TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
------------
NGUYỄN THỊ BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHONG TRÀO CHỐNG SƯU, THUẾ
Ở BẮC TRUNG KỲ NĂM 1908
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
VINH, NĂM 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHONG TRÀO CHỐNG SƯU, THUẾ Ở
BẮC TRUNG KỲ NĂM 1908
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Dương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn
Lớp
: 48
Thị Thanh Hải
MỤC LỤC
Trang
1
A.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bắc Trung Kỳ theo như quan niệm của người Pháp bao gồm các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng địa đầu của Trung Kỳ, nối liền Trung Kỳ
và Bắc Kỳ. Đây là vùng đất nổi tiếng từ ngàn đời bởi truyền thống yêu nước
bất khuất và đấu tranh kiên cường chống áp bức, ngoại xâm. Bằng chứng là nơi
đây đã ghi dấu biết bao chiến công hiển hách của nhân dân Bắc Trung Kỳ trong
những ngày chống Tống, bình Nguyên, diệt giặc Minh, giặc Thanh…
Kế tục truyền thống từ ngàn xưa đó, bước sang nửa sau thế kỷ XIX - khi
Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì nhân dân Bắc Trung Kỳ đã nhanh chóng
chuẩn bị và tiến hành đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâm lược. Tại
đây, phong trào yêu nước chống Pháp mà tiêu biểu có phong trào chống sưu,
thuế của nhân dân bùng lên mạnh mẽ, quyết liệt đã góp phần cùng nhân dân cả
nước ngăn cản quá trình bình định quân sự và tiến hành khai thác bóc lột trên
quy mô lớn của chúng, tô đậm thêm trang sử hào hùng trong sự nghiệp chống
ngoại xâm của nhân dân ta nói chung và nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh nói
riêng.
Bắc Trung Kỳ được xem là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng trong
quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, có những đóng góp trong tiến
trình lịch sử nước nhà. Trong lịch sử, nhân dân nơi đây vốn giàu truyền thống
vượt lên mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt, vươn lên xây dựng cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, xứng đáng với xương máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống
trên mảnh đất này.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phong trào chống sưu, thuế ở Trung Kỳ năm 1908 nổi lên như một sự
kiện tiêu biểu về cuộc biểu tình vĩ đại của nhân dân các tỉnh từ Quảng Nam
đến Thanh Hóa. Đây được coi là một cuộc đấu tranh chính trị bất bạo động, có
tầm vóc quan trọng chưa từng thấy ở Việt Nam. Đó là một trong những sự kiện
nổi bật của phong trào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam trong những năm đầu
thế kỷ XX. Có lẽ vì thế mà trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã
3
tập trung làm sáng rõ phong trào chống sưu, thuế ở Trung Kỳ, nhưng vùng Bắc
Trung Kỳ, các sự kiện, nhân vật tham gia, mối liên hệ giữa chúng trong phong
trào này chưa được nêu rõ.
Một số công trình chuyên khảo về phong trào chống sưu, thuế ở Trung
Kỳ năm 1908 như: Cuốn“Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858- 1918)”của
Dương Kinh Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; Cuốn “Đại cương lịch sử
Việt Nam”, của Đinh Xuân Lâm, (2001), tập 2, Nxb Giáo dục; Cuốn “Lịch sử
Việt Nam (1897-1918)” của Chương Thâu, Hồ Song, Ngô Văn Hòa, Nguyễn
Văn Kiệm, Đinh Xuân Lâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Cuốn “100
năm phong trào chống thuế ở Quảng Nam”, Sở văn hóa thể thao và du lịch
Quảng Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Quảng Nam, 2008; Cuốn “Nhân
kỷ niệm 100 năm nhân sỹ Thanh Hóa tham gia kháng thuế bị địch đày đi Côn
Đảo(1909 - 2009)”, Sở văn hóa thể thao và du lịch Thanh Hóa, Ban nghiên
cứu và biên soạn Lịch sử, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Thanh Hóa, 11/
2009; Cuốn “Vụ chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908” của Huỳnh Thúc Kháng,
Nxb Ích Tri, Huế 1946; Cuốn“Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các
châu bản triều Duy Tân”của Nguyễn Thế Anh, Bộ Văn Hóa Giáo dục và
lên những nét khái quát về lịch sử phong trào chống sưu, thuế ở Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh năm 1908 với những biểu hiện và mức độ khác nhau. Trong
các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra một số nhận xét, kết luận về
hình thức, phương pháp đấu tranh, ý nghĩa của các phong trào trên địa bàn ba
tỉnh. Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống,
toàn diện về quá trình chuyển biến của phong trào chống sưu, thuế ở Bắc Trung
Kỳ năm 1908. Đặc biệt là chưa làm sáng rõ nét đặc trưng, sự khác biệt giữa
Bắc Trung Kỳ với Nam Trung Kỳ và Trung Trung Kỳ cũng như sự đóng góp
của nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập
của nước nhà.
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa nguồn tài liệu đã kể và dựa vào nguồn tài liệu
bổ sung, đề tài cố gắng khôi phục bức tranh toàn cảnh phong trào chống sưu,
thuế ở Bắc Trung Kỳ năm 1908 nhằm bổ sung vào những khoảng trống lịch sử
đã nói ở trên.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính là phong
trào chống sưu, thuế ở Bắc Trung Kỳ năm 1908, chủ yếu là các tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Do đó chúng tôi đi sâu tìm hiểu và phân tích các vấn
đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng đã xác định trên. Đồng thời,
trong quá trình nghiên cứu sẽ có sự so sánh, đối chiếu để thấy được sự khác
biệt, nét đặc trưng của phong trào chống sưu, thuế ở Bắc Trung Kỳ so với các
vùng khác trong cả nước.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu về phong trào yêu nước
của nhân dân Bắc Trung Kỳ, trong đó chủ yếu là phong trào chống sưu, thuế
năm 1908.
cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện
nay.
- Đề tài là nguồn tham khảo bổ ích cho tất cả bạn đọc quan tâm đến lịch
sử Bắc Trung Kỳ, đến phong trào chống sưu thuế thời thuộc Pháp của nhân dân
Thanh - Nghệ - Tĩnh gây nên tiếng vang lớn cho lịch sử dân tộc, mà đặc biệt
đối với giáo viên khoa Lịch sử. Ngoài ra luận văn còn góp phần bổ sung nguồn
tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo. Nội dung
chính được trình bày trong hai chương như sau:
- Chương 1: Những nhân tố tác động đến phong trào yêu nước chống
Pháp ở Bắc Trung Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
- Chương 2: Phong trào chống sưu, thuế ở các tỉnh Bắc Trung Kỳ
(Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh) năm 1908.
- Chương 3: Đặc điểm, ý nghĩa của phong trào chống sưu, thuế ở các
tỉnh Bắc Trung Kỳ năm 1908.
7
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHONG TRÀO YÊU
NƯỚC CHỐNG PHÁP Ở BẮC TRUNG KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU
THẾ KỶ XX
1.1 Khái quát tình hình Bắc Trung Kỳ cuối thế kỷ XIX
1.1.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Trong lịch sử, Bắc Trung Kỳ được xem là chốn “biên thùy” là “phên
dậu” nơi xuất phát của nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của nhân
Sông Lèn, sông Lô ở Thanh Hoá. Sông Cả, sông La, sông Lam, sông Phố, sông
Con ở Nghệ Tĩnh. Các sông ngòi tự nhiên này được nối với nhau bởi các kênh
đào tạo nên hệ thống giao thông khá liên hoàn và tưới tiêu thuận lợi.
Trong lĩnh vực giao thông vận tải, ở Bắc Trung Kỳ đã hình thành một số
đường bộ và đường sắt quan trọng. Theo hướng Bắc - Nam có đường quốc lộ
số 1, đường sắt, đường 15, đường 41... Theo hướng Đông - Tây và sang Lào có
đường số 7 (Vinh - Xiêng Khoảng), đường số 8 (Vinh - Thà Khẹt), đường
Thanh Hoá (Sầm Nưa).
Khí hậu Bắc Trung Kỳ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh
hưởng trực tiếp của nhiều hệ thống thời tiết. Hàng năm đều có 4 mùa xuân, hạ,
thu, đông nhưng rõ rệt nhất ở 2 mùa chính là mùa nóng và mùa mưa. Nhìn
chung nơi đây khí hậu khắc nghiệt, độ ẩm cao, hay hạn hán, và nhiều mưa bão,
lũ lụt gây nhiều trở ngại cho sản xuất và sinh hoạt của con người cũng như trở
ngại với quân xâm lược từ phương xa tới.
Thiên nhiên Bắc Trung Kỳ có nhiều nét đặc thù làm cho mối quan hệ xã
hội của con người trong vùng chịu ảnh hưởng, tạo nên nét riêng biệt về văn hoá
mang tính tộc người.
9
Là một trong những vùng đất xa xưa của Tổ quốc Việt Nam, trải qua bao
nhiêu biến thiên và thăng trầm của lịch sử, nhìn chung Bắc Trung Kỳ đã có
những mối liên hệ nhiều mặt với nhau, kể cả về hành chính, tên gọi. Mãi đến
đầu thế kỷ XIX, cả vùng mới được phân định thành ba tỉnh có địa giới cơ bản
như sau này.
Tồn tại và phát triển trên dải đất rộng lớn có nhiều thuận lợi nhưng cũng
lắm tai ương đó, từ xa xưa Bắc Trung Kỳ đã trở thành một trong những vị trí
trọng yếu về quốc phòng và an ninh của khu vực Trung Kỳ. Và trên thực tế Bắc
Trung Kỳ đã nhiều lần trở thành nơi đứng chân để xây dựng và củng cố lực
lượng, cũng như là nơi xuất phát của những cuộc dấy binh tấn công như vũ
như thuế thân, thuế điền sản, thuế lâm sản, chúng còn tìm cách cướp đoạt
ruộng đất, nương rẫy của nhân dân để lập đồn điền, phát canh thu tô, duy trì
cách bóc lột cổ truyền như bắt nhân dân phục dịch, cống nạp, chèn ép nhân dân
bằng cách cho vay nặng lãi.
Nhìn chung, dưới ách cai trị thực dân - phong kiến, nền kinh tế các tỉnh
Bắc Trung Kỳ về cơ bản vẫn là một nền kinh tế tiểu nông trong đó nông nghiệp
giữ vai trò chủ đạo. Bản chất của nền kinh tế này là tự cung, tự cấp và chưa có
sự tách rời giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, nền kinh tế ở đây hết sức lạc
hậu, đình đốn sa sút, chưa có sự xuất hiện của kinh tế công - thương nghiệp.
Cũng như mỗi làng quê khác trên đất nước ta thời bấy giờ, người nông dân các
tỉnh Bắc Trung Kỳ không biết đến một hoạt động kinh tế nào khác ngoài ruộng
đồng và bễ lò rèn hay lò nung gạch ngói. Luỹ tre làng đã tre khuất tầm mắt của
họ và trói buộc họ trong vòng tròn khép kín của chế độ quân chủ. Những chính
sách của chính quyền thực dân đã làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng
cực khổ luẫn quẫn mãi trong vòng lạc hậu, nghèo nàn, tăm tối. Nhân dân Bắc
Trung Kỳ đã bứt phá khỏi sự đè nén của thực dân xâm lược bằng phong trào
chung trong cả nước đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là phong trào chống sưu, thuế
năm 1908.
11
- Văn hoá - giáo dục:
Về văn hoá: Trong tiến trình lịch sử văn hoá của dân tộc Bắc Trung Kỳ
đã từng nổi tiếng với nền văn minh Đông Sơn từ thưở dựng nước, là đất văn
vật nổi tiếng thời Lê Nguyễn với một vùng văn hoá dân gian phong phú, đặc
sắc mà người ta vẫn hay gọi là xứ Thanh - Nghệ - Tĩnh. Nơi đó đã sinh ra và
cống hiến cho đất nước bao thế hệ tri thức nhiều nhà thơ, nhà văn hoá lỗi lạc,
xuất sắc. Điều này góp phần tạo cho nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh một nền
văn hiến lâu đời đậm đà bản sắc dân tộc.
Về giáo dục: vốn là vùng đất xa trung tâm nên trong một thời gian dài
Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của cô gái họ Triệu ở núi Nưa (Nông Cống
nay thuộc Triệu Sơn - Thanh Hóa) vào giữa thế kỷ thứ III, mà nhiều tài liệu đã
cho ta thấy bóng dáng lẫm liệt của bà nữ tướng cưỡi voi trên các núi đá vôi dọc
sông Mã từ Cẩm Thạch (Cẩm Thủy - Thanh Hóa) trở lên. Từ đó xây dựng
được một căn cứ rộng lớn rồi mới xuôi theo sông Mã tiến xuống giải phóng
đồng bằng Cửu Chân, làm cho toàn Châu Giao náo động. Cuộc khởi nghĩa Bà
Triệu năm 248 được nhân dân Bắc Trung Kỳ nhiệt tình ủng hộ.
Trong cuộc đấu tranh lâu dài chống Bắc thuộc, giành lại độc lập dân tộc,
cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất
cho tinh thần yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của nhân dân Bắc Trung Kỳ
và cũng là cống hiến to lớn của nhân dân vùng đất này vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc thời đó. Tiếp nối truyền thống quật khởi của Hai Bà Trưng, của
Lý Bí, của Mai Thúc Loan … nhân dân ta tiếp tục khởi nghĩa chống ách đô hộ
nhà Đường.
Đầu thế kỷ X, đế chế Đường sụp đổ và chính quyền đô hộ của chúng ở
nước ta bị lung lay nghiêng ngả. Chớp thời cơ đó, năm 905 Khúc Thừa Dụ lãnh
đạo nhân dân ta vùng lên giải phóng đất nước. Nhưng để đi đến độc lập hoàn
toàn cuộc đấu tranh của nhân dân ta còn phải tiếp tục 33 năm nữa. Với chiến
công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng vào năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo đập
tan cuộc xâm lược thứ hai của nhà Nam Hán, dân tộc ta mới thực sự chấm dứt
thời Bắc thuộc kéo dài hơn ngàn năm, giành lại trọn vẹn non sông đất nước,
13
độc lập chủ quyền và mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập, lâu dài và
phát triển rực rỡ của đất nước.
Bước sang thế kỷ XV, khu vực Bắc Trung Kỳ trở thành một địa bàn
chiến lược quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Với tinh thần chiến đấu quả
cảm, nghĩa quân đã giành thắng lợi quyết định vào cuối năm 1427 của chiến
thắng Chi Lăng, Xương Giang vang dội.
thực dân Pháp xâm lược.
1.1.3 Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Bắc Trung Kỳ
cuối thế kỷ XIX (từ năm 1885 đến năm 1896)
* Thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh Bắc Trung Kỳ
Việt Nam là nước phương Đông có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận
lợi nên từ rất sớm đã trở thành đối tượng nhòm ngó của các nước phương Tây.
Thế kỷ XVIII thông qua các giáo sỹ, các nhà buôn, thực dân Pháp đã từng
bước tìm hiểu đất nước ta. Cuối thế kỷ XIX tham vọng đó càng lớn hơn bao
giờ hết bởi nhu cầu nguyên liệu và thị trường khi Pháp chuyển từ giai đoạn chủ
nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc.
Ở trong nước, dưới sự trị vì của triều Nguyễn chế độ phong kiến của
Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường khủng hoảng, suy vong trầm trọng,
đặc biệt mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt.
Trước bối cảnh lịch sử đó, thực dân Pháp đã phát động cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam vào rạng sáng ngày 01/ 09/ 1858. Chúng lựa chọn Đà
Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên, bởi theo cách nhìn của giới quân sự Pháp thì
đây chính là cổ họng của Huế. Bằng hoạt động quân sự kết hợp với chiến tranh
lấn đất Pháp đã từng bước xâm lược Việt Nam. Đánh Đà Nẵng, chiếm Gia
Định, chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, đánh chiếm ba tỉnh miền Tây, đánh
Bắc Kỳ lần một, rồi đánh Bắc Kỳ lần hai và đưa chiến tranh ra phạm vi cả
nước. Triều đình Huế từ chỗ không quyết tâm cao đã đi đến việc nhượng bộ kẻ
xâm lược. Ký hiệp ước Nhâm Tuất, Giáp Tuất, đến hiệp ước Quý Mùi, triều
đình đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, trở thành đồng minh của Pháp với
hiệp ước năm Quý Mùi (25/ 08/ 1883) và hiệp ước năm Giáp Thân (06/ 10/
1884) nước ta rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp. Nhưng để thiết lập
15
được quyền lực ở tất cả các địa phương trong cả nước, chúng phải trải qua giai
đoạn “bình định” kéo dài cho đến gần cuối thế kỷ XIX.
thương dân.
Phong trào Cần Vương kéo dài 12 năm (1885 - 1896) đánh dấu một giai
đoạn đấu tranh quyết liệt của nhân dân ta chống lại thực dân Pháp. Ở Thanh Nghệ - Tĩnh dưới sự lãnh đạo của bộ phận văn thân, sỹ phu phong trào ứng
nghĩa của nhân dân bùng lên mạnh mẽ. Tại Hà Tĩnh có Lê Ninh, Đinh Nho
Hanh, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Đôn Tiết, Nguyễn Phương; ở
Nghệ An có Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Phan Cát Tựu; tại Thanh Hoá có
Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Cao Điếm... Suốt từ miền
ngược đến miền xuôi, đồng bằng, miền núi đều có phong trào ứng nghĩa của
nhân dân Bắc Trung Kỳ.
*Thanh Hoá
Thanh Hoá - một xứ sở có tầm chiến lược quan trọng ở bất cứ thời kỳ
lịch sử nào, nơi có truyền thống chống xâm lăng, mảnh đất sinh ra nhiều anh
hùng hào kiệt đã có mặt rất sớm trong phong trào chống Pháp. Lịch sử cận đại
đã chọn mảnh đất này để phát động dung dưỡng và phát triển thành một trong
những trung tâm của phong trào chống Pháp cả nước. Một sự lựa chọn tự nhiên
mà không phải ngẫu nhiên. Hưởng ứng chiếu Cần Vương dưới sự lãnh đạo cuả
các văn thân, sỹ phu yêu nước nhân dân các địa phương Thanh Hoá đã nhất tề
vùng dậy hăng hái tập hợp đội ngũ, tổ chức thống nhất lực lượng sẵn sàng tiêu
diệt giặc khi chúng xâm phạm tới quê hương. Trên phạm vi toàn tỉnh từ miền
biển lên miền núi, từ đồng bằng tới trung du đã hình thành một mạng lưới các
làng xã kháng chiến. Tại Nông Cống, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc phong
trào đã bùng lên mạnh mẽ. Tiêu biểu là khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh.
Tại căn cứ Ba Đình dưới sự lãnh đạo của Phan Bành, Đinh Công Tráng
với cộng sự kiên cố, cách đánh mưu trí và tinh thần quyết tử, hơn 3000 nghĩa
quân trong suốt 32 ngày đêm đã bẻ gãy nhiều cuộc tấn công của địch “làm cho
giới cầm quyền cũng phải xôn xao, lo lắng” [1, 74]
17
Tiếp nối Ba Đình cuộc cuộc chiến đấu của nghĩa quân Hồng Lĩnh trở
18
sức của ngày càng nhiều. Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo nói
riêng và phong trào chống Pháp của nhân dân Nghệ An nói chung cuối thế kỷ
XIX, lúc đầu chỉ là cuộc khởi nghĩa rời rạc, lẻ tẻ thì nay đã được thống nhất và
trở thành một trong ba cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong phong trào Cần Vương ở
Thanh - Nghệ - Tĩnh lúc bấy giờ.
Sau gần ba năm dấy binh khởi nghĩa, cùng nghĩa quân nếm mật nằm gai,
sống và chiến đấu, mặc dù tuổi cao, sức không còn như trai trẻ, nhưng khí
phách, ý chí chiến đấu của thủ lĩnh Nguyễn Xuân Ôn luôn khiến lòng quân
thán phục.
Có thể thấy Nghệ An là nơi nổi tiếng nơi xuất phát điểm sớm nhất trong
phong trào chóng Pháp của cả nước, không những thế các cuộc chiến đấu nhân
dân và sỹ phu Nghệ An diễn ra dai dẳng nhất so với các phong trào khởi nghĩa
trên khắp cả nước.
* Hà Tĩnh
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) nhiều sỹ phu quan lại
lui về Hà Tĩnh phối hợp với các văn thân sỹ phu ở đây tiến hành gây dựng lại
cơ sở để tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, làn sóng yêu nước đã dâng lên cuồn cuộn
tạo nên những phong trào đấu tranh mạnh mẽ của các sỹ phu Hà Tĩnh. Các sỹ
phu thường lấy quê hương mình làm căn cứ, rồi từ đó phát triển ra dần các đội
quân thường hoạt động trên một địa bàn hẹp và dùng lối đánh du kích tiêu diệt
địch. Những hoạt động của sỹ phu và nhân dân Hà Tĩnh đã gây ra cho địch
nhiều thất bại, chia rẽ lực lượng, ngăn chặn kẻ địch đẩy mạnh hoạt động.
Nhưng về sau thực dân Pháp bình định nhiều vùng thì phong trào kháng chiến
mang tính chất lẻ tẻ của Hà Tĩnh thất bại, tuy vậy nó chứng tỏ sức mạnh của
quần chúng nhân dân và tinh thần yêu nước của các nhà nho. Phong trào yêu
nước đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải liên kết lực lượng tạo nên sức mạnh trong
chiến đấu đầu năm 1889. Phong trào Cần Vương trong tỉnh đã quy tụ về dưới
ngọn cờ của tiến sĩ Phan Đình Phùng tạo thành cuộc khởi nghĩa lớn nhất - khởi
người đã tham gia vào lực lượng triều đình để chống Pháp như Hồ Bá Ôn, có
người lại dùng các bản “tấu sớ”, “điều trần” vạch rõ bộ mặt xâm lược cuả thực
20
dân Pháp và phản đối đường lối nghị hòa của triều đình Huế. Càng về sau
phong trào phát triển mạnh trên quy mô rộng lớn, vừa chống Pháp, vừa chống
phong kiến tay sai, tiêu biểu khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh ở Thành Hóa,
khởi nghĩa Giáp Tuất của Trần Tấn và Đặng Như Mai, khởi nghĩa Nguyễn
Xuân Ôn ở Nghệ An, khởi nghĩa của Lê Ninh, Cao Thắng, Phan Đình Phùng ở
Hà Tĩnh …
Không dừng lại ở đấu tranh vũ trang mà nhân dân Thanh - Nghệ - Tĩnh
còn đấu tranh canh tân đất nước. Đó là sự nhạy bén với thời cuộc của nhà nho
xứ Bắc Trung Kỳ mà không phải các xứ khác cũng làm được. Bởi đó là một tư
tưởng tiến bộ đòi hỏi các nhà nho phải vượt qua quyền lợi giai cấp và dám
đương đầu với triều đình phong kiến, đi đầu trong phong trào đó là Nguyễn
Trường Tộ.
Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Bắc Trung Kỳ
cuối thế kỷ XIX phải kể đến một lực lượng vô cùng quan trọng đó là văn thơ
yêu nước chống Pháp, dùng ngòi bút làm công cụ kêu gọi nhân dân chống Pháp
và lên án triều đình.
* Nguyên nhân thất bại
Cuối cùng phong trào yêu nước chống thực dân Pháp và phong kiến đầu
hàng ở Bắc Trung Kỳ đã không giành được thắng lợi. Nguyên nhân chủ yếu là
phong trào mang tính chất cục bộ tự phát, chưa có lãnh đạo thống nhất. Phong
trào phát triển mạnh mẽ nhất cũng chỉ diễn ra trên địa bàn tỉnh chưa liên kết
được với phong trào trong cả nước. Kẻ thù đã triệt để lợi dụng những nhược
điểm đó lần lượt đàn áp các cuộc khởi nghĩa và cuối cùng đặt ách thống trị lên
đầu lên cổ nhân dân ta.
Mặt khác phong trào thất bại do thiếu một bộ phận lãnh đạo sáng suốt,
dân chủ tư bản từ phương Tây thông qua “tân thư”, “tân văn” bằng chữ Hán
vào nước ta đã tạo nên sự phân hóa về tư tưởng của người Việt Nam. Các sỹ
phu, văn thân yêu nước tiến bộ ở nước ta xuất thân từ cửa Khổng sân Trình đã
đứng ra tiếp nhận và nhanh chóng thổi một luồng sinh khí mới vào phong trào
giải phóng dân tộc tạo ra cuộc vận động cứu nước sôi nổi mang tính chất tư sản
đầu thế kỷ XX.