Bộ giáo dục và đào tạo
Trườngưđạiưhọcưvinh
--------------
Mai huy chung
S DNG HOT NG KHM PH
DY - HC PHN SINH HC VI SINH VT
BC TRUNG HC PH THễNG
Chuyên ngành: lý luận và phơng pháp dạy học
Mã số: 60.14.10
Luận văn thạc sĩ sinh học
Ngườiưhướngưdẫnưkhoaưhọc: TS. Phan đức duy
Vinh - 2010
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và đã được cho phép của các tác giả.
Tác giả luận văn
Mai Huy Chung
5
: Tỷ lệ
TN
: Thực nghiệm
PPDH : Phương pháp dạy học
TLCH : Trả lời câu hỏi
PHT
: Phiếu học tập
SĐ
: Sơ đồ
SG
: Sách giáo khoa
HĐKP : Hoạt động khám phá
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
1.2.1. Thực trạng dạy - học Sinh học ở một số trường Trung học phổ thông trong
Tỉnh Bà rịa - Vũng tàu...................................................................................19
1.2.2. Đặc điểm nội dung kiến thức phần “Sinh học Vi sinh vật” bậc THPT.21
CHƯƠNG 2. SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ ĐỂ DẠY - HỌC
PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.....24
2.1. Đặc điểm nội dung phần sinh học vi sinh vật bậc THPT.......................24
2.1.1. Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học bậc THPT.........................24
2.1.2. Cấu trúc và nội dung phần Vi sinh vật lớp 10 bậc THPT........................25
2.1.3. Cấu trúc, nội dung từng bài trong phần Vi sinh vật lớp 10 THPT...................28
2.1.4. Đánh giá về cấu trúc, nội dung phần Vi sinh vật bậc THPT......................28
2.2. Hệ thống HĐKP để dạy – học phần Sinh học Vi sinh vật bậcTHPT…. 30
2.2.1. Dạng hoạt động trả lời câu hỏi...............................................................30
2.2.2. Dạng hoạt động dạng điền từ, điền bảng, điền sơ đồ câm....................33
2.2.3. Dạng hoạt động phân tích biểu bảng, sơ đồ............................................36
2.2.4. Dạng hoạt động tranh luận về một vấn đề............................................38
2.2.5. Dạng hoạt động xử lí tình huống.........................................................40
2.3. Quy trình sử dụng HĐKP để dạy – học phần Sinh học VSV.................41
2.3.1. Quy trình chung...................................................................................41
2.3.2. Sử dụng HĐKP để dạy - học phần Vi sinh vật bậc THPT..................42
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM..................................................49
3.1. Mục đích thực nghiêm............................................................................49
3.2. Phương pháp thực nghiệm......................................................................49
3.3. Kết quả thực nghiệm..............................................................................50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................59
PHỤ LỤC......................................................................................................P1
9
phương pháp dạy học còn rất chậm. Giáo viên chưa chủ động trong việc vận dụng
10
phương pháp dạy học tích cực, vẫn còn phổ biến phương pháp truyền thống, thuyết
trình giảng giải xen kẻ với vấn đáp tái hiện, biểu diễn trực quan minh hoạ. Việc
vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực ở giáo viên chưa nhiều, chủ
yếu là trong các giờ thao giảng, các tiết dạy thi giáo viên giỏi.
