BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
§oµn ThÞ Kim Thoa
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 7 năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
§oµn ThÞ Kim Thoa
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 7 năm 2012
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi gửi lời cảm
ơn tới:
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4
5. Giả thuyết khoa học
4
6. Phương pháp nghiên cứu
4
7. Những đóng góp mới của luận văn
5
8. Cấu trúc luận văn
5
1.3. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức.
16
1.3.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức.
16
1.3.2. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức.
17
1.3.3. Nội dung giáo dục đạo đức.
18
1.3.4. Phương pháp giáo dục đạo đức.
18
1.3.5. Hình thức giáo dục đạo đức
21
1.3.6. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh THCS
21
1.4. Một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ học sinh THCS.
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội.
33
2.1.2. Đặc điểm giáo dục của quận Gò vấp
34
2.2. Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THCS
Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh.
2.2.1. Thực trạng đạo đức học sinh THCS.
36
36
2.2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho HS ở các trường
THCS quận Gò Vấp.
46
2.2.3. Thực trạng về mức độ phối hợp trong công tác GDĐĐ cho
học sinh
2.3. Thực trạng về công tác quản lý GDĐĐ Cho HS.
52
54
2.3.1. Công tác kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá.
54
3.2.
64
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
64
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
64
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, hệ thống
64
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, khả thi
65
Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ Cho HS ở các trường THCS
quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
66
3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội
ngũ CB-GV-NV, HS, CMHS và chính quyền địa phương
65
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp.
104
3.4. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
106
Kết luận chương 3
108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
112
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDĐĐ
:
Giáo dục đạo đức
:
giáo viên chủ nhiệm
TN
:
thanh niên
TNTP
:
thiếu niên tiền phong
QLGD
:
quản lý giáo dục
GD
:
Giáo dục
GD – Đ T
cơ sở vật chất
BGH
:
ban giám hiệu
TP
:
thành phố
PGS. TS
:
phó giáo sư – tiến sĩ
CNXH
:
chủ nghĩa xã hội
CNTT
:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
GDĐĐ có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong giáo dục nhà trường, GDĐĐ với
với tư tưởng chính trị có vai trò định hướng cho các nội dung giáo dục khác.
Nhà trường thông qua công tác GDĐĐ có thể nâng cao hiệu quả giáo dục, thúc
đẩy hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục khác. Trong xu thế hội nhập của thế giới
hiện đại, GDĐĐ trong nhà trường giữ vai trò rất quan trọng trong định hướng
cuộc sống và lựa chọn giá trị của thế hệ trẻ.
Đại hội XI của Đảngcũng xác định mục tiêu chiến lược năm 2011 – 2020
về phát triển nguồn nhân lực đã đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục đạo đức
trong nhà trường "Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát
triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý Giáo dục – Đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất
nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà
trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện
cho mọi công dân được học tập suốt đời".
Đất nước ta đang chuyển mình trong bối cảnh toàn cầu hóa, có thể nói
rằng, quá trình hội nhập, toàn cầu hóa sẽ đem lại những yếu tố mới cho việc
làm sâu sắc thêm, phong phú thêm những giá trị truyền thống, đồng thời cũng
gây ra những xáo trộn, những thay đổi trong lối sống, trong những quan niệm
về các chuẩn mực đạo đức xã hội; làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần
quan tâm như bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa. Quá trình hội nhập quốc tế
9
về tình bạn, tình yêu, cách sống, thẩm mỹ...trong khi các em chưa được trang bị
và thiếu kiến thức về những vấn đề này.
Trong những năm gần đây, tình hình giáo dục quận Gò Vấp đã đổi mới
mạnh mẽ quan điểm dạy học từ “dạy số đông” sang “dạy cá thể” nhằm hiện đại
hóa nhà trường từ nhận thức đến hành động. Chất lượng giáo dục có những tiến
bộ rõ rệt và bước đầu có tác động thuyết phục, ảnh hưởng tốt trong nhà trường
và ngoài xã hội. Tuy nhiên, một vấn đề mà các cấp chính quyền, CMHS, thầy cô
giáo, các tầng lớp khác trong xã hội quan tâm, lo ngại nhiều, đó là vấn đề suy
thoái đạo đức của một bộ phận học sinh. Mặc dù, các trường THCS của quận Gò
Vấp đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích nhất định về giáo dục
toàn diện cho HS nhưng do ảnh hưởng của xu hướng hội nhập cùng với những
tiêu cực nảy sinh từ nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý, đời
sống của mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Hậu quả là ngày càng có nhiều học
sinh có những hành vi lệch chuẩn đạo đức. Vì thế việc GDĐĐ cho HS ngày
càng gặp nhiều khó khăn, biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS còn nhiều
bất cập. Cho đến nay chưa có một tác giả nào nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm
để rút ra kết luận khoa học về việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDĐĐ
cho HS trên địa bàn quận.
Trên cơ sở đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp quản lý
công tác giáo dục đạo đức học sinh ở các trường Trung học cơ sở Quận Gò
Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh”
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số giải pháp về công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở
các trường THCS Quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở
các trường THCS quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh..
