Nghiên cứu dạy học bài tập chương dòng điện xoay chiều vật lí trung học phổ thông ban cơ bản theo lý thuyết phát triển - Pdf 32

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH

Lấ TH HU

NGHIÊN CứU DạY HọC BàI TậP CHƯƠNG
DòNG ĐIệN XOAY CHIềU VậT Lí 12 TRUNG HọC PHổ THÔNG
BAN CƠ BảN THEO Lý THUYếT PHáT TRIểN BàI TậP VậT Lý

Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp dy hc Vt lý
Mó s: 60.14.10

LUN VN THC S GIO DC HC

Ngi hng dn khoa hc:

PGS. TS. PHM TH PH


2

VINH - 2011


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :
PGS.TS Phạm Thị Phú, người đã định hướng đề tài, hướng dẫn khoa
học và động viên nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, quý thầy cô giáo khoa Vật lý Trường
Đại học Vinh cùng quý thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy.
Ban giám hiệu, thầy cô giáo tổ Vật Lí - Tin, trường THPT Nguyễn

1.2.1. Khái niệm phát triển bài tập vật lí.......................................................23
1.2.2. Nội dung của lý thuyết phát triển bài tập vật lí .................................23
1.2.3. Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển
BTVL ?...................................................................................................... 27
1.2.4. Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL
.................................................................................................................. 28
1.2.5. Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL......30
1.2.6. Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL.......................30
1.2.7. Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL............31
KẾT LUẬN CHƯƠNG I........................................................................... 33
Chương 2
DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BTVL....................................................35
2.1. Vị trí, đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều”..........................35


5
2.1.1. Vị trí ............................................................................................... 35
2.1.2. Đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 THPT......36
2.2. Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ............................................37
2.3. Nội dung dạy học chương “Dòng điện xoay chiều”............................38
2.3.1. Các đơn vị kiển thức cơ bản của chương “Dòng điện xoay chiều”....38
2.3.2. Cấu trúc lôgic chương “Dòng điện xoay chiều” chương trình chuẩn.40
2.4. Thực trạng dạy học bài tậpVật lí chương “Dòng điện xoay chiều” ở các
trường THPT hiện nay.............................................................................. 40
2.5. Xây dựng hệ thống BTVL chương “Dòng điện xoay chiều” theo lý
thuyết phát triển bài tập nhằm phát huy chức năng LLDH của BTVL.........43
2.5.1. Lựa chọn bài tập cơ bản...................................................................43
2.6. Sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” theo lý
thuyết phát triển BTVL.............................................................................. 69

cùng một nội dung vật lí có đến hàng chục cuốn sách bài tập của nhiều tác giả; phụ
huynh và HS hoang mang trước thực trạng quá nhiều các bài tập, làm thế nào để có
thể học hết được các bài tập trong đó khi mà thời gian thì rất hạn hẹp. Thực tế này
đặt ra cho GV vật lí một câu hỏi: Dạy bài tập như thế nào để phát huy được các
chức năng LLDH, chức năng nhận thức luận của BTVL ? Nếu như bài học xây
dựng kiến thức mới các mục tiêu, nội dung đã được nêu tường minh trong SGV,
SGK thì bài học bài tập vật lí hoàn toàn do GV xác định từ mục tiêu, nội dung đến
phương pháp, phương tiện.


7
Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên rất lúng túng không biết nên dạy BTVL như
thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất. Cho nên trong các đợt thao giảng, dự giờ,
tiết dạy bài tập ít được giáo viên lựa chọn. Trong tiết dạy bài tập, thông thường giáo
viên chỉ bám sát phân phối chương trình và bài tập sách giáo khoa để ra bài tập cho
học sinh hướng dẫn học sinh giải bài tập đó sao cho ra kết quả rồi chuyển sang bài
tập khác. Chính vì vậy mà học sinh học một cách thụ động, không phát huy được
tính sáng tạo trong giải bài tập vật lí và khi áp dụng cũng không linh hoạt, nhất là ta
cho bài tập khác dạng thì học sinh lúng túng không giải quyết được. Bên cạnh đó đa
số học sinh hiện nay cũng còn thụ động trong việc học tập của mình, các em chỉ học
xoay quanh những gì mà giáo viên đã cung cấp chứ ít chủ động tìm tòi học tập điều
mới ngoài thông tin từ người thầy. Trong quá trình dạy BTVL đòi hỏi người giáo
viên phải chọn các bài tập từ đơn giản đến phức tạp, các bài tập phải liên hệ với
nhau một cách có hệ thống làm thế nào để thông qua việc giải một số bài tập cơ
bản, trang bị cho các em phương pháp giải để các em giải được nhiều dạng bài tập
khác. Qua đó, học sinh nắm được kiến thức vững vàng, sâu sắc, chủ động, mà
không mất nhiều thời gian, phát huy mạnh tính sáng tạo của học sinh.
Để giải quyết vấn đề trên, tôi nhận thấy có một lý thuyết đã được xây dựng
bởi các nhà nghiên cứu về LLDHVL đó là “Lý thuyết phát triển bài tập vật lí”; tinh
thần cơ bản của lý thuyết này là từ một bài tập cơ bản phát triển thành các bài tập

chức năng LLDH của bài tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu LLDH bài tập vật lí ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết phát triển bài tập vật lí.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học bài tập vật lí ở một số trường THPT tỉnh
Thanh Hoá.
- Tìm hiểu mục tiêu dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” vật lí lớp 12
ban cơ bản, nội dung dạy học chương - cơ sở Vật lí cho việc xây dựng hệ thống bài
tập vật lí theo lý thuyết phát triển bài tập chương “Dòng điện xoay chiều”.
- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều”.
- Đề xuất các phương án dạy học sử dụng hệ thống BTVL theo lý thuyết phát
triển bài tập đã xây dựng nhằm phát huy hiệu quả các chức năng LLDH của BTVL.
- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy học đã thiết kế.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học và các tài liệu liên quan đến lý
thuyết bài tập phát triển.


9
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa và sách bài tập, các tài liệu tham
khảo.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm: kiểm tra giả thuyết khoa
học của đề tài.
- Phương pháp thống kê toán học.
7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
7.1. Về lí luận
- Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của lý thuyết phát triển bài tập trong
dạy học BTVL ở trường phổ thông qua chương “Dòng điện xoay chiều”.
- Xây dựng được quy trình vận dụng lý thuyết phát triển BT để thiết kế bài
tập và dạy bài tập nhằm phát huy hiệu quả các chức năng LLDH của BT trong

1.1.1. Khái niệm bài tập vật lí
Bài tập vật lí được hiểu là vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhỏ
những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các định
luật các phương pháp vật lí. Hiểu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề xuất hiện do
nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh. Sự định
hướng tư duy một cách tích cực là việc giải BTVL.
1.1.2. Chức năng của BTVL
BTVL là một trong những phương tiện dạy học vật lí rất quan trọng. Thời
gian dành cho việc sử dụng loại phương tiện này chiếm một tỷ trọng lớn so với toàn
bộ chương trình. Nhiều tài liệu lí luận dạy học vật lí coi BTVL là một trong những
phương tiện thực hành. Có tài liệu coi BTVL như là một phương pháp dạy học vật
lí. Đề tài này đề cập đến BTVL với sự kết hợp cả hai cách hiểu trên.
- Xét theo lí luận dạy học thì BTVL có những chức năng sau: [ 9]
+ Củng cố trình độ tri thức và kĩ năng xuất phát cho HS:
Để thực hiện chức năng này thì BTVL là một phương tiện rất có hiệu quả.
Bằng cách giao cho HS giải những bài tập có nội dung và phương pháp gắn với nội
dung và phương pháp của vấn đề sắp được nghiên cứu, GV có thể giúp HS nhớ lại,
củng cố kiến thức đã học một cách vững chắc. Do đó họ sẽ vững vàng hơn khi bước
vào tiếp thu bài mới. Hơn nữa, khi thấy được sự liên quan logic giữa tri thức và kỹ
năng cũ với vấn đề mới, HS càng hứng thú hơn với việc tham gia xây dựng bài mới.
Bởi vì một mặt họ thấy tính hữu ích của tri thức đã học, mặt khác họ vững tin hơn
vào khả năng của mình.
+ Đặt vấn đề nhận thức:


12
Nhiều loại bài tập thực hiện chức năng này rất tốt như bài tập nghịch lý, bài
tập thí nghiệm, bài tập - câu hỏi thực tế,… trước khi vào bài học, nghiên cứu một
vấn đề mới, GV có thể đặt ra cho HS các bài tập có dạng trên và liên quan đến hiện
tượng, quá trình vật lí sắp được nghiên cứu, vừa tạo cho các em cảm giác hưng

Các bài học có nhiệm vụ củng cố tri thức lý thuyết đơn thuần, nhưng BTVL
vẫn có thể được sử dụng rất có hiệu quả trong nhiều trường hợp: Thứ nhất, GV ra
bài tập theo một chuỗi liên kết với nhau. Để giải được loại bài tập đó, HS sẽ phải
lần lượt sử dụng đến tất cả các tri thức đã học của chương hoặc phần tri thức lý
thuyết định tổng kết và hệ thống hóa. Thứ hai, qua từng phần nhỏ tri thức đã tổng
kết, GV đưa ra những bài tập điển hình mà phải nhờ vào những tri thức ấy mới giải
quyết được. Làm như vậy vừa đỡ nhàm chán vừa giúp các em ghi nhớ được lâu
hơn, hiểu rõ bản chất vật lí hơn là việc bắt HS nhắc đi nhắc lại lý thuyết.
+ Kiểm tra, đánh giá chất lượng tri thức, kỹ năng của HS:
BTVL giúp GV kiểm tra được trình độ lĩnh hội tri thức của HS, kỹ năng thực
hành, kỹ năng tính toán, kỹ năng vận dụng lý thuyết để giải quyết những tình huống
cụ thể của thực tiễn. Ngoài ra khi dùng BTVL dưới dạng tự luận nó còn giúp GV
kiểm tra và đánh giá được năng lực tư duy và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của HS.
- Xét theo chức năng thực hiện nhiệm vụ bộ môn:
+ Giáo dưỡng: BTVL là một phương tiện không thể thiếu. Bởi vì BTVL giúp
HS khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ đào sâu và xây dựng các mối liên hệ giữa
các bộ phận kiến thức với nhau. Nhờ đó mà kiến thức trở nên sống động, có ý nghĩa
trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
+ Phát triển: BTVL là phương tiện giúp HS phát triển năng lực nhận thức.
Thông qua việc giải BTVL, HS có được khả năng hình thành và phát triển các thao
tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa, biết lập kế hoạch giải
quyết một vấn đề, kể cả những vấn đề có tính kỹ thuật, sáng tạo. Điều này được
thực hiện khi HS quen với bài tập thí nghiệm, các bài tập gắn với giải quyết các vấn
đề thực tiễn sản xuất và đời sống. Nhờ đó mà BTVL góp phần đào tạo HS thành
những người biết nhận thức thực tiễn và cải tạo thực tiễn.
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho HS:
BTVL cũng là phương tiện giúp HS rèn luyện được những phẩm chất tâm lý
quan trọng như sự kiên trì, nhẫn nại, có tính kế hoạch trong hoạt động nhận thức,
rèn luyện tính tự lực, tự giác trong hoạt động học tập.
+ Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp:

- Bài tập định tính có thể là bài tập đơn giản, trong đó chỉ áp dụng một định
luật, một quy tắc, một phép suy luận logic.
1.1.3.2. Bài tập tính toán


15
- Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực hiện
một loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị một số
đại lượng vật lí. Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài
tập tổng hợp. [16]
- Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề
cập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản.
Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho HS hiểu
rõ ý nghĩa định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lí và
thói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn.
- Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng
nhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức. Những kiến thức cần sử dụng
trong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bài
trước. Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức,
thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho
HS biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giản
tuân theo một định luật xác định.
1.1.3.3. Bài tập thí nghiệm
- “Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chúng
lời giải giả thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập. Những thí
nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản, có thể làm ở nhà, với những
dụng cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được. Để giải các bài tập thí nghiệm, đôi khi
cũng cần đến những thí nghiệm đơn giản. Bài tập thí nhiệm cũng có thể có dạng
định tính hoặc định lượng”. [16]
- Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục

giản và học sinh là nắm vững.
- Kiểu hướng dẫn Algôrit không đòi hỏi học sinh tự mình tìm tòi xác định
các hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinh
chấp hành các hành động mà giáo viên chỉ ra, cứ theo đó học sinh sẽ giải được các
bài tập đã cho. Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoa
học việc giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của các hành
động cần thực hiện để giải các bài toán. Cần đảm bảo cho các hành động đó là hành
động sơ cấp đối với học sinh, nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xây dựng
được Algôrit bài toán.
- Kiểu hướng dẫn Algôrit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinh
phương pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh kỹ
năng giải một bài toán xác định. Người ta xây dựng các Algôrit giải cho từng loại
bài toán cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kỹ năng giải các bài toán đó
dựa trên việc làm cho học sinh được các Algôrit giải.


17
- Kiểu hướng dẫn Algôrit có ưu điểm là bảo đảm cho học sinh giải bài toán
đã cho một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài toán của
học sinh có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn học sinh luôn luôn áp dụng
kiểu Algôrit để giải bài toán thì học sinh chỉ quen chấp hành những hành động đã
được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do vậy ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh khả
năng tìm tòi, sáng tạo và sự phát triển tư duy bị hạn chế.
1.1.4.2. Hướng dẫn tìm tòi (ơrixtic)
- Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh suy
nghĩ, tìm tòi, phát hiện cách giải quyết vấn đề. Ở đây không phải là giáo viên chỉ
dẫn cho học sinh chấp hành các hành động theo hướng đã có để đi đến kết quả, mà
giáo viên gợi mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, tự xác định các hành động cần
thực hiện để đạt kết quả.
- Kiểu hướng dẫn tìm tòi được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh vượt qua

+ Đảm bảo để học sinh giải được bài toán đã cho.
- Để làm tốt thì yêu cầu giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động giải toán
và có sự điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh.
1.1.5. Các hình thức dạy học bài tập vật lí
1.1.5.1. Dạy học bài tập vật lí trong tiết học tài liệu mới
Vào đầu tiết học, các bài tập được đưa ra cho học sinh nhằm mục đích kiểm tra
kiến thức, hoặc để củng cố tài liệu đã học. Giáo viên thường sử dụng các biện pháp
sau:
- Cho học sinh lên bảng và yêu cầu học sinh giải bài tập do giáo viên đưa ra. Tuỳ
thuộc vào mức độ nội dung của bài tập mà có thể cho học sinh lên bảng lần lượt từng
em hoặc đồng thời vài ba em.
- Cho học sinh giải bài tập mà giáo viên đưa ra vào giấy nháp, sau đó trình bày.


19
- Sử dụng các bài tập nhằm mục đích khái quát hóa kiến thức đã cho, nêu được
vấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học. Khi nghiên cứu tài liệu mới, tuỳ theo nội
dung của tài liệu và phương pháp giảng dạy, các bài tập có thể là một phương tiện
đóng vai trò minh hoạ cho kiến thức mới hoặc là một phương tiện để rút ra kiến thức
mới. Ở giai đoạn củng cố tài liệu mới, các bài tập được được đưa ra yêu cầu học sinh
phải vận dụng kiến thức mới để giải quyết với thời lượng khoảng 10 phút. Ở đây, tốt
hơn cả là giáo viên phân tích bài tập tạo cho được không khí hứng khởi đối với học
sinh để giải quyết vấn đề bài tập đặt ra.
1.1.5.2. Dạy học bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí
Cấu trúc tiết học giải bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí được bố trí
như sau:
1. HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút) để học sinh tập dượt kiến
thức lí thuyết, giáo viên phải giúp học sinh nhớ lại, hệ thống lại các kiến thức lí
thuyết đã được học trước đó liên quan đến tiết học.
2. Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút) để học sinh rèn luyện kĩ năng giải

cho phép khái quát hoá nội dung các bài tập tạo điều kiện đi sâu vào giải thích các
hiện tượng vật lí. Đặc biệt là các bài tập có tính chất tổng hợp giúp học sinh liên hệ
rộng tới các đơn vị kiến thức đã học, khắc sâu thêm kiến thức, hệ thống hoá các khái
niệm, các định luật, các công thức cần nắm để vận dụng chúng.
Cấu trúc của tiết học theo qui trình:
1. HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút).
2. Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút).
3. Giải bài tập tổng hợp (20 phút).
4. Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút).
1.1.5.4. Bài tập trong kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh
Bài tập kiểm tra là một phương tiện để đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, khả
năng vận dụng kiến thức của học sinh. Khi giải bài tập, học sinh phải làm việc hoàn
toàn độc lập. Tuỳ theo việc đánh giá mà giáo viên có thể vận dụng một trong hai
hình thức sau đây:


21
- Kiểm tra nhanh: Hình thức này thường dùng để tìm hiểu trình độ, khả năng xuất
phát của học sinh để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lựa nội dung cũng như
phương pháp giảng dạy cho phù hợp, sát đúng với đối tượng học sinh. Hoặc cũng
nhằm để đánh giá khả năng nhận thức của học sinh về một khía cạnh của một đề tài
nào đó. Các bài tập được chọn là những bài để học sinh làm trong thời gian ngắn (từ
10 - 15 phút). Ở đây nên lựa chọn các câu hỏi và các bài tập có nhiều đáp án, buộc
học sinh phải tư duy nhiều hơn để phân tích chọn lựa được phương án đúng (câu hỏi
có nhiều lựa chọn).
- Kiểm tra tổng kết: Hình thức này cho phép giáo viên đánh giá nhận thức của
học sinh không phải chỉ một vài khía cạnh mà là cả một đề tài nào đó, hoặc cả một
phần bài nào đó của tài liệu. Các bài tập được chọn là những bài kiểm tra tổng kết
phức tạp hơn, đòi hỏi học sinh phải hiểu và vận dụng kiến thức ở phạm vi rộng,
hoặc phải phân tích bài tập để nhận ra được những đặc điểm tinh tế ở trong bài.

thực hiện được mục đích của công tác ngoại khoá vật lí.
BTVL rất đa dạng và phong phú, mang đầy đủ ý nghĩa giáo dục, phát triển tư
duy, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Giải BTVL đòi hỏi ở học sinh hoạt
động trí tuệ tích cực, tự lập và sáng tạo.
Dạy học bài tập vật lí phát huy được các chức năng lí luận dạy học của bài tập
và khai thác ở các hình thức dạy học khác nhau như đã trình bày ở mục 1.1 đòi hỏi
tự nghiên cứu và trải nghiệm. Có nhiều con đường xây dựng BT dùng cho dạy học
song việc tổng kết thành lí thuyết thì còn chưa được công bố nhiều.


23
Tác giả Phạm Thị Phú sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết, thực nghiệm qua
một số đề tài luận văn cao học đã công bố lý thuyết phát triển BTVL [12] . Lý thuyết
này cho phép vận dụng dạy học BTVL khá thành công trong nhiều chương của giáo
trình vật lí phổ thông. Trong khuôn khổ đề tài luận văn chúng tôi chúng tôi sẽ vận
dụng lý thuyết này thực nghiệm dạy học BTVL ở khía cạnh mới: Lý thuyết phát
triển bài tập với việc thực hiện các chức năng LLDH của BTVL. Sau đây giới thiệu
lý thuyết phát triển BTVL làm cơ sở lí luận cho đề tài.
1.2. Lý thuyết phát triển bài tập vật lí [12]
1.2.1. Khái niệm phát triển bài tập vật lí
- BTCB: là bài tập mà khi giải chỉ cần sử dụng một đơn vị kiến thức cơ bản
(Một khái niệm hoặc một định luật vật lí), có sơ đồ cấu trúc như sau:
Dự kiện a, b, c

1 KTCB

Giả thiết
thuy

Ẩn số x

f (a, b, c, x)
Giả thiết a, b, c

Kết luận x

Cho a, b, x

Tìm c

Cho a, c, x

Tìm b

Cho b, c, x

Tìm a

Phương án 2: Phát triển giả thiết BTCB
- Dữ kiện bài toán không liên hệ trực tiếp với ẩn số bằng phương trình biểu
diễn kiến thức cơ bản mà kiên hệ gián tiếp thông qua cái chưa biết trung gian a,
b, ... nhờ phương trình biểu diễn kiến thức cơ bản khác. Phát triển giả thiết BTCB là
thay giả thiết của bài tập đó bằng một số BTCB khác buộc tìm các đại lượng trung
gian là cái chưa biết liên hệ dữ kiện với ẩn số.
Cho a1, a2
KTCB a
a
Tìm x
b
KTCB b
Cho b1, b2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status