BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẢI YẾN
THI PH¸P TRUYÖN NG¾N NGUYÔN MINH CH¢U
QUA HAI GIAI §O¹N S¸NG T¸C TR¦íC Vµ SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẢI YẾN
THI PH¸P TRUYÖN NG¾N NGUYÔN MINH CH¢U
QUA HAI GIAI §O¹N S¸NG T¸C TR¦íC Vµ SAU 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2012
2.1. Sự thống nhất với những tìm tòi chung của nền truyện ngắn cách mạng..........56
2.1.1. Sự thống nhất ở cảm hứng ngợi ca, cổ vũ..................................................56
2
Văn học sau 1954 chủ yếu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ trên lập trường
dân tộc dân chủ và CNXH. Công cuộc xây dựng CNXH khó khăn phức tạp nhưng
chan chứa sức sống và niềm vui, đã khơi dậy được cảm hứng và thu hút được lực
lượng sáng tạo của nhiều thế hệ người cầm bút. Quá trình thâm nhập thực tế đã
giúp cho các nhà văn phát hiện những vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới.
Trước những vấn đề cụ thể của CNXH đã có nhiều tác phẩm khẳng định được cái
mới như tác giả Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Hồ Phương... trong đó tác phẩm Cỏ non
của Hồ Phương xuất hiện năm 1960 là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho
hướng sáng tác khẳng định ngợi ca cuộc sống mới, con người mới.....................56
Hòa chung trong sự thống nhất ở cảm hứng ngợi ca cổ vũ của truyện ngắn sau
1954, bên cạnh các nhà văn đi vào mảng ca ngợi cuộc sống mới theo con đường
XHCN nhiều cây bút truyện ngắn đã đứng trên lập trường kháng chiến để tuyên
truyền, cổ vũ chiến đấu. Họ luôn bám sát hiện thực để phản ánh, ngợi ca, cổ vũ
kịp thời cho sự nghiệp chiến đấu trên chiến trường. Những tác giả như Nguyễn
Trung Thành, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi... đã thể hiện được tinh thần yêu
nước của con người Việt Nam. Qua tác phẩm của mình, các nhà văn đã tập trung
vào ngợi ca những con người đã chiến đấu vì tổ quốc, những con người đang
đứng trong thực tại đau thương đầy gian khổ mà vẫn luôn hướng đến tương lai,
tin tưởng đất nước sẽ có ngày được hòa bình. Trong đội ngũ những nhà văn ấy có
Nguyễn Minh Châu..............................................................................................56
Là nhà văn quân đội, tham gia trên các chiến trường, Nguyễn Minh Châu đã
chứng kiến và thấu hiểu về tâm tư, tình cảm của những người lính nên trong tác
phẩm của mình nhà văn đã phản ánh một cách chân thực và đầy đủ. Cảm hứng sử
chiến trường, viết về những người chiến sỹ tham gia cách mạng, nhà văn đã ngợi
ca khẳng định các nhân vật anh hùng không phải là nhân danh cá nhân mà là nhân
danh cộng đồng....................................................................................................58
2.1.2. Thống nhất ở cái nhìn lạc quan về cuộc sống.............................................58
2.1.3. Thống nhất ở sự ưu tiên cho những đề tài lớn............................................62
4
2.2. Những dấu ấn riêng của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu................................64
2.2.1. Quan tâm đi tìm “những hạt ngọc ẩn dấu ở bề sâu tâm hồn con người”.....64
2.2.2. Cấu tứ chặt chẽ...........................................................................................67
2.2.3. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm.....................................................................70
2.3. Những hạn chế về thi pháp của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975...73
2.3.1. Thiếu những bứt phá về cấu trúc................................................................73
2.3.2. “Chất thơ” lấn át “chất văn xuôi”...............................................................77
Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI CỦA THI PHÁP TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975.............................................................................................................................81
3.1. Đổi mới trong quan niệm về con người, về nghệ thuật.....................................81
3.1.1. Đổi mới quan niệm về con người...............................................................81
3.1.2. Một quan niệm cách tân về nghệ thuật.......................................................86
3.2. Đổi mới trong việc thể hiện những vấn đề gai góc của đời sống.......................89
3.2.1. Nhận thức lại những vấn đề lớn của cuộc sống..........................................89
3.2.2. Nhìn nhận con người trong nhiều chiều kích............................................104
3.2.3. Sự khám phá các nghịch lý của đời sống..................................................112
3.3. Đổi mới trong nghệ thuật kết cấu, xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn ngữ,
giọng điệu..............................................................................................................119
3.3.1. Kết cấu luận đề.........................................................................................119
3.3.2. Việc xây dựng những nhân vật dị thường................................................124
1.3. Không phải nhà văn có tên tuổi nào cũng có duyên với trường học.
Bằng tài năng của mình, Nguyễn Minh Châu đã chiếm được tình cảm và thực
sự có duyên với nhà trường, với học sinh phổ thông khi tác phẩm truyện ngắn
của ông được đưa vào giảng dạy ở cả hai cấp học. Ở cấp trung học cơ sở với
2
tác phẩm Bức tranh và tác phẩm Bến quê, cấp trung học phổ thông với
tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Mảnh trăng cuối rừng. Đó đều là
những tác phẩm tiêu biểu cho cả hai giai đoạn sáng tác của ông. Tìm hiểu đề
tài này chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cái nhìn hệ thống về thi pháp
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng tác trước 1975 và sau
1975 để góp phần vào việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn được tốt hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Gần ba mươi năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã gặt hái được một số
thành công nhất định trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình ở các thể
loại: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình… Riêng đối với
thể loại truyện ngắn, tác phẩm của ông đã thực sự trở thành “mảnh đất màu
mỡ” cho giới nghiên cứu, phê bình.
Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về con người và nghiệp văn
của ông như: công trình nghiên cứu khoa học của Tôn Phương Lan về Phong
cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học Xã hội, 2002;
Nguyễn Minh Châu - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2007;
Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - Tác phẩm và lời bình”, Nxb
Văn học, 2007, Nguyễn Minh Châu - Tài năng sáng tạo nghệ
thuật, Nxb Văn hoá Thông tin, 2001... Trong những bài viết và công trình
nghiên cứu kể trên, chúng tôi chú ý những ý kiến đi sâu vào truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu. Trước hết là những nhận xét, đánh giá chung về quá
trình sáng tác truyện ngắn của ông.
N. Ni-cu-lin trong bài Về Nguyễn Minh Châu và sáng tác của
Với những ý kiến và nhận xét trên có thể thấy truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu thực sự là mảnh đất đầy hứa hẹn để bạn đọc và giới nghiên cứu
quan tâm, đi sâu “cày xới”. Tác giả Mai Hương trong bài viết Nguyễn
Minh Châu và di sản văn học của ông đã nhận định: “Ông là cây
4
bút tiêu biểu của văn xuôi chống Mỹ, đồng thời cũng là người mở đường
“tinh anh và tài năng”, người đã “đi được xa nhất” trong cao trào đổi mới
của văn học Việt Nam đương đại [29]. Với lời nhận định trên có thể thấy
Nguyễn Minh Châu là một trong số ít nhà văn tiêu biểu cho cả hai giai
đoạn văn học trước và sau 1975.
Giai đoạn sáng tác trước 1975 hay nói đúng hơn là những sáng tác viết
trong chiến tranh của ông từng là những bức tranh hiện thực sinh động về con
người và cuộc sống của nhân dân ta trong những năm chống Mỹ. Ở giai đoạn
này ông nổi lên với những tiểu thuyết: Cửa sông, Dấu chân người lính,
… Truyện ngắn của ông giai đoàn này chưa được đánh giá cao nhưng bước
đầu đã được giới nghiên cứu nhận định là có nhiều triển vọng, cụ thể:
Trong bài Sự ra đi của một tài năng, Tác phẩm văn học số 2
- 1989, tác giả Mai Ngữ khi nói về những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn
Minh Châu đã đưa ra nhận xét: “Nguyễn Minh Châu bắt đầu nổi lên từ cuốn
tiểu thuyết Cửa sông nhưng trước đó không ít năm, anh vào nghề bằng
những truyện ngắn và anh đã thất bại về những truyện ngắn ấy nhưng điều
không ai ngờ là chính cái thể loại đầu tiên đã làm anh thất vọng ấy về cuối đời
đã làm rực rỡ tên tuổi của anh: [30, 28].
Hai tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá trong bài viết Hướng
đi triển vọng của Nguyễn Minh Châu, báo Văn nghệ số 364 - 1970
đã chỉ ra một số hạn chế trong sáng tác của ông nhưng vẫn tin tưởng rằng:
“Nguyễn Minh Châu rồi đây sẽ có thể cống hiến cho độc giả những tác phẩm
ngày càng tốt hơn, sâu sắc và vang dội hơn nữa” [27, 59]. Tôn Phương Lan
cây bút tài năng” [30, 29].
Nguyễn Trung Thu trong bài Nhà văn Nguyễn Minh Châu khi
khái quát quá trình sáng tác của ông ở giai đoạn sau 1975 đã nhận xét: “những
năm tám mươi là thời kỳ Nguyễn Minh Châu chủ yếu tập trung vào viết
6
truyện ngắn, bộc lộ sự chuyển biến đổi mới rõ rệt cả về tư tưởng và nghệ
thuật” [30, 18]. Còn tác giả Lại Nguyên Ân trong bài Những sáng tác
gần đây của Nguyễn Minh Châu, Tạp chí văn học, số 3 - 1987 lưu
ý: “Ở thể truyện ngắn, nhà văn như đang cố sức chuyển những tương quan
lớn của các đời sống bên ngoài vào đời sống bên trong của một vài con người
cụ thể… và cái điều vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm này ở ngòi bút anh chỉ
“tố cáo” một điều: trước sau anh vẫn là nhà văn của những tình cảm cao cả…
của những tình thế, những vấn đề con người” [2].
Trong bài Nhớ về một nhà văn tài năng và tâm huyết, báo
Văn nghệ số 7- 1990 tác giả Nguyên Ngọc nhận thấy vị trí đặc biệt của
Nguyễn Minh Châu trong một giai đoạn văn học đang có những sự chuyển
động rất phong phú, sâu sắc và phức tạp, tác giả khẳng định: “Nguyễn Minh
Châu là người đi được xa nhất… Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn
mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” [30, 10 - 11].
Từ góc nhìn thi pháp, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã được các
nhà nghiên cứu, phê bình tiếp cận, nhìn nhận ở nhiều phương diện và đã có
những nhận xét, đánh giá khác nhau:
Trong bài Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựng
truyện ngắn, tạp chí Nhà văn số 7 - 2000, tác giả Trịnh Thu Tuyết đã
khảo sát một vài thủ pháp nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu và đi đến kết luận: “Nguyễn Minh Châu đã sử dụng chúng một cách đắc
địa với xuất phát điểm là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người để
tạo nên những nhân vật có khả năng “đóng gim” lại trong trí nhớ độc giả” [27,
quê là một truyện ngắn có thi pháp độc đáo… yếu tố thi pháp nổi nhất trong
truyện ngày là không gian nghệ thuật… các yếu tố khác của thi pháp như thời
gian nghệ thuật, hệ thống nhân vật, chi tiết nghệ thuật… là các yếu tố cộng
8
hưởng tạo một không gian độc đáo gắn liền với vận mệnh tinh thần văn hoá
của nhân vật chính: anh Nhĩ” [27, 194].
Nguyễn Thanh Hùng khi bàn về Cái đẹp và cái hay của Mảnh
trăng cuối rừng, tạp chí Văn nghệ quân đội, số 1 - 1994 đã viết: “nên
quan tâm đến thi pháp kể và hãy bắt đầu với phương thức kể… mỗi yếu tố thi
pháp trong phương thức kể đều thể hiện kết quả tìm tòi nghệ thuật đầy sáng
tạo của Nguyễn Minh Châu [28].
Cùng bàn về Vẻ đẹp Mảnh trăng cuối rừng tác giả Nguyễn Văn
Long lại đi vào nhấn mạnh tựa đề của tác phẩm, theo tác giả: “Đọc vào
truyện, mới càng thấy là Nguyễn Minh Châu đã tìm cho truyện một cái tựa
đề đích đáng, không rõ cái tên ấy đến trước hay chỉ đến sau khi truyện đã
hoàn thành, nhưng nó đã có như là không thể nào khác được, không thể nào
đúng hơn” [44, 149].
Quan tâm đến vấn đề thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
chúng tôi đã được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của những người đi
trước. Với đề tài "Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai
đoạn sáng tác trước và sau 1975" chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cái
nhìn bao quát hơn về tài năng cũng như đóng góp của nhà văn đối với nền
văn học nước nhà.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng tác
trước 1975 và sau 1975.
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong nền
truyện ngắn các mạng Việt Nam sau 1954
10
Chương 2.
Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu trước 1975
Chương 3.
Sự đổi mới của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975
Chương 1
VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
TRONG NỀN TRUYỆN NGẮN CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU 1954
1.1. Những điều kiện sáng tạo có tính đặc thù của truyện ngắn cách
mạng Việt Nam sau 1954
1.1.1. Điều kiện chính trị - xã hội
Sau hiệp định Giơnevơ 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắt
đầu cuộc sống lao động, khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh và bắt
tay vào xây dựng CNXH đồng thời làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến
miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong quá trình tiến lên CNXH
chúng ta đã gặp không ít khó khăn bởi gánh nặng của lối làm ăn nhỏ, phân tán
và những di hại của chiến tranh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của
Đảng (9/1960) đã vạch rõ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam
lúc này là tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam
trở, khó khăn. Truyện ngắn trước 1945 không những có giá trị to lớn về mặt
nội dung, xây dựng nên một bức tranh muôn mặt, đa dạng về hiện thực xã hội
đương thời mà còn đạt được những thành tựu rất to lớn về mặt nghệ thuật.
Các cây bút có tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Vũ
Trọng Phụng... đã có nhiều cách tân mới mẻ về mặt thể loại.
Sau 1945 truyện ngắn cũng đã gặt hái được nhiều thành công. Ở giai
đoạn này sáng tạo nghệ thuật đối với các nhà văn là nhằm để nâng cao đời
12
sống tinh thần, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho nhân dân để cổ vũ sức
người, sức của cho kháng chiến. Quan niệm văn nghệ hướng về đại chúng đã
giúp cho nền văn nghệ chúng ta phát hiện, bồi dưỡng những người cầm bút
trưởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng, đặc biệt là các lực lượng
sáng tác trong quân đội.
Đường lối văn nghệ của Đảng đòi hỏi các nghệ sỹ phải bám sát với
thực tiễn cuộc sống của nhân dân. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng đều
đặt ra những yêu cầu cụ thể cho văn nghệ sỹ. Sau cách mạng tháng Tám và
cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng nhấn mạnh lập trường dân tộc, dân
chủ nhân dân và lập trường kháng chiến, yêu cầu văn nghệ sỹ sáng tác phục
vụ cuộc chiến đấu theo phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng. Nhưng
từ khi miền Bắc được giải phóng bước vào xây dựng cách mạng xã hội thì
yêu cầu của người cầm bút phải đặt cao hơn: yêu nước gắn liền với CNXH,
tác phẩm phải đạt tới tính Đảng và phải được sáng tác theo phương pháp
hiện thực XHCN.
Để đạt tới sự thống nhất nói trên, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc rèn
luyện, bồi dưỡng tư tưởng cho văn nghệ sỹ. Thông qua những cuộc đấu tranh
tư tưởng, những cuộc học tập chính trị và những cuộc đi thực tế để “cách mạng
hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” và cứ sau mỗi đợt đi thực tế như vậy
nền văn học thường gặt hái được nhiều tác phẩm mới phù hợp với thực tiễn đời
truyện ngắn sáng tác theo nhiều khuynh hướng khác nhau đã làm nên một
diện mạo đa dạng, phong phú cho văn học giai đoạn này. Tên tuổi của những
nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài,
Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Khái Hưng, Thạch Lam,... mãi mãi được in đậm
trong lịch sử văn học.
Sau 1954, số cây bút truyện ngắn thành danh trước cách mạng vẫn tiếp
tục sáng tác còn lại không nhiều lắm, tuy vậy, họ luôn được vị nể và có những
14
sáng tác mới có giá trị. Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Khái Hưng, Nam
Cao,... đã mất nhưng những tác giả như Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển,
Kim Lân vẫn viết đều, viết khỏe. Chính họ đã tạo được một chiếc cầu nối
giữa truyện ngắn của giai đoạn trước với truyện ngắn của giai đoạn này. Từng
người một đều có những biến đối để thích ứng với thời đại văn học mới, với
quan điểm sáng tác mới hướng về đại chúng, phục vụ sát sườn, kịp thời cho
những mục tiêu cách mạng. Trong số sáng tác của thế hệ nhà văn này, có
những tác phẩm xứng đáng được xem là kiệt tác như Làng, Vợ nhặt của Kim
Lân. Một số tác phẩm của Bùi Hiển cũng được xem là những truyện ngắn
mẫu mực, thể hiện một kỹ thuật viết già dặn.
1.2.1.2. Đội ngũ các cây bút truyện ngắn trưởng thành từ kháng chiến
chống Pháp
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bước ngoặt vĩ đại
trong lịch sử dân tộc ta. Nhưng liền sau đó, đất nước ta, nhân dân ta bước vào
một cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm gian khổ. Trong bối cảnh của cách
mạng và chiến tranh, văn học nghệ thuật được coi là một mặt trận bên cạnh
các mặt trận kinh tế, chính trị. Mỗi nhà văn được tôn vinh là một chiến sĩ
trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do. Với phương châm “dân tộc hóa và đại
chúng hóa” lần đầu tiên nền văn học kháng chiến phát triển với một đội ngũ
văn nghệ sỹ kiểu mới đứng bên cạnh các nhà văn thuộc thế hệ trước cách
văn học trước năm 1945 ở tính nhân dân và tinh thần dân chủ. Sáng tạo nghệ
thuật đối với họ là nhằm để góp phần nâng cao đời sống tinh thần, bồi dưỡng
tâm hồn, tình cảm cho nhân dân để cổ vũ động viên sức người, sức của cho
kháng chiến. Cũng chính với quan niệm văn nghệ hướng về đại chúng đã giúp
cho nền văn nghệ chúng ta phát hiện, bồi dưỡng những người cầm bút trưởng
thành từ phong trào văn nghệ quần chúng, đặc biệt là các lực lượng sáng tác
trong quân đội.
16
Những năm sau 1954 là thời kỳ sáng tác sung sức của thế hệ nhà văn
này. Nếu trong thời kháng chiến chống Pháp, thành tựu của họ còn mỏng và
thưa thớt thì đến bây giờ, những sáng tác của họ là bộ phận quan trọng bậc
nhất làm nên thành tựu của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ mới. Cỏ non của
Hồ Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Rẻo cao của Nguyên Ngọc... luôn
được nhắc tới như những thành tựu nổi bật của thế hệ nhà văn vốn đã có chút
ít vốn liếng văn học hình thành trong kháng chiến chống Pháp.
1.2.1.3. Đội ngũ các cây bút truyện ngắn trưởng thành từ cuộc kháng
chiến chống Mỹ
Cuộc sống sau 1954 chuyển sang một bước ngoặt mới đã tạo những
tiền đề khách quan cho sáng tác văn học. Lớp nhà văn xuất hiện và trưởng
thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp nay đã định hình và đóng vai
trò chủ chốt trong đời sống văn học. Trước đây do yêu cầu của thực tế và khả
năng của nhà văn nên truyện ngắn chỉ tập trung vào một số những đề tài chủ
yếu thì bây giờ trong điều kiện mới nhà văn đã có thể vươn lên xây dựng
những bức tranh cuộc sống rộng rãi, nhiều vẻ và sự mở rộng phạm vi đề tài đã
thu hút được nhiều cây bút.
Nếu trong thời kỳ chống Pháp địa bàn hoạt động của văn học cách mạng
thu hẹp ở một số vùng tự do ở nông thôn và rừng núi, đội ngũ nhà văn chuyên
nghiệp mỏng manh, thì đến giai đoạn chống Mỹ văn học đã có một sự chuyển
cuộc đấu tranh giữa hai con đường đang diễn ra quyết liệt, đa dạng ở nông thôn
từ mà còn giải quyết được nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn trong quá
trình đưa nông thông từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, chuyển người nông dân
từ vị trí làm chủ cá thể sang cương vị làm chủ tập thể.
Có thể nói công cuộc xây dựng CNXH diễn ra sôi nổi trên mọi lĩnh vực
của đời sống, ở khắp mọi miền của Tổ quốc, vì vậy các nhà văn có nhiều điều
kiện và khả năng để mở rộng vấn đề và phạm vi phản ánh. Những vấn đề về
18
nhà máy, hầm mỏ, nông trường … được xem là những loại đề tài mới và lớn
đối với các nhà văn.
Yêu cầu thể hiện tính chất gắn bó ruột thịt Bắc - Nam và niềm mong
muốn thống nhất nước nhà của toàn dân đã được nhiều nhà văn quan tâm
phản ánh. Giai đoạn này bên cạnh những sáng tác viết về miền Nam và kháng
chiến chống Pháp thì một số tác phẩm đã đi thẳng vào cuộc sống của nhân
dân miền Nam dưới ách Mỹ - Diệm và phong trào đấu tranh đòi thống nhất
đất nước. Những truyện ngắn của Giang Nam, Phan Tứ và nhiều tác giả khác
đã thể hiện được tấm lòng kiên trinh, thủy chung với cách mạng của nhân dân
miền Nam trong những năm còn sống dưới ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy. Các
tác phẩm đã phản ánh được khí thế vùng lên của miền Nam trong những ngày
đồng khởi, sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng của cách mạng miền Nam và
bộ mặt bối rối, hoang mang của kẻ thù. Một số tác giả đã bắt đầu chú ý tới sự
chuyển động bên trong con người nên đã xây dựng được nhân vật có chiều
sâu nội tâm và sự vận động để phù hợp với quá trình phát triển của đời sống.
1.2.2.2. Khám phá chân dung tinh thần con người Việt Nam trong thời
đại cách mạng
Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, khi ý thức kháng chiến đã thành
một nếp sống, khi hiện thực phản ánh đã chuyển thành vốn sống của các nhà
văn, để phản ánh đời sống xã hội lịch sử và hướng vào thể hiện quần chúng
cách nhìn đúng. Từ cách nhìn đó đã làm chuyển biến tình cảm cũng như cách
nhìn đưa tác phẩm đi vào quỹ đạo với sự miêu tả con người trong bản sắc giai
cấp và lịch sử của đời họ.
1.2.3. Sự hoàn thiện thi pháp thể loại và hình thành một phong cách
thời đại trong truyện ngắn
1.2.3.1. Sự hoàn thiện thi pháp thể loại trên các phương diện cấu tứ,
xây dựng nhân vật và ngôn ngữ