
4.4.4 Cac chưc năng đươc cung câp bên trong lơp SUA.........................................c
4.4.5 So sanh M3UA va SUA.................................................................................ciii
4.5 Câu truc ban tin M2PA, M2UA, M3UA, SUA...........................................civ
KÊT LUÂN..........................................................................................................cvii
TAI LIÊU THAM KHAO.................................................................................cviii
CÁC THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
AAL
ACF
ACK
ACM
ANM
ATM Adaptation Layer
Admission Confirmation
Acknowledgement
Acknowledgement
Address Complete Message
Answer Message
Lớp thích ứng ATM
Xác nhận chấp nhận đăng nhập
Bản tin xác nhận gói (SS7)
Bản tin hoàn thành địa chỉ (SS7)
IP
ISDN
ISUP
ITU
LEX
MFC
MG
MGC
Application Programming
Interface
Application Transport
Mechanism
Admission Request
Application Server Process
Access Tandem
Asynchronous Transfer Mode
Bearer Independent Call Control
Circuit Identification Code
Capability Set
Distributed Processing
Environment
Digital Signal Processing
Dual Tone Multiple Frequency
European Telecommunications
Standard Institute
Gateway GPRS Support Node
Gatekeeper
Graphical User Interface
Gateway
Giao thức điều khiển cuôc gọi đôc
lập kênh mang
Mã nhận dạng kênh (SS7)
Tập năng lực
Môi trường xử lý phân tán
Bô xử lý tín hiệu sô
Xung đa tần
Viện chuẩn hoá viễn thông châu Âu
Node hỗ trợ GPRS cổng
Giao diện người dùng đồ hoạ
Giao thức truyền tải siêu văn bản
Bản tin khởi tạo địa chỉ (SS7)
Nhận dạng
Nhận dạng giao diện
Nhóm kỹ thuật Internet
Mạng thông minh
Phần ứng dụng của mạng thông
minh
Giao thức Internet
Mạng sô đa dịch vụ tích hợp
Phần người dùng ISDN
Hiệp hôi viễn thông quôc tế
Tổng đài nôi hạt
Mã đã tần
Cổng phương tiện
Thiết bị điều khiển cổng phương
tiện
Giao thức điều khiển cổng phương
tiện
iv
SRF
SRP
SS7
SSF
STP
TCAP
TCP
TDM
UDP
VNPT
Media Gateway Unit
Multi-Protocol Label Switching
Maximum Transmission Unit
Network Access Servers
Next Generation Network
Operation Administration and
Maintenance
Private Branch Exchange
Plain Old Telephone System
Primary Interface
Public Switched Telephone
Network
Quality of Service
Registration, Admission and
Status
Release
Request For Common
Resident Gateway
Release Complete
Cổng báo hiệu
Simple Gateway Control Protocol Giao thức điều khiển cổng đơn giản
Signalling Gateway Process
Tiến trình cổng báo hiệu
Serving GPRS Support Node
Node hỗ trợ GPRS đang phục vụ
Signalling Gateway Unit
Đơn vị cổng báo hiệu
Session Initiation Protocol
Giao thức khởi tạo phiên
Specialised Resource Function
Chức năng tài nguyên đặc biệt
Special Resource Point
Điểm tài nguyên đặc biệt
Signalling System number 7
Hệ thông báo hiệu sô 7
Service Switching Function
Chức năng chuyển mạch dịch vụ
Signalling Transfer Point
Điểm chuyển tiếp báo hiệu
Transaction Capabilities
Phần ứng dụng khả năng phiên
Application Part
Transfer Control Protocol
Giao thức điều khiển truyền tải
Time Division Multiplex
Ghép kênh phân chia theo thời gian
User Data gram Protocol
Giao thức truyền datagram người sử
dụng
khác cũng đã và đang từng bước tham gia vào việc khai thác thị trường cung cấp
các dịch vụ viễn thông.
vi
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
Đứng trước xu hướng tự do hoá thị trường, cạnh tranh và hôi nhập, việc
phát triển theo cấu trúc mạng thế hệ sau (NGN) với các công nghệ phù hợp là
bước đi tất yếu của viễn thông thế giới và mạng viễn thông Việt Nam. Trên thực
tế, VNPT đang từng bước triển khai hạ tầng cơ sở kỹ thuật và đã bước đầu cung
cấp môt sô dịch vụ NGN cho người sử dụng.