12
- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên,
học sinh, cha mẹ học sinh.
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của nhà trường: Họp Hội
đồng giáo dục, các buổi sinh hoạt ngoài giờ, sinh hoạt chủ nhiệm, sinh hoạt
Đội…
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL, Tổng phụ trách Đội, Bí thư
Đoàn và quản lý địa phương về việc quản lý và phối hợp trong các hoạt động
giáo dục đạo đức học sinh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục nói chung và giáo dục
đạo đức học sinh nói riêng.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3. Phương pháp nghiên cứu bổ trợ: phương pháp thống kê toán học.
7. Những đóng góp mới của luận văn:
7.1.
Đóng góp về mặt lí luận:
Góp phần hệ thống và cụ thể hoá một số vấn đề lí luận về quản lý giáo dục,
quản lý giáo dục đạo đức học sinh THCS.
7.2. Đóng góp về mặt thực tiễn:
Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ
sở của Quận Gò Vấp và đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh các trường THCS ở Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh..
8. Cấu trúc luận văn:Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay
ở các trường Trung học cơ sở Quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh
tưởng rất tiến bộ về giáo dục: Ông mở đầu Chính Trị Luận của mình bằng lập
luận rằng "Nhà nước, hay cộng đồng chính trị là cái tốt cao nhất" và lý do để
nhà nước hiện hữu là để giúp cho công dân sống một đời sống "tốt". Do đó, việc
giáo dục công dân trở thành những người dân đạo đức là điều tối quan trọng.
Khi một nước có được những người dân vừa học thức lại vừa đức hạnh, dĩ nhiên
đất nước đó phải trở nên tốt hơn.
-
Ở phương Đông, ngay từ thế kỷ thứ V - VI Tr.CN, Khổng Tử đã cho
rằng giáo dục - đào tạo có thể hướng con người tới chỗ hoàn thiện. Ông đã
14
xem giáo dục là nền tảng của đời sống đạo đức, kinh tế, chính trị, xã hội. Khổng
Tử cho rằng nhân cách con người được hình thành không chỉ thuần túy bởi điều
kiện môi trường sống mà còn do điều kiện giáo dục quyết định, với mỗi người
các đức tính như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng cần phải được học tập, rèn luyện
thì mới phát triển đúng hướng và mới có thể vận dụng vào trong cuộc sống. Ông
thấy được giáo dục không chỉ có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân
cách của mỗi cá nhân mà còn quyết định đến vận mệnh và tương lai của cả một
dân tộc, vì vậy ông đã chủ trương đề cao giáo dục đào tạo con người.
- J.A.Cômenxki (1592 - 1670), nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Séc và của thế
giới. Nhiều vấn đề do ông xây dựng có giá trị mở đường để giáo dục tiến tới sự
hoàn thiện. Một trong những vấn đề ông đặc biệt quan tâm là đức dục.
Cômenxky chú trọng môi trường bên trong với môi trường để GDĐĐ cho HS.
- Thế kỷ XX, một số nhà GD nổi tiếng của Liên Xô cũng nghiên cứu vế
GDĐĐ cho HS mà điển hình là Antôn Sêmiônnôvic Makarenkô vừa là nhà văn
vừa là nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc. Sau nhiều năm hoạt động trong thực tế, ông
giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các
hành vi đạo đức cho học sinh.
- Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và
hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện giáo dục
đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng
nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục.
- Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo
dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với giáo dục
đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề
nghiệp cho thế hệ trẻ.
Có những tác giả tuy không đi sâu vào giáo dục đạo đức, nhưng khi bàn về
giáo dục đã đề cập tới giáo dục đạo đức như GS. Hồ Ngọc Đại, khi đề xuất
"công nghệ giáo dục", tìm kiếm những giải pháp hiện đại hóa "nền giáo dục
16
giành cho trăm phần trăm dân cư" đã công bố một số công trình có liên quan tới
giáo dục đạo đức.
Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thức khoa học
với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự
báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000.
Trong những năm đổi mới, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết nhiều tác phẩm
nghiên cứu về Hồ Chí Minh và về giáo dục, thể hiện tâm huyết đối với GDĐĐ
cho thế hệ trẻ mà ông xem là chức năng quan trọng của nhà trường. Ông đã viết:
Nhà trường, từ mẫu giáo đến đại học là nơi rèn luyện, nơi đào tạo con người trở
thành những người được trang bị tốt về phẩm chất, đạo đức, nghề nghiệp, phong
cách và cống hiến, trở thành những người chiến sĩ của một sự nghiệp vĩ đại xây
dựng Tổ quốc ta, dân tộc Việt Nam ta, sự nghiệp nước ta theo định hướng
XHCN và tiến lên cao hơn nữa, tiến đến cái đích mà C. Mác đã chỉ rõ: "Thay
gian, từ mọi lực lượng xã hội, trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan trọng.
