1
Mở đầu
1.
Lý do chọn đề tài.
- Về mặt lý luận
+ Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, công nghiệp hóa cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến những thay đổi lớn trong
đời sống xã hội. Bên cạnh những thành tựu đạt được, sự phát triển đã dẫn đến hệ
quả của nó là việc nảy sinh những hiện tượng xã hội đáng lo ngại. Đó là những
thói quen , hành vi, nhận thức lệch lạc được hình thành, hiện tượng phôi pha dần
với lịch sử dân tộc, không biết đến hoặc quên đi công lao, sự cống hiến vĩ đại
của các anh hùng dân tộc đã trở thành phổ biến. Như Ma- cau-lay từng nói:
“Người nào không tự hào về những thành tựu cao quý của tổ tiên mình, sẽ
không đạt được điều gì để con cháu mình ghi nhớ”. Chính vì thế, tìm về cội
nguồn là nhu cầu bức thiết.
Văn hoá là động lực cho sự phát triển, truyền thống lịch sử oai hùng của dân
tộc với những chiến công hiển hách, với những nhân vật lịch sử đã đi vào huyền
thoại đã đang và sẽ tiếp thêm sức mạnh, dũng khí, niềm tin cho các thế hệ hôm
nay và mai sau.
+ Ngày nay, sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng làm chúng ta
thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận thông tin và tri thức ngày càng phổ biến,
nhưng bảo tàng với vai trò là một thiết chế văn hóa đặc thù vẫn không hề suy
giảm khả năng đưa thông tin vào công chúng, những tri thức chân thực đáng tin
cậy và lý thú từ các bộ sưu tập hiện vật gốc vốn thấm đượm và phản ánh sâu sắc
trí tuệ, tài năng, tinh thần và vật chất của thế hệ Việt Nam, của hồn thiêng sông
núi và dân tộc.
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức sáng ngời là vĩ nhân của dân
tộc đã đi vào huyền thoại, Nghị quyết của tổ chức Giáo dục khoa học Liên
Hợp Quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 nǎm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
nêu rõ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng công tác GDTT tại KDTKL
2.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể: Công tác quản lý GDTT ở Hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục
truyên thống tại KDTKL.
3.
Giả thuyết khoa học
4
Nếu xây dựng và thực hiện được những giải pháp có cơ sở khoa học phù hợp
với thực tiễn và có tính khả thi, thì sẽ có thế nâng cao chất lượng giáo dục
truyển thống tại KDTKL
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
5.1. Nhiệm vụ.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý nâng cao chất lượng công tác
GDTT tại Hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý nâng cao chất lượng công tác
GDTT tại KDTKL.
- Đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao năng lực công tác GDTT tại
KDTKL
5.2. Phạm vi nghiên cứu.
Vì điều kiện thời gian nên chúng tôi chỉ tổ chức thăm dò đánh giá về tính
cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp chứ không tổ chức thực hiện.
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC TRUYỀN THỐNG Ở HỆ THỐNG BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của gia đình, quê hương đối với sự hình
thành nhận thức, nhân cách, con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và ý nghĩa
của nó trong cuộc sống đương đại, nhiều tác giả đã chú tâm nghiên cứu về
KDTKL. Nhiều cuộc hội thảo liên quan đến KDTKL đã được tổ chức.
Hội thảo nghiên cứu khoa học về KDTKL năm 1983 có 25 tham luận
khoa học liên quan đến các nội dung của KDTKL. Tuy nhiên, các tham luận
nghiên cứu về KDTKL ở góc độ văn hóa và nghiệp vụ bảo tàng, đề cập đến các
vấn đề bảo tồn di tích sân vườn, các vấn đề về mối quan hệ xã hội của gia đình
ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, và có một tham luận đề cập đến “Truyền thống
của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Minh Siêu, đã làm rõ
truyền thống yêu nước, thương dân, truyền thống văn hóa của gia đình Người.
Hội thảo khoa học “Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, quê hương Nghệ
Tĩnh với Bác Hồ ” do Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh tổ chức năm 1989 có 58 bài báo cáo
khoa học, trong đó có những đề tài đề cập đến việc đánh giá truyền thống xứ
Nghệ và ảnh hưởng của nó đối với Chủ Tịch Hồ Chí Minh, như: “Chất Nghệ
Tĩnh trong nhà văn hóa lớn Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh” của giáo sư Phan
Văn Các; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với truyền thống văn hóa quê hương Nghệ
Tĩnh” của Nguyễn Sỹ Cẩn; “Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước và việc xác
định hướng đi tìm chân lí cứu nước cứu dân” của Trần Ngọc Giản; “Bác Hồ với
quê hương” của giáo sư Phong Lê; “Bảo vệ phát huy tác dụng KDTKL” của
Trương Văn Đức…
di tích lưu niệm chủ tích Hồ Chí Minh tại quê hương”, (1993) “Những người
thân trong gia đình Bác Hồ ” (1995), “ Quê hương trong lòng Bác ” (1995).
Một số đề tài luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu về KDTKL: “ Bảo tồn không
gian văn hóa quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Hồ Thị Quỳnh Thoa;
“KDTKL với hoạt động GDTT yêu nước cách mạng ” của Lâm Đình Hùng.
Khóa luận tốt nghiệp “KDTKL trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường THPT
Nghệ An” của Đậu Thị Mỹ Thanh.
Một số bài viết về công tác GDTT tại KDTKL đã được đăng trên các tạp
chí như: Bài “Công tác tuyên truyền giáo dục tại KDTKL” của Bùi Thị Bích
8
Đảm; “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại quê hương” của Nguyễn Bá Hòe; “Công tác tuyên truyền hướng dẫn khách
tham quan ở KDTKL” của Nguyễn Thị Minh Huệ.
Các công trình nghiên cứu, các bài viết về KDTKL chủ yếu đề cập đến
công tác trùng tu tôn tạo bảo tàng, di tích, ít có bài viết nghiên cứu về công tác
GDTT, nhất là về quản lý công tác này, duy chỉ có luận văn “KDTKL với hoạt
động GDTT ” của Lâm Đình Hùng đã nghiên cứu sâu và có hệ thống về công
tác GDTT tại KDTKL, tuy nhiên, luận văn vẫn chưa đề cập đến biện pháp quản
lý hiệu quả công tác này.
Nhìn chung, rất ít bài viết đề cập đến công tác quản lí GDTT tại KDTKL,
có chăng chỉ là sự cập đến khi nghiên cứu đến các vấn đề có liên quan. Hiện
nay, chưa có bài viết, công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống về vấn đề
này.
Để phát huy tốt các giá trị của di tích Kim liên, nhất là giá trị GDTT cho
các thế hệ tầng lớp khách tham quan, cần nâng cao hiệu quả quản lí chất lượng
công tác GDTT tại KDTKL. Đây chính là nhiệm vụ mà tác giả luận văn đặt ra
cho mình.
Chủ tịch - nơi Người về cõi vĩnh hằng.
Hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh:
1.
Khu di tich Kim Liên (Nghệ An)
2.
Khu di tích Bắc Bó (Cao Bằng)
3.
Di tích Vạn Phúc (Hà Đông)
4.
Di tích 48 Hàng Ngang (Hà Nội)
5.
Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Bình Thuận
6.
Di tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Đồng Tháp)
7.
Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành thố Hồ Chí Minh.
8.
Bảo tàng Hồ Chí Minh Chi nhánh Thừa Thiên- Huế.
9.
Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Quân Khu V.
10.
Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum.
11.
Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long.
12.
Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác ( Thành phố Vinh)
13.
Di tích Nghĩa Lộ Yên Bái.
14.