Với xu hướng chuyển dần sang mạng thế hệ sau như vậy, môt loạt các vấn
đề được đặt ra như kiến trúc mạng, phôi hợp điều khiển, báo hiệu giữa các phần
tử trong mạng, chất lượng dịch vụ cho mạng thế hệ sau. Trong đó, việc xây
dựng mạng báo hiệu giữa các phần tử trong mạng với các giao thức mới phù hợp
là môt vấn đề then chôt quyết định đến sự hoạt đông và chất lượng dịch vụ của
toàn bô mạng.
Trong nhiều năm qua, hệ thông báo hiệu sô 7 (SS7) với nhiều ưu điểm nổi
bật đã được sử dụng rông rãi trong mạng PSTN và đem lại những hiệu quả to
lớn. Với thực tế là chúng ta không thể triển khai ngay lập tức môt hệ thông
mạng mới trọn vẹn, thay thế toàn bô hạ tầng cơ sở mạng hiện tại, vấn đề đặt ra là
phải có sự phôi hợp hoạt đông giữa mạng hiện tại và mạng NGN, và môt trong
những vấn đề đó là phải truyền tải được báo hiệu PSTN mà quan trọng là SS7
qua nền tảng mạng NGN. Điều này có nghĩa là phải xây dựng môt giao thức
mới, phù hợp để có thể cho phép thực hiện báo hiệu SS7 giữa các phần tử mạng
trên nền IP (SS7 over IP). Để làm được điều này, môt loạt câu hỏi được đặt ra
như: SS7 over IP có sẵn sàng không? Có thể phát triển lên từ mạng SS7 hiện tại
vậy, chắc chắn đồ án không tránh khỏi những sai sót cũng như còn nhiều vấn đề
chưa thoả đáng, cần được xem xét thấu đáo hơn. Rất mong nhận được sự chỉ bảo
của các thầy cô giáo cùng sự góp ý và phê bình của các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Cao Thành Nghĩa và các thầy cô giáo
trong khoa Điện tử viễn thông đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và tận tình hướng
dẫn em trong suôt quá trình thực hiện đồ án này.
viii
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MẠNG THẾ HỆ MỚI NGN
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự thay đổi mang tính cách mạng
trong thị trường dịch vụ thông tin. Sự thay đổi này không chỉ liên quan đến các
nhà sản xuất thiết bị, các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà nghiên cứu thị trường
viễn thông mà còn cho tới nhiều người trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã
hôi. Phương thức mà con người trao đổi thông tin với nhau, giao tiếp với nhau
và kinh doanh các dịch vụ viễn thông cũng đang dần dần thay đổi theo cùng nền
công nghiệp viễn thông. Các kênh thông tin trong mạng viễn thông hiện đại
không chỉ còn mang thông tin thoại truyền thông mà còn truyền tải cả sô liệu,
video, tin nhắn... Thông tin thoại, sô liệu, fax, video và các dịch vụ khác đang
được cung cấp tới các thiết bị đầu cuôi là điện thoại, thiết bị di đông, máy tính
cá nhân... và hàng loạt các thiết bị khác. Lưu lượng thông tin sô liệu ngày nay đã
vượt xa lưu lượng thông tin thoại và vẫn không ngừng tăng với tôc đô gấp nhiều
lần tôc đô gia tăng của lưu lượng thông tin thoại truyền thông. Chuyển mạch
kênh, vôn là đặc trưng của mạng PSTN truyền thông đã không còn thích hợp
mạch gói, triển khai các dịch vụ môt cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự
hôi tụ giữa thoại và sô liệu, giữa cô định và di đông.
Như vậy, có thể xem mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại
PSTN, chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM, với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ
thuật IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vôn có của PSTN đồng
thời cũng có thể nhập môt lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể
giảm nhẹ gánh nặng của PSTN.
Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hôi tụ giữa thoại và dữ liệu mà
còn là sự hôi tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cô định và
di đông. Vấn đề chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ
quá trình hôi tụ này. Môt vấn đề quan trọng khác là sự bùng nổ nhu cầu của
người sử dụng cho môt khôi lượng lớn dịch vụ và ứng dụng phức tạp bao gồm
x
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
cả đa phương tiện, phần lớn trong đó là không được trù liệu khi xây dựng các hệ
thông mạng hiện nay.
1.1.2 Đặc điểm của NGN
Mạng NGN có 4 đặc điểm chính là:
Nền tảng là hệ thông mạng mở.
Mạng NGN là do mạng dịch vụ thúc đẩy, nhưng dịch vụ phải thực
hiện đôc lập với mạng lưới.
Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên môt giao thức
thông nhất.
Là mạng có dung lượng ngày càng tăng, có tính thích ứng cũng
truyền hình cáp, đều không thể lấy môt trong các mạng đó làm nền tảng để xây
dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Nhưng mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển
của công nghệ IP, người ta mới nhận thấy rõ ràng là mạng viễn thông, mạng
máy tính và mạng truyền hình cáp cuôi cùng rồi cũng tích hợp trong môt mạng
IP thông nhất, đó là xu thế lớn mà người ta thường gọi là “dung hợp ba mạng”.
Giao thức IP làm cho các dịch vụ lấy IP làm cơ sở đều có thể thực hiện nôi
thông các mạng khác nhau; con người lần đầu tiên có được giao thức thông nhất
mà ba mạng lớn đều có thể chấp nhận được; đặt cơ sở vững chắc về mặt kỹ thuật
cho hạ tầng cơ sở thông tin quôc gia.
Giao thức IP thực tế đã trở thành giao thức ứng dụng vạn năng và bắt đầu
được sử dụng làm cơ sở cho các mạng đa dịch vụ, mặc dù hiện tại vẫn còn ở thế
bất lợi so với chuyển mạch kênh về mặt khả năng hỗ trợ lưu lượng thoại và cung
cấp chất lượng dịch vụ đảm bảo cho sô liệu. Tôc đô đổi mới nhanh chóng trong
thế giới Internet được tạo điều kiện bởi sự phát triển của các tiêu chuẩn mở sẽ
sớm khắc phục những thiếu sót này.
1.1.3 Kiến trúc của mạng NGN
Kiến trúc của mạng NGN được chia thành 4 lớp chức năng cơ bản là:
Lớp ứng dụng và dịch vụ
Lớp điều khiển
Lớp truyền tải
Lớp truy nhập
Lớp chuyển tải (Media)
Lớp truy nhập (Access)
Hình 1.1 Kiến trúc logic mạng thế hệ mới NGN
Lớp quản lý
Ngoài các lớp Lớp
cơ bản
Lớp điều khiển có chức năng điều khiển lớp chuyển tải và lớp truy nhập
cung cấp các dịch vụ mạng NGN gồm nhiều modun như modun điều khiển kết
nôi ATM, MPLS, điều khiển định tuyến IP, điều khiển kết nôi thoại, xử lý các
báo hiệu mạng bao gồm SS7, SIP, MEGACO...
Lớp chuyển tải
xiii
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
Lớp chuyển tải phải có khả năng chuyển tải các loại lưu lượng như ATM,
IP.. Lớp chuyển tải được tổ chức thành hai cấp: đường trục quôc gia và vùng
thay vì 3-4 cấp như trong mạng PSTN hiện nay.
Lớp truy nhập
Lớp truy nhập gồm toàn bô các nút truy nhập được tổ chức không phụ
thuôc theo địa giới hành chính. Các nút truy nhập của các vùng lưu lượng chỉ
được kết nôi đến nút chuyển mạch đường trục của vùng đó qua các nút chuyển
mạch nôi vùng.
Lớp quản ly
Lớp quản lý mạng là phần thiết bị quản lý mạng tập trung xuyên suôt tất cả
các lớp khác. Lớp này thực hiện các chức năng quản lý như tính cước, hỗ trợ
vận hành, các xử lý liên quan tới thuê bao hay cung cấp dịch vụ tới khách hàng.
Lớp quản lý mạng có thể tương tác với các lớp khác thông qua các giao diện
chuẩn hay giao diện lập trình ứng dụng mở API.
1.1.4 Các thành phần chính của mạng NGN
Trong mạng viễn thông thế hệ mới có rất nhiều thành phần cần quan tâm,
nhưng ở đây ta chỉ nghiên cứu những thành phần chính thể hiện rõ nét sự khác
IP dưới sự điều khiển của Media Gateway Controller (MGC).
SG làm cho Softswitch giông như môt nút SS7 trong mạng báo hiệu SS7.
Nhiệm vụ của SG là xử lý thông tin báo hiệu.
Các chức năng chính của Signaling Gateway:
- Cung cấp môt kết nôi vật lý đến mạng báo hiệu.
- Truyền thông tin báo hiệu giữa Media Gateway Controller và Signaling
Gateway thông qua mạng IP.
- Cung cấp đường dẫn truyền dẫn cho thoại, dữ liệu và các dạng dữ liệu
khác. (Thực hiện truyền dữ liệu là nhiệm vụ của Media Gateway).
- Cung cấp các hoạt đông SS7 có sự sẵn sàng cao cho các dịch vụ viễn
thông.
Media Gateway Controller (MGC)
MGC là đơn vị chức năng chính của Softswitch. Nó đưa ra các quy luật xử
lý cuôc gọi, còn MG và SG sẽ thực hiện các quy luật đó. Nó điều khiển SG thiết
lập và kết thúc cuôc gọi.
MGC chính là chiếc cầu nôi giữa các mạng có đặc tính khác nhau, như
PSTN, SS7, mạng IP. Nó chịu trách nhiệm quản lý lưu lượng thoại và dữ liệu
qua các mạng khác nhau. Nó còn được gọi là Call Agent do chức năng điều
khiển các bản tin .
xv
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
Môt MGC kết hợp với MG, SG tạo thành cấu hình tôi thiểu cho Softswitch.
Các chức năng của Media Gateway Controller
- Quản lý cuôc gọi
- Các giao thức thiết lập cuôc gọi thoại: H.323, SIP
Môc lôc
- Chức năng voicemail cơ bản.
- Hôp thư fax tích hợp hay các thông báo có thể sử dụng e-mail hay các
bản tin ghi âm trước (pre-recorded message).
- Khả năng nhận dạng tiếng nói (nếu có).
- Khả năng hôi nghị truyền hình (video conference).
- Khả năng chuyển thoại sang văn bản (speech-to-text)
Application Server/Feature Server
Server đặc tính là môt server ở mức ứng dụng chứa môt loạt các dịch vụ
của doanh nghiệp. Chính vì vậy nó còn được gọi là Server ứng dụng thương
mại. Vì hầu hết các Server này tự quản lý các dịch vụ và truyền thông qua mạng
IP nên chúng không ràng buôc nhiều với Softswith về việc phân chia hay nhóm
các thành phần ứng dụng.
Chức năng của Feature Server là xác định tính hợp lệ và hỗ trợ các thông sô
dịch vụ thông thường cho hệ thông đa chuyển mạch.
1.2 Kết nối giữa mạng NGN và mạng PSTN truyền thống
Chúng ta thấy rằng mạng NGN - môt mạng chuyển mạch gói dựa trên giao
thức IP sẽ mang lại cho khách hàng nhiều dịch vụ mới với tính linh hoạt và đa
dụng cao hơn. Tuy nhiên, khách hàng cũng đòi hỏi các dịch vụ mới trên nền
NGN phải đáp ứng được QoS và các đặc tính của môt mạng thông minh như họ
đã có ở mạng PSTN như đô tin cậy, đô khả dụng, an toàn và chất lượng dịch vụ.
Do đó, có thể nhận thấy rằng trong tương lai gần, hạ tầng mạng PSTN truyền
thông không thể bị thay thế môt cách tức thì, vì thế mạng NGN phải được tính
đến sự tương thích với môi trường của các mạng có sẵn. Do vậy, việc kết nôi
giữa mạng NGN và mạng PSTN truyền thông là môt vấn đề rất đáng quan tâm.