Phần Sinh học Vi sinh vật với đối tượng nghiên cứu là những sinh vật có
kích thước nhỏ bé; hấp thụ nhiều, chuyển hóa nhanh; sinh trưởng và phát triển
mạnh; có năng lực thích ứng và dễ dàng phát sinh biến dị; phân bố rộng, chủng
loại nhiều; là sinh vật xuất hiện đầu tiên trên trái đất. Do tính đặc thù của nội dung
kiến thức, giáo viên giảng dạy phần này chủ yếu bằng phương pháp thông báo, giải
thích, minh họa.. Một phần vì nó quá trừu tượng, khó hiểu, một phần vì giáo viên
chưa biết cách tổ chức các hoạt động trong quá trình dạy học. Cho nên, hiệu quả
của việc dạy học không đạt được như mong muốn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng hoạt động
khám phá để dạy - học phần Sinh học Vi sinh vật bậc Trung học phổ thông”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng các hoạt động khám phá nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần Sinh học Vi sinh vật bậc Trung học phổ thông.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động khám phá để dạy - học phần Sinh học Vi sinh vật bậc Trung học
phổ thông.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng, cải tiến và sử dụng hợp lý các hoạt động khám phá, phù hợp với
mục tiêu, nội dung và kích thích được tính tích cực nhận thức của học sinh sẽ góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, năng lực tự học và tự giải quyết vấn đề
của học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiến hành thực nghiệm bằng phương pháp thực nghiệm chéo ở 2 trường
Trung học phổ thông, mỗi trường chọn 1 lớp thực nghiệm, 1 lớp đối chứng có số
lượng, chất lượng tương đương nhau.
+ Ở lớp thực nghiệm, giáo án thiết kế theo hướng sử dụng các hoạt động
khám phá.
+ Ở lớp đối chứng, giáo án được thiết kế theo phương pháp dạy học truyền
thống.
- Các lớp thực nghiệm và đối chứng ở mỗi trường do một GV giảng dạy, đồng
đều về thời gian, nội dung kiến thức, điều kiện dạy học và hệ thống câu hỏi đánh
giá sau mỗi tiết học.
- Trong quá trình thực nghiệm, có thảo luận với giáo viên bộ môn ở các trường
để thống nhất nội dung và phương pháp giảng dạy.
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí các kết quả điều tra và thực nghiệm
sư phạm:
- Phần trăm (%)
- Trung bình cộng:
X =
1
n
∑X n
i i
12
Khi có hai số trung bình cộng khác nhau, độ lệch chuẩn khác nhau thì phải xét
đến hệ số biến thiên (Cv).
+ Cv=0-10%
: Dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
+ Cv=10-30%
: Dao động trung bình.
+ Cv=30-100% : Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ.
- Kiểm định độ tin cậy sai khác giữa 2 giá trị trung bình:
X1 − X 2
td =
S12 S 22
+
n1 n2
Trong đó:
Xi: Giá trị của từng điểm số (theo thang điểm 10).
ni: Số bài có điểm Xi.
X 1 , X 2 : Điểm số trung bình của 2 phương án: thực nghiệm và đối chứng.
n1, n2: Số bài trong mỗi phương án.
S12 và S 22 là phương sai của mỗi phương án.
Sau khi tính được td, ta so sánh với giá trị tα được tra trong bảng phân phối
Studen với mức ý nghĩa α =0,05 và bậc tự do f= n1+n2-2.
+ Nếu td ≥ tα: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là có ý nghĩa thống kê.
+ Nếu td < tα: Sự khác nhau giữa X 1 và X 2 là không có ý nghĩa thống kê.
7. Những đóng góp mới của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng các hoạt động
khám phá vào dạy - học Sinh học bậc Trung học phổ thông.
- Thiết kế các hoạt động khám phá phần Sinh học Vi sinh vật bậc Trung học phổ
thân, khả năng tìm tòi, sáng tạo ông đã đưa nhân loại đến với những phát kiến vĩ
đại.
Thế kỷ XII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực
nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép
GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”.
J.J.Rousseau (thế kỉ XVIII) là một nhà cải cách giáo dục người Pháp, ông
cho rằng: “Đối với phương pháp dạy học phải tìm hiểu đứa trẻ và tôn trọng khả
năng tự nhận thức của nó. Trẻ em phải tự khám phá ra kiến thức và được khêu gợi
tính tò mò tự nhiên”.