GDĐĐ trong nhà trường THCS là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể,
nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ phận khác như giáo dục
trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, lao động, hướng nghiệp…
GDĐĐ cho HS là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức
của nhân cách HS dưới những tác động có mục đích được tổ chức có kế hoạch,
có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp với lứa
tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. Từ đó giúp HS có những hành vi
ứng xử đúng mực trong những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá
nhân với cộng đồng - xã hội, với môi trường…
Bản chất của GDĐĐ là chuổi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục
và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh chuyển những chuẩn mực, quy
tắc, nguyên tắc đạo đức từ bên ngoài vào bên trong thành cái riêng của mình mà
mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn
mực xã hội. GDĐĐ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niện, những tri
thức đạo đức mà quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải được thể hiện qua
tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của HS. [15]
Như vậy GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho học
19
sinhnhững tri thức – ý thức đạo đức, niềm tin, tình cảm đạo đứcvà quan trọng
nhất là hình thành ở các em hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn
mực xã hội.
1.2.3. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường:
1.2.3.1.
Khái niệm quản lý:
Khái niệm về “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau và được
chia ra nhiều cấp độ
Tác giả Trần Kiểm chia QLGD thành 2 cấp độ: quản lý vĩ mô và quản lý vi
mô. QLGD cấp vĩ mô là quản lý nền giáo dục hay hệ thống giáo dục; QLGD cấp
vi mô là quản lý nhà trường.
Ở tầm vi mô có thể hiểu quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác
(có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của hiệu trưởng
đến tập thể giáo viên, học sinh, những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động của
nhà trường giúp quá trình giáo dục vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến.[18]
Từ khái niệm, ta có thể thấy rõ 4 yếu tố của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể
quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố
này tạo thành sơ đồ sau:
Chủ thể
quản lý
Đối
tượng
quản lý
Mục tiêu
quản lý
Khách
thể quản
lý
Các yếu tố trên có quan hệ tương tác, gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra
những tác nhân tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể
quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực
nghiệp CNH và HĐH của đất nước.
1.2.4. Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức:
Quản lý GDĐĐ là một quá trình chỉ đạo, điều hành công tác GDĐĐ của chủ
thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất
22
đạo đức của học sinh, đảm bảo quá trình GDĐĐ đúng hướng, phù hợp với chuẩn
mực, quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.
Quản lý GDĐĐ là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức,
phương tiện GDĐĐ, đảm bảo cho quá trình GDĐĐ được tiến hành một cách
khoa học, đồng bộ, phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, góp phần
hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh.
Quản lý GDĐĐ cho HS còn là quá trình huy động các lực lượng giáo dục,
các điều kiện, các phương tiện giáo dục; phối hợp với các môi trường giáo dục,
giúp học sinh có tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình thành hành vi đạo
đức phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Quản lý GDĐĐ học sinh là những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ
thống của Hiệu trưởng đến tập thể giáo viên, học sinh và những lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp
vào các hoạt động giáo dục của nhà trường giúp quá trình giáo dục vận động tối
ưu tới các mục tiêu dự kiến.
1.2.5. Giải pháp và giải pháp quản lý giáo dục:
1.2.5.1. Giải pháp:
Theo Tự điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Giải pháp là phương
pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” [24]
Theo Tự điển Tiếng Việt mới của Gia Tiến, Việt Anh, Công Thành thì định
nghĩa một cách ngắn gọn là: “Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề gì”. [28]
Như vậy, nghĩa chung nhất của giải pháp là cách giải quyết một vấn đề, một
• Thái độ:
- Yêu quê hương đất nước Viện Nam; tự hào và có ý thức giữ gìn, phát huy
các truyền thống tốt đẹp của dân tộc;tôn trọng đất nước, con người và các nền
văn hóa khác.
- Yêu thương, tôn trọng những người chung quanh.
24
- Tự trọng, tự tin trong giao tiếp và các hoạt động hàng ngày. Có ý thức thực
hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời tôn trọng các quyền của người khác.
- Có ý thức học tập và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Có ý thức
định hướng nghề nghiệp đúng đắn. Bước đầu hình thành được một số phẩm chất
cần thiết của người lao động như cần cù, sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm, có
ý thức kỷ luật và tác phong nghề nghiệp, biết hợp tác trong công việc.
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với khả
năng.
- Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường.
- Bước đầu có ý thức thẩm mỹ, yêu và trân trọng cái đẹp
Có thể khái quát mục tiêu GDĐĐ như sau: Chuyển hóa những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học
sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực
hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật.
1.3.2. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
- Hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học, nắm được những quy luật
cơ bản của sự phát triển xã hội, có ý thức thực hiện nghĩa vụ của người công
dân, từng bước trang bị cho học sinh định hướng chính trị kiên định, rõ ràng.
- Giúp học sinh hiểu và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đường lối
chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, có ý thức học tập, làm việc và
tuân thủ theo Hiến pháp và Pháp luật.
Phương pháp GDĐĐ là cách thức hoạt động chung giữa giáo viên với tập
thể học sinh và từng học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội được nền văn hóa đạo
đức của dân tộc và của loài người.
Các phương pháp GDĐĐ ở THCS rất phong phú, đa dạng và kết hợp giữa
phương pháp truyền thống với hiện đại như: