HIỆN TRẠNG KHAI THÁC NGUỒN LỢI CÁ KÈO GIỐNG (Pseudapocryptes elongatus Curvier, 1816 ) Ở TỈNH BẠC LIÊU VÀ SÓC TRĂNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ - Pdf 80

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

VÕ THÀNH PHÁT

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC
NGUỒN LỢI CÁ KÈO GIỐNG (Pseudapocryptes elongatus
Curvier, 1816 ) Ở TỈNH BẠC LIÊU VÀ SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. TRƯƠNG HOÀNG MINH

2010

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

VÕ THÀNH PHÁT

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC
NGUỒN LỢI CÁ KÈO GIỐNG (Pseudapocryptes elongatus
Curvier, 1816 ) Ở TỈNH BẠC LIÊU VÀ SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ

Ngư cụ khai thác cá kèo giống là lưới đáy có kích thước mắt lưới 2a = 2mm
ở phần cánh lưới và 2a = 1mm ở phần đuôi đục. Độ sâu đặt đáy là 1,5 – 2 m
(khi đặt ở bãi bồi ven biển) và 2 – 3 m (khi đặt lưới trên sông). Khoảng cách
đặt đáy so với bờ ven biển BL bình quân là 343,3 m, ven biển ST là 247,7 m
và trên sông là 2,5 m.
Mùa vụ xuất hiện cá kèo giống từ tháng 4 - tháng 8 (âl) ở BL và tháng 5 tháng 9 (âl) ở ST. Sản lượng đạt cao nhất vào cuối tháng 5 và tháng 6 (BL)
và tháng 6 và tháng 7 (ST). Mặc dù mùa vụ xuất hiện cá kèo giống ở ST đến
muộn hơn BL nhưng sản lượng giống khai thác được ở ST lại cao hơn ở BL
tại những khu vực thu mẫu. Tổng thu nhập của ngư dân tỉnh BL bình quân là
11.975.000 đ/hộ/năm, trong đó khai thác cá kèo giống đóng góp 47,8 % tổng
thu nhập và ở ST, tổng thu nhập bình quân là 59.240.000 đ/hộ/năm, Khai
thác cá kèo giống đóng góp 35,8 % tổng thu nhập.

ii

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu ........................................................ 2
Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng ...................................................... 4
Hình 2.3: Cá kèo vẩy nhỏ (Pseudapocryptes elongatus, Curvier, 1816).............. 5
Hình 3.1: Địa điểm nghiên cứu...........................................................................12
Hình 4.1: Cấu tạo của lưới đáy ...........................................................................14
Hình 4.2: Kích thước ngư cụ KTh ở khu vực nghiên cứu....................................15
Hình 4.3: Tỷ lệ cá kèo giống so với các năm trước .............................................18
Hình 4.4: Tỷ lệ cá tạp qua các tháng ở khu vực biển BL và ST...........................19
Hình 4.5: Các yếu tố ảnh hướng đến sản lượng .................................................19
Hình 4.6: Tỷ lệ thu nhập từ các nghề của ngư dân ..............................................21
Hình 4.7: Xu hướng phát triển nghề KTh cá kèo giống.......................................23


dl

dương lịch

đ

đồng

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

KTTS

khai thác thủy sản

Max

giá trị lớn nhất

Min

giá trị nhỏ nhất

NNPTNT

nơng nghiệp phát triển nơng thơn

NTTS

1.2.1 Mục tiêu tổng quát .......................................................................... 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể .............................................................................. 1
1.3

Nội dung nghiên cứu .............................................................................. 1

Chương 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 2
2.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng......................................... 2
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bạc Liêu .................................................... 2
2.1.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Sóc Trăng................................................... 4
2.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh học.................................................... 5
2.2.1 Đặc điểm hình thái.......................................................................... 5
2.2.2 Đặc điểm phân bố ........................................................................... 7
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng.......................................................................7
2.2.4 Đặc điểm sinh trưởng.......................................................................8
2.2.5 Đặc điểm sinh sản........................................................................... 9
2.3 Tình hình khai thác cá kèo giống.............................................................10
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................12
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu...........................................................12
3.2 Phương pháp nghiên cứu ........................................................................12
3.2.1 Số liệu thứ cấp ..............................................................................12
3.2.2 Số liệu sơ cấp................................................................................12
3.2.3 Xử lý số liệu .................................................................................13
vi

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


3.3 Danh sách các biến cơ bản trong phỏng vấn ...........................................13
Chương 4: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN............................................................14

Cá kèo là một loài thủy sản đặt trưng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL).Với chất lượng thịt thơm ngon nên cá kèo vẩy nhỏ có giá trị
cao trong thị trường nội địa những năm gần đây. Vì vậy nhu cầu nuôi ngày
càng phát triển trong khi nguồn giống phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên.
Mặc dù đã có những nghiên cứu về sự phân bố cá kèo giống của Lê Kim
Yến (2005), Đỗ Thị Minh Thư (2006) và Nguyễn Hùng Tính (2007)…. Trong
những năm gần đây, sản lượng con giống và tình hình khai thác giống ln có
sự biến động. Nhằm tiếp tục tìm hiểu về tình hình khai thác giống cũng như sự
biến động về sản lượng giống theo từng năm. Đề tài: “Hiện trạng khai thác và
quản lý nguồn lợi cá kèo giống (Pseudapocryptes elongatus) ở hai tỉnh Bạc
Liêu và Sóc Trăng” cần được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng khai thác cá kèo gống ở khu vực Bạc Liêu và Sóc
Trăng nhằm biết được sự biến động về sản lượng và cường lực khai thác cá kèo
giống để cung cấp những thông tin cần thiết về cá kèo giống cho các nghiên
cứu về sau.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
a.

Mô tả kết cấu ngư cụ và kỹ thuật khai thác cá kèo giống ở ST và BL.

b.

Đánh giá sản lượng và khả năng cung ứng cá kèo giống ở BL và ST.

c.

Đánh giá tác động kinh tế xã hội nghề khai thác cá kèo giống lên đời
sống của ngư dân trong khu vực nghiên cứu.

Diện tích tự nhiên 2.582,46 km2. Bạc Liêu có 6 huyện là: Hồ Bình,
Vĩnh lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Phước Long, Đơng Hải và thị xã Bạc Liêu - trung
tâm hành chính của tỉnh.
Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu nằm ở độ cao trên
dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng
ngập nước quanh năm. Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ
Đông Bắc xuống Tây Nam. Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh
Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai.

2

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300 mm. Nhiệt độ trung bình 26 0C,
cao nhất 31,5 0C, thấp nhất 22,5 0C. Số giờ nắng trong năm 2.500 - 2.600 giờ.
Độ ẩm trung bình mùa khơ 80%, mùa mưa 85%. Vùng này ít chịu ảnh hưởng
của bão và áp thấp nhiệt đới; không chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt của hệ
thống sông Cửu Long, nhưng lại chịu tác động mạnh của thuỷ triều biển Đông
và một phần chế độ nhật triều biển Tây.
Theo Đào Văn Tự (2003). Vùng biển Bạc Liêu cùng nằm trong nội chí
tuyến Bắc bán cầu vì vậy khí hậu vùng này cũng tn thủ theo chế độ khí hậu
của biển Đơng (nhiệt đới gió mùa) và hoạt dộng của bão Tây Thái Bình Dương.
Hằng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, nhưng do ở
cực Nam của tổ quốc nên ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đơng Bắc. Bên cạnh
đó, gió mùa Tây Nam cũng được che chắn bởi lục địa nên cường độ gió cũng
giảm nhiều.
Vùng biển Bạc Liêu có những điều kiện địa lý tự nhiên của nhóm đường

địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ là những vùng trũng với các giồng cát
với cao trình phổ biến ở mức 0,5 – 1 m so với mặt nước biển, nghiên từ Tây
Bắc xuống Đông Nam và có hai tiểu vùng địa hình chính: vùng ven sông Hậu
với độ cao
1 - 1,2 m bao gồm vùng đất bằng và những giồng cát hình cánh
cung nối tiếp nhau chạy sâu vào giữa tỉnh; vùng trũng phía Nam tỉnh với độ cao
0 – 0,5 m thường bị ngập úng dài ngày trong mùa lũ. Ngồi ra, Sóc Trăng cịn
có những khu vực nằm giữa các giồng cát, khơng hình thành vùng tập trung với
độ cao 0,5 – 1m.
Sóc Trăng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có hai
mùa rõ rệt là mùa mưa (tháng 5 – 11) với gió mùa Tây Nam và mùa khơ (
tháng 12 – 4) với gió mùa Đơng Bắc.
Nhiệt độ trung bình năm là 26,80C , cao nhất là 31,10C (tháng 4), thấp
nhất là 23,80C (tháng 1). Độ ẩm trung bình 83,4%, cao nhất 96% vào mùa mưa,
thấp nhất 62% vào mùa khô.

4

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Lượng mưa bình qn 1.840 mm, mùa mưa có tháng trên 335 mm, vào
mùa khơ dường như khơng có mưa dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng
cho sản xuất và cho sinh hoạt và nhất là ở vùng ven biển, vùng sâu xa nguồn
nước. Tốc độ gió khoảng 2,2 m/s.
2.2 Đặc điểm hình thái, phân bố và sinh học
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Curvier (1816) thì cá kèo vảy nhỏ thuộc họ Gobiidae và được phân
loại như sau:
Bộ:

tiếp hợp của hai xương răng. Khơng có râu, dưới trước mõm có hai nếp da nhỏ

5

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


phủ lên mơi trên. Mắt trịn và nhỏ nằm phía lưng của đầu, gần chót mõm hơn
gần cuối nắp mang. Khoảng cách giữa hai mắt hẹp, nhỏ hơn hoặc tương đương
với một phần hai đường kính mắt. Lỗ mang hẹp, màng mang phát triển, phần
dưới dính với eo mang.
Thân hình trụ, thon dài, hơi hẹp bên, phần sau xương chẫm có hai dường
sóng nổi có phủ vẩy. Cuống đi ngắn, dài cuống đuôi nhỏ hơn cao cuống
đuôi.
Hai vi lưng rời nhau, khoảng cách này lớn hơn chiều dài gốc vi lưng thứ nhất.
Khởi điểm vi hậu môn sau khởi điểm vi lưng thứ hai nhưng điểm kết thúc
ngang nhau. Hai vi bụng dính nhau tạo thành giác bám dạng hình phễu, miệng
phễu hình bầu dục. Vi đi dài và nhọn.
Cá có màu xám ửng vàng, nửa trên của thân có 7 – 8 sọc đen hướng xéo
về phía trước, các sọc này rõ về phía đi. Bụng có màu vàng nhạt. Các vi
ngực, vi bụng và vi hậu mơn có màu vàng đậm. Vi đi và vi lưng có màu
vàng xám và có nhiều hàng chấm đen vát ngang các tia vi đi.
Theo tác giả Mai Đình n (1992) thì cá kèo vẩy nhỏ được mơ tả:
Cá kèo có thân hình trụ dài, dẹp dần về phía đi. Đầu hơi nhọn mõm
tù và trần. Nếp gấp mõm có hai lá bên nhỏ. Mắt nhò, nằm sát nhau trên đỉnh
đầu và khơng có cuống mắt. Miệng gần như nằm ngang, rạch miệng kéo dài
gần như đến bờ sau ổ mắt. Có một cặp răng chó sau điểm tiếp hợp ở hàm dưới,
lưỡi cắt ngang, than phù vẩy tròn rất bé.
Hai vây lưng rời nhau, vây lưng thứ hai gần như đối xứng với vây hậu
mơn. Khởi điểm vây ngực phía trên khởi điểm vây bụng. Vây đuôi dài và nhọn.

sống chủ yếu ở vùng nước lợ vào mặn nhưng cũng có thể sống ở nước ngọt,
chúng làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn lên các bãi này. Vùng phân bố
rộng: Từ Ấn Độ, Thái Lan đến Mã Lai, quần đảo Ấn Độ - Úc Châu, ĐBSCL,
Trung Quốc.
Theo Kottelat và Whitten (1996) thì cá sống ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ
thích hợp cho sinh trưởng và phát triển từ 230 C – 280 C.
Takita (1999) báo cáo rằng cá kèo (P.elongatu) thường sống ở những
vùng nước cạn trên bãi bùn ở vùng cửa sông và cá trưởng thành thường sống ở
các thủy vực sâu và bẩn hơn. Khi sống trong hang có độ mặn thường thấp.
Theo Nguyễn Chung (2007), cá kèo thích nghi rất rộng và nhanh với các
biến động của mơi trường nên có thể sống ở tất cả các vùng nước có độ mặn từ
0 0/00 đến 30 0/00, nhiệt độ từ 15 0C – 37 0C và cá có tập tính di cư xuống theo
dịng chảy thủy triều và hải lưu. Cá kèo theo những con nước triều phân bố
khắp nơi, khi tìm được bãi thích hợp thì chúng chui rút sâu và sống trong bùn.
Cá kèo dùng hai vây ngực và vây hậu môn để trườn mình đi. Khi nước triều lên
ngập các bãi bồi, chúng lặn xuống duới đáy và vào những con nước rong hay
khi trời mát cá kèo ngoi lên đi từng bầy nổi cả vùng trên mặt nước tìm mồi. Khi
thành thục sinh sản, chúng tìm ra cửa sơng, vùng ven biển có độ mặn 25 – 30
0
/00 để sinh sản. Trứng nở thành ấu trùng, trôi nổi trên mặt nước theo thủy triều
đẩy vào bờ thành cá giống và lớn lên, đi vào vùng nội đồng,ao, đầm, kênh
mương vùng nước lợ.
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đắc Định (2002), cá kèo là lồi có
tính ăn thiên về thực vật, do tỉ lệ giữa chiều dài ruột (Li) và chiều dài chuẩn
7

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()



được là 22,1 cm với tốc độ tăng trưởng 0,81/năm và chỉ số tăng trưởng là
2,778, cá có kích cỡ nhỏ sẽ tăng trưởng nhanh hơn cá lớn và khi đạt chiều dài
cực đại thì tốc độ tăng trưởng chậm lại. Khi chiều dài khoảng 16,9 cm cá có thể
được 1 tuổi, khi 2 tuổi, chiều dài có thể lên đến 20,7 cm và khi đạt 22,9 cm thì
có thể cá được 3 tuổi.

8

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


2.2.5 Đặc điểm sinh sản
Đối với các loài cá biển, những loài thuộc họ cá bống (Gobiidae), con
đực làm tổ, con cái bị hấp dẫn đến tổ để và bảo vệ trứng khi nở. Những con đực
quá nhỏ không đủ khả năng làm tổ hoặc giao vĩ, chúng lẫn trốn vào hang riêng
của chúng trong suốt mùa sinh sản và có lẽ chỉ thũ tinh được cho một số trứng
(Maghagen, 1995), (được trích dẫn bởi Nguyễn Hùng Tính, 2007)
Theo Holden và Raitt (1974) đề nghị quá trình thành thục của cá nói
chung dược chia làm 7 giai đoạn:
 Giai đoạn 1:
Tuyến sinh dục rất nhỏ, mảnh, trong suốt, rất khó phân biệt tinh sào hay
noãn sào bằng mắt thường.
 Giai đoạn 2:
Có thể phân biệt tuyến sinh dục đục, cái bằng mắt thường. Tuyến sinh
dục có kích thước nhỏ, màu hơi hồng trong suốt. Màng tuyến sinh dục mỏng,
hầu như khơng có mạch máu phân bố, rất khó thấy hạt trứng bằng mắt thường.
 Giai đoạn 3:
Kích thước tuyến sinh dục gia tăng rõ, nỗn sào có màu vàng nhạt, trên
nỗn sào đã có mạch máu phân bố. Có thể thấy rõ những hạt trứng trong noãn
sào bằng mắt thường. Chúng rất nhỏ khó tách rời khỏi các tấm trứng.

Raitt (1974) đề nghị, tỉ lệ phát triển tuyến sinh dục dạt đến giai đoạn 3 từ tháng
12 đến tháng 2 năm sau cao hơn so với các tháng trước. Các tháng sau đó chỉ
phát triển đến giai đoạn 2, tháng 3 và tháng 4 không thấy lồi này xuất hiện nên
khơng phát hiện được giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục.
Ở vùng bãi bồi Tây Ngọc Hiển – Cá Mau tuyến sinh dục của cá kèo đạt
cao nhất là giai đoạn 3 và tăng dần từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Trong đó,
vào tháng 11 tuyến sinh dục của loài này xuất hiện cả 3 giai đoạn ( 1, 2, 3) và
giai đoạn 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (70,59%). Tháng 12 thì chỉ có giai đoạn 2 và 3,
giai đoạn 3 chiếm 81,89%. Tỷ lệ cá đạt giai đoạn 3 là 100% ở tháng 1 (Lê Thị
Xuân Thắm, 2004).
Phát triển của ấu trùng và cá bột
Theo Nguyễn Chung (2007), các khảo sát thu vớt được ở những vùng
bãi bồi ven biển của các cửa sông Cửu Long cho thấy ấu thể cá kèo mới nở có
chiều dài 0,8 – 1,21 mm và nỗn hồng dài 04 – 06 mm. Trong thời gian này
do các sắc tố chưa hình thành nên cơ thể ấu trùng cịn trong suốt. Sau khi sử
dụng hết nỗn hoàng, miệng ấu trùng mở ra và hàm bắt đầu cử động và cá tự
bắt mồi. Xuất hiện sắc tố, bắt đầu có màu vàng nhạt rồi chuyển dần sang màu
nâu tái hay nâu đỏ, bụng cá có màu trắng. Ở giai đoạn bột, cơ thể đã phát triển
hoàn thiện và cá bắt đầu chuyển sang màu vàng sáng. Giai đoạn cá con có
chiều dài 1,2 – 1,5 cm, cá khỏe mạnh, thân thường có màu sáng hơn và chủ
động bơi lội.
2.3 . Tình hình khai thác cá kèo giống
Theo kết quả nghiên cứu của Võ Thành Tồn (2005) thì cá kèo giống
xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 12. Qua hai đợt khảo sát (đợt 1 từ tháng 8/2004
– 10/2004 và đợt 2 từ tháng 3/2005 – 5/2005) mật độ giống xuất hiện nhiều
10

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()



với 218 cá thể/1000 m3 ở Sóc Trăng và 563 cá thể/1000 m3 ở Bạc Liêu.

11

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status