Để đáp ứng các yêu cầu của thị trường thì phải có môt kiến trúc báo hiệu
mới cho phép người sử dụng có thể tiếp cận với các đặc điểm tích cực của cả hai
mạng NGN và PSTN. Kiến trúc này sẽ phải dựa nhiều vào các gateway giữa
mạng IN. Những dịch vụ giá trị gia tăng này gồm: di đông sô nôi hạt (LNP –
local number portability), chuyển tiếp cuôc gọi, nhận dạng chủ gọi, định tuyến
cuôc gọi... Những đặc điểm miêu tả trên liên quan đến mạng báo hiệu trung kế
(liên đài). PSTN cũng có thể thông tin trực tiếp với các thuê bao được kết nôi từ
xa tới các mạng truy nhập mà đựơc nôi với PSTN thông qua các giao thức truy
nhập như V5.2, GR – 303... Các thuê bao được kết nôi tới mạng truy nhập cũng
có thể có được các đặc tính và dịch vụ giá trị gia tăng như các thuê bao được kết
nôi trực tiếp tới mạng PSTN thông qua các trung kế PRI.
Mạng truy nhập trở nên quan trọng trong công nghiệp viễn thông với sự bãi
bỏ các quy định. Xuất hiện yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải có được các
giao diện với môt sô lượng lớn các giao thức chuẩn. Đó là những bước quan
xviii
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
trọng đầu tiên để tiến tới môt mạng kiến trúc mở. Những dịch vụ này là những
yêu cầu cơ bản của bất cứ mạng hiện đại nào, bao gồm cả mạng thế hệ mới.
Các cuôc gọi thoại qua PSTN là trên cơ sở chuyển mạch kênh, có nghĩa là
môt kênh truyền dẫn từ đầu cuôi tới đầu cuôi dành riêng được mở qua mạng cho
mỗi cuôc gọi. Những kênh dành riêng này bao gồm môt đường vật lý từ thuê
bao đến tổng đài. Trên quan điểm đó, các bô ghép kênh sô được sử dụng để
tăng khả năng truyền dẫn . Các kênh dành riêng cho mỗi cuôc gọi thực hiện các
kỹ thuật ghép kênh phân chia theo thời gian TDMA hay phân chia theo tần sô
FDMA.
1.2.2 Báo hiệu trong mạng IP
Ngược lại với mạng chuyển mạch kênh PSTN, mạng IP là môt mạng phân
Trong mạng IP, thông tin báo hiệu được truyền giữa các phần tử chức năng
sau:
- Media Gateway: môt MG sẽ kết cuôi các cuôc gọi thoại trên các trung kế
liên đài từ mạng PSTN, nén và đóng gói dữ liệu, và phân phát các gói tin này
trên mạng IP. Đôi với các cuôc gọi xuất phát từ mạng IP, MG thực hiện những
chức năng này theo thứ tự ngược lại. Đôi với các cuôc gọi ISDN từ mạng PSTN,
thông tin báo hiệu chuẩn Q.931 được truyền từ MG tới MGC để xử lý.
- Media Gateway Controller: môt MGC thực hiện việc đăng ký và quản lý
các tài nguyên tại các MG. Môt MGC trao đổi các bản tin ISUP với các tổng đài
trung tâm thông qua các SG.
- Signalling Gateway: môt SG cung cấp sự kết nôi trong suôt giữa mạng IP
và mạng chuyển mạch gói. Môt SG có thể nhận hay biên dịch và chuyển tiếp tín
hiệu báo hiệu SS7 qua mạng IP tới môt MGC hay tới các SG khác. Bởi vì tầm
quan trọng của nó trong mạng, các SG thường được triển khai thành nhóm hai
hoặc ba để đảm bảo đô dự phòng cao.
Hình 1.2 Các phần tử chủ yếu trong mạng NGN
xx
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
1.2.3 Kết nối báo hiệu giữa mạng PSTN và mạng IP
Như đã thấy ở trên, chúng ta thấy rằng Signalling Gateway báo hiệu chính
là câu trả lời cho thách thức về việc kết nôi giữa mạng IP và mạng PSTN. SG
cung cấp sự kết nôi trong suôt giữa mạng IP và mạng chuyển mạch gói. Môt SG
có thể nhận hay biên dịch và chuyển tiếp tín hiệu báo hiệu SS7 qua mạng IP tới
của mình đã đem lại cho người sử dụng nhiều tiện ích như nâng cao chất lượng
dịch vụ, đô tin cậy và các dịch vụ mới…, cũng như đã và đang đem đến cho các
nhà khai thác và quản lý mạng những khoản lợi nhuận khổng lồ.
Gần đây, IP đã nổi lên như là môt sự thay thế hiệu quả và chi phí thấp cho
hệ thông SS7 trong việc truyền tải thông tin báo hiệu trong mạng thế hệ mới
NGN, cho phép các nhà khai thác mạng quản lý sự tăng trưởng và giảm chi phí
trong khi vẫn thỏa mãn các nhu cầu về các dịch vụ mới của khách hàng. Sử dụng
IP như là môt cơ chế truyền tải báo hiệu cho phép hệ thông mạng đáp ứng được
với sự bùng nổ nhu cầu về băng thông tạo ra bởi ứng dụng mới. Tại cùng môt
thời điểm, IP là môt sự lựa chọn hiệu quả hơn báo hiệu sô 7 truyền thông, cho
phép các nhà cung cấp dịch vụ tôi đa hoá lợi nhuận của họ.
Tuy nhiên, như đã đề cập ở chương trước, trong quá trình phát triển lên
mạng NGN, vì nhiều lý do kỹ thuật và kinh tế mà chúng ta không thể ngay lập
xxii
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc
Môc lôc
tức thay thế và loại bỏ cơ sở hạ tầng mạng hiện tại. Triển khai mạng NGN,
chúng ta phải tiến hành từng bước, và phải tính đến việc tương thích với mạng
hiện tại. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta không thể thay thế ngay báo hiệu
SS7 bằng công nghệ IP mà phải tính đến môt giải pháp cho phép truyền tải báo
hiệu sô 7 trên nền mạng mới – trên nền IP.
Trước khi xem xét kỹ vấn đề truyền tải báo hiệu sô 7 qua mạng NGN,
chương này được dành để tìm hiểu những vấn đề tổng quan và cơ bản nhất của
hệ thông báo hiệu sô 7.
2.1 Giới thiệu chung về báo hiệu và hệ thống báo hiệu số 7
Trong mạng viễn thông, báo hiệu được coi là môt phương tiện để chuyển
gian này, mô hình tham chiếu các hệ thông mở OSI cũng đã được phát triển
tương đôi hoàn chỉnh và được áp dụng cho báo hiệu sô 7.
Hệ thông báo hiệu sô 7 được thiết kế không những chỉ cho điều khiển thiết
lập, giám sát các cuôc gọi điện thoại mà cả các dịch vụ phi thoại, với các ưu
điểm sau đây :
Tôc đô cao : thời gian thiết lập gọi giảm đến nhỏ hơn 1s trong hầu hết
các trường hợp.
Dung lượng lớn : mỗi đường báo hiệu có thể mang báo hiệu cho đến
vài trăm cuôc gọi đồng thời.
Đô tin cậy cao : bằng cách sử dụng các tuyến dự phòng, mạng báo
hiệu có thể hoạt đông với đô tin cậy cao.
Tính kinh tế : so với hệ thông báo hiệu truyền thông, hệ thông báo hiệu
sô 7 cần rất ít thiết bị báo hiệu.
Tính mềm dẻo : hệ thông gồm rất nhiều tín hiệu, do vậy có thể sử dụng
cho nhiều mục đích khác nhau, đáp ứng được với sự phát triển của
mạng trong tương lai.
2.2 Cấu trúc hệ thống mạng báo hiệu số 7
2.2.1 Các thành phần chính của mạng báo hiệu số 7
2.2.1.1 Điểm báo hiệu (Signalling Points)
Mạng báo hiệu sô 7 hoạt đông song song với mạng truyền tải. Kiến trúc
mạng báo hiệu sô 7 định nghĩa ba tập các node gọi là các điểm báo hiệu (SPs),
được kết nôi với nhau bởi các tuyến báo hiệu. Mỗi môt điểm báo hiệu SP được
phân biệt với nhau bởi môt mã điểm báo hiệu nhị phân duy nhất. Tuỳ theo vị trí
của nó có thể là mã điểm gôc OPC (Originating Point Code) hay mã điểm đích
DPC (Destination Point Code).
xxiv
§å ¸n tèt nghiÖp §¹i häc