Năm 1903, lí thuyết hoạt động của A.N Leonchiev - nhà tâm lý học người
Nga - ra đời đặt nền móng cho quan niệm dạy học bằng các hoạt động khám phá.
Lí thuyết hoạt động đã được vận dụng để giải quyết hàng loạt vấn đề lí luận và
thực tiễn dạy học, trong đó chủ yếu là việc thiết kế và tổ chức các hoạt động học
15
tập cho người học. Vận dụng lí thuyết hoạt động vào dạy học được nhiều nhà giáo
dục học quan tâm nghiên cứu.
Quan điểm của Ferriere Jerome Bruner (Mỹ - 1915 ) là: phương pháp “bánh
đúc bày sàng” sẽ làm cho học sinh mất đi cơ hội tự mình suy nghĩ. Theo ông, ch ương trình hiện đại cần loại bỏ toàn bộ trừ những sự kiện cốt lõi và nên dành thời
gian cho việc dạy kỹ năng tư duy. Ông nghĩ rằng trí thông minh là “sự hoạt động
của các công cụ tư duy”. Nổi bật hơn là mô hình dạy học bằng các hoạt động khám
phá của ông. Mô hình này được đặc trưng bởi 4 yếu tố chủ yếu: Hoạt động tìm tòi,
khám phá của học sinh; cấu trúc tối ưu của nhận thức; cấu trúc của chương trình
dạy học và bản chất của sự thưởng phạt. Trong đó nêu bật vai trò của hoạt động
tìm tòi, khám phá của học sinh.
Ferriere Jerome Bruner rất có ảnh hưởng trong việc nghiên cứu học tập
khám phá. Ông cho rằng học tập khám phá là “lối tiếp cận dạy học mà qua đó, học
sinh tương tác với môi trường của họ, bằng cách khảo sát và sử dụng các đối tượng, giải đáp những thắc mắc và tranh luận hoặc là biểu diễn thí nghiệm”.
cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập. Ở Mĩ, phương pháp dạy học cá
nhân hóa bằng cách giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp phiếu hướng dẫn để học
sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực đã được tiến
hành tại một số trường thực nghiệm những năm 1970.
Những công trình nghiên cứu gần đây đều cho rằng: “Trong bối cảnh của sự
gia tăng nhanh lượng kiến thức, cần có kiểu dạy học chú trọng đến việc dạy cách
học hơn là việc dạy cái gì. Khi đó, người học sẽ thu được kết quả tốt hơn là nhớ
lại, nhắc lại các sự kiện. Muốn hình thành thói quen và kỹ năng này, cần sử dụng
những phương pháp dạy học cho phép người học suy nghĩ một cách độc lập, tìm
tòi dựa vào những phán đoán có lý” [2],[9],[19],[27].
Như vậy, trên thế giới quan niệm dạy học tự phát hiện đã được nhắc đến từ
lâu. Cũng từ lâu trong giáo dục đã xuất hiện các thuật ngữ “sự tự giáo dục”, “người tự giáo dục”.
1.1.1.2. Trong nước
Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm đào
tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những
năm 1960 và được quan tâm từ những năm 70-80 của thế kỉ XX, đặc biệt trong
thời gian gần đây, khi Đảng và nhà nước thấy được tầm quan trọng của đổi mới
17
phương pháp dạy học. Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học
tích cực như: Nguyễn Ngọc Quang, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Vũ Đức
Thâm, Nguyễn Dược, Nguyễn Bá Kim, Trần Kiều; Thái Duy Tuyên, Đỗ Đình
Hoan... Các phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu, áp dụng nhiều trong
đó phương pháp dạy học bằng các hoạt động khám phá là một hướng dạy học thu
hút được nhiều sự quan tâm của các nhà giáo dục. Có rất nhiều tác giả nghiên cứu
về phương pháp dạy học này như: Tác giả Nguyễn Thị Dung- Trường Cao đẳng sư
phạm Hà Nội có bài viết: Nâng cao năng lực tư duy của học sinh thông qua dạy
học khám phá (Tạp chí phát triển giáo dục, số 6 - Tháng 6 năm 2005); tác giả
hoạt động khám phá nói riêng trong dạy học Sinh học 1],[2],[5],[6],[7],[8],[9],[10],
[16],[18],[19],[21],[27].
Như vậy, việc nghiên cứu và sử dụng hoạt động khám phá trong dạy học đã
được chú ý từ rất sớm, nhưng hệ thống hoạt động khám phá ở các bộ môn nói
chung, môn Sinh học nói riêng đặc biệt là phần Sinh học Vi sinh vật còn nhiều hạn
chế. Vì vậy, việc thiết kế các hoạt động khám phá để tổ chức học sinh học tập là
hết sức cần thiết.
1.1.2. Khái niệm hoạt động và hoạt động khám phá trong học tập
1.1.2.1. Hoạt động là gì?
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:
Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và
cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người [15].
Về phương diện triết học, người ta quan niệm hoạt động là phương thức tồn
tại của con người trong thế giới. Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa
con người (chủ thể) và thế giới (đối tượng) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới
và con người [15].
Về mặt tâm lí học, hoạt động là tính tích cực bên trong (trí lực) và bên ngoài
(thể lực) của con người. Hoạt động được sinh ra từ nhu cầu và được điều chỉnh bởi
mục tiêu mà chủ thể nhận thức được. Hoạt động gắn liền với nhận thức và ý chí,
dựa hẳn vào chúng và không thể xảy ra nếu thiếu chúng [22].
1.1.2.2. Hoạt động khám phá trong học tập
19
- Hoạt động học tập là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp
hướng tới mục tiêu xác định của bài học.
- Nét bản chất của dạy học khám phá trong học tập là học sinh phải giành lấy
kiến thức qua tư duy độc lập, sáng tạo hoặc hoạt động thực hành.
[6],[9],[29].
1.1.3. Đặc điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá
Dạy học bằng các hoạt động khám phá là một phương pháp hoạt động thống
nhất giữa thầy và trò để giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung tiết học.
Trong đó giáo viên là người nêu vấn đề, học sinh hợp tác với nhau giải quyết vấn đề.
Dạy học khám phá là một hướng tiếp cận mới của dạy học giải quyết vấn đề
mà chúng ta đã được làm quen trước đây với những đặc điểm nổi bật như sau:
- Đặc trưng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và
hoạt động tích cực hợp tác theo nhóm, lớp để giải quyết vấn đề.
- Dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài.
Dạy học giải quyết vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề
lớn, có liên quan logic với nội dung kiến thức cũ.
- Dạy học khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học
sinh, chưa hoàn chỉnh khả năng tư duy logic trong nghiên cứu khoa học như trong
cấu trúc dạy học giải quyết vấn đề.
- Tổ chức dạy học khám phá thường xuyên trong quá trình dạy học là tiền đề
thuận lợi cho việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề.
Dạy học khám phá có thể được sử dụng lồng ghép trong khâu giải quyết vấn
đề của kiểu dạy học giải quyết vấn đề.
- Mục đích cuối cùng của các hoạt động khám phá là hình thành kiến thức, kĩ
năng mới, xây dựng thái độ niềm tin và rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí
tình huống, giải quyết vấn đề cụ thể nào đó ở học sinh [6],[25],[29].
1.1.4. Ưu, nhược điểm của dạy học bằng các hoạt động khám phá
1.1.4.1. Ưu điểm
So với dạy học bằng phương pháp thông báo, giải thích, minh họa thì
phương pháp dạy học bằng các hoạt động khám phá có một số ưu điểm nổi bật sau:
21
- Thiết kế các hoạt động khám phá phải đảm bảo tính logic, đặt trong mối
quan hệ với bài trước, bài sau và mang tính vừa sức, kích thích được sự tìm tòi,
sáng tạo của học sinh.
- Sự hướng dẫn của giáo viên cho mỗi hoạt động phải ở mức cần thiết mới
lôi cuốn được học sinh.
- Giáo viên phải giám sát các hoạt động của học sinh, biết gần gũi học sinh,
phát hiện sớm những nhóm đi chệch hướng để kịp thời điều chỉnh, đảm bảo kế
hoạch thời gian. Biết khuyến khích hoạt động của các nhóm bằng cách cho điểm
cộng, bằng những lời nhận xét, khen ngợi.
- Để hạn chế tình trạng những học sinh khá, giỏi thường đảm nhận việc báo
cáo kết quả khám phá, giáo viên có thể yêu cầu bất kì thành viên nào của nhóm lên
trình bày hoặc mỗi thành viên trình bày một ý kiến.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động khám phá cần tránh hai xu hướng, thứ
Mục tiêu hoạt động
nhất là xu hướng hình thức (tức là chỗ nào dễ để học sinh khám phá mới tổ chức
- Hình thành kiến thức, kĩ năng mới.
hoạt động), thứ hai là xu hướng cực đoan (tức là muốn biến toàn bộ nội dung bài
- Xây dựng giá trị, thái độ, niềm tin.
học thành các hoạt động- khám
phá)tư[6],[9],[10],[27].
Rèn luyện
duy, năng lực xử lý tình
1.1.6. Các dạng hoạt động
và các
tổ chức hoạt động khám phá
bày tóm
nhưgiả
sau [6][9]:
- Có
Làm
nghiệm,
đề tắt
xuất
thuyết, phân tích nguyên nhân,
thông báo kết quả.
- Thảo luận, tranh cãi về một vấn
đề.
- Giải bài toán nhận thức, xử lí tình
huống.
- Nghiên cứu ca điển hình, điều tra
thực trạng, đề xuất và thực nghiệm
phương pháp mới.
- Làm bài tập lớn, đề án, luận văn,
luận án.
- "Kim tự tháp" (hợp 2 nhóm 2
người thành nhóm 4 người, hợp 2
nhóm 4 người thành nhóm 8
người).
- "Bể cá" (nhóm A thảo luận,
nhóm B quan sát, rút kinh
nghiệm sau đó đổi vai).
- Làm việc chung cả lớp.
- Trò chơi.
- Mô phỏng.
- Hoạt động dạng trả lời câu hỏi
- Hoạt động dạng điền từ, điền bảng, điền sơ đồ câm
- Hoạt động dạng phân tích biểu bảng, sơ đồ
- Hoạt động dạng tranh luận về một vấn đề
- Hoạt động dạng xử lí tình huống
Đây là những dạng hoạt động theo chúng tôi sẽ được sử dụng nhiều trong
dạy - học phần Sinh học Vi sinh vật bậc Trung học phổ thông.
* Câu hỏi: Là dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một mệnh đề
cần được giải quyết, được sử dụng vào những mục đích khác nhau của quá trình
dạy học.
Câu hỏi có vấn đề là câu hỏi có chứa đựng mâu thuẫn giữa kiến thức, kĩ năng
đã biết với cái chưa biết, mâu thuẫn này kích thích học sinh tìm tòi giải quyết.
24
* Tình huống dạy học: Là bài toán ơrictic chứa đựng mâu thuẫn nhận thức.
Mâu thuẫn này phải có tác dụng kích thích được tính tích cực nhận thức của học
sinh, học sinh chấp nhận nó như là một nhu cầu và có khả năng tự giải quyết được
hoặc giải quyết dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp, chứa đựng mối liên hệ
M-N-P (Mục đích -Nội dung - Phương pháp) theo chiều ngang, tại một thời điểm,
với nội dung là một đơn vị kiến thức. Tình huống dạy học là đơn vị nhỏ nhất của
logic quá trình dạy học.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Thực trạng dạy - học Sinh học ở một số trường Trung học phổ
thông trong Tỉnh Bà rịa - Vũng tàu
Chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của 72 giáo viên Sinh học ở 14 trường
THPT thuộc Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của giáo viên
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lượng
(%)
lượng
(%)
lượng
(%)
45
62,5
24
33,33
3
4,17
65,28
2
2,78
12
16,67
32
44,45
28
38,88
Dạy học có sử
4
dụng bài tập tình
huống
5
Dạy học có sử
dụng bài tập thực
12,50
47
65,27
22
30,56
3
4,17
38
52,78
34
47,22
0
0
34
47,22
học với sách giáo
khoa
Qua kết quả ở bảng trên kết hợp với việc tham khảo giáo án và trao đổi với
một số giáo viên, chúng tôi thấy phương pháp dạy học của giáo viên đã có những
bước đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Tuy nhiên,
số lượng giáo viên áp dụng những phương pháp này còn ít, chưa thường xuyên.
Đặc biệt là phương pháp dạy học có sử dụng hoạt động khám phá như: PP xử lý
tình huống, PP hỏi đáp - tìm tòi... Điều đó đã làm hạn chế chất lượng và giảm hứng
thú học tập bộ môn của học sinh. Vì vậy, việc nghiên cứu thiết kế và đề xuất các
biện pháp sử dụng hoạt động khám phá trong dạy - học Sinh học nói chung, phần
Sinh học Vi sinh vật nói riêng để nâng cao chất lượng học tập là rất cần thiết.
1.2.2. Đặc điểm nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật bậc THPT
Phần Sinh học Vi sinh vật thuộc chương trình Sinh học 10 cơ bản được biên
soạn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Cụ thể là ở mỗi bài đều có
các lệnh để GV tổ chức hoạt động cho HS, nhằm giúp HS có thể tự mình tìm ra
được nội dung kiến thức của bài học. Đây là điểm mới, tích cực hơn so với chương
trình SGK cũ - chỉ biên soạn theo hướng cung cấp kiến thức cho HS. Các hoạt
26
động trong phần Sinh học Vi sinh vật - chương trình SGK Sinh học 10 (cơ bản)
được thống kê trong bảng sau:
Bảng 1.2. Các dạng hoạt động đã có trong SGK ở phần Sinh học Vi sinh
vật (Lớp 10 ban Cơ bản)
TÊN
TÊN BÀI
CHƯƠNG
Quá trình tổng hợp
TLCH
và phân giải các chất
Quá trình phân giải
lương ở Vi ở vi sinh vật
sinh vật Thực hành lên men
TLCH
Êtilic vàLactic
Sinh trưởng của vi
sinh vật
Chương
II: Sinh
trưởng và
sinh sản
của Vi sinh
vật
Khái niệm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của quần
TLCH
thể vi khuẩn
III: Vi rut
Cấu trúc các loại
Cấu tạo
virut
Hình thái
27
SĐ, TLCH
PHT
Sự nhân lên của virut
trong tế bào chủ
Virut gây bệnh. Ứng
và bệnh
dụng của virut trong
truyền
thực tiễn
nhiễm
Chu trình nhân lên của
thiết kế bổ sung các dạng hoạt động cho phù hợp hơn.
CHƯƠNG 2. SỬ DỤNG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ ĐỂ DẠY - HỌC
PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Đặc điểm nội dung phần Sinh học Vi sinh vật bậc THPT
2.1.1. Cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học bậc THPT
Chương trình Sinh học bậc THPT có cấu trúc như sau:
Lớp
10
11
12
Nội dung
-Giới thiệu chung về thế giới sống.
- Sinh học tế bào.
- Sinh học vi sinh vật.
- Thực vật
- Sinh học cơ thể.
- Động vật, người
- Sinh học các hệ lớn - Di truyền học.
- Tiến hóa.
- Sinh thái học.
- Tổng kết toàn cấp
28
Thời lượng (Số tiết)
Chuẩn
Nâng cao
2
4