Bảo tàng Hồ Chí Minh- Hà Nội.
chí, phim ảnh…) với các kiểu học tập rất đa dạng, linh hoạt trong đó người học
đóng vai trò “trung tâm”. Giáo dục là quá trình diễn ra liên tục trong mọi môi
trường hoạt động của con người, trong đó, học đường là môi trường đào tạo có
vai trò rất quan trọng.
+ Theo nghĩa hẹp: Giáo dục bao gồm quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ
sở khoa học của thế giới quan, lí tưởng đạo đức, thái độ thẩm mĩ của con người,
11
kể cả việc nâng cao thể lực. Quá trình này được xem là một bộ phận của quá
trình giáo dục tổng thể, kết quả không chỉ được xem xét về mặt nhận thức mà
còn căn cứ trên các hành vi, thói quen, biểu hiện trình độ phát triển (cao hay
thấp) của trình độ “có giáo dục” của mỗi con người.
Như vậy, giáo dục là một quá trình, diễn ra trong nhiều môi trường, học
đường là môi trường đóng vai trò quan trong nhất, nhưng bên cạnh đó, môi
trường ngoài trường học đóng vai trò không nhỏ trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của con người. Bởi vậy cần phát huy giá trị giáo dục của
các loại hình ngoài trường học trong đó có cần coi trọng và phát huy công tác
giáo dục tại các các bảo tàng.
1.2.2.2. Truyền thống.
Từ truyền thống tiếng La tinh là Traditio “hành vi lưu truyền”; là động từ
Tradere “chuyển sang cho người khác, giao lại cho người khác”
Về truyền thống có nhiều cách hiểu, song có thể thống nhất ở nội hàm:
truyền thống là những gì được lưu giữ, bảo tồn từ thế hệ này qua thế hệ khác;
thứ được trao truyền có thể là những tri thức kinh nghiệm xã hội, là văn hoá
hoặc hẹp hơn là đạo đức lối sống, phong tục tập quán, tư tưởng.
Truyền thống mang trong nó tính hai mặt: Một mặt truyền thống góp phần
suy tôn, gìn giữ những gì quý giá, là cốt cách nền tảng để phát triển cộng đồng,
ở góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể
giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những
khuôn mẫu xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người thông qua
không gian và được cố định hoá dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ,
pháp luật và dư luận… ” [28].
Như vậy, có thể khái quát văn hoá truyền thống có những tích chất cơ bản sau:
Tính giá trị: Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá truyền thống mang tích
giá trị, văn hoá truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và
góp phần phát triển cuộc sống. Văn hoá truyền thống mang tính giá trị bởi nó là
chuẩn mực, là thức đo hành vi đạo đức cho những quan hệ ứng xử giữa con
người và con người trong một cộng đồng, giai cấp, quốc gia, dân tộc nhất định.
Giá trị văn hoá truyền thống của một dân tộc là những nguyên lí đạo đúc lớn mà
13
con người trong một nước thuộc các thời đại, giai đoạn lịch sử đều dựa vào để
phân biệt phải trái đúng sai, để định hướng cho các hoạt động vì mục đích xây
dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó.
Tính tuyên truyền: Văn hoá ra đời và phát triển suốt chiều dài của lịch sử
dân tộc, những giá trị của nó được lưu truyền , chuyển giao, tiếp nối, qua nhiều
thế hệ và giá trị văn hoá truyền thống đó được lưu truyền, gìn giữ, phát huy lên
một tầm cao mới. Qua hàng ngàn năm lịch sử, các giá trị văn hoá truyền thống
Việt Nam như yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền
phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam
Tính ổn định: Những giá trị văn hoá truyền thống được gợn lọc khẳng định
qua nhiều thế hệ, nó trở thành cái Chân- Thiện- Mỹ được xã hội thừa nhận. Nó
một trong những hệ giá trị của văn hoá dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức
xã hội. văn hoá truyền thống trở thành những khuôn mẫu được cố định hoá dưới
dạng phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận, pháp luật…những đạo lí uống nước
nhó nguồn, lá lành dùm lá rách trở thành những giá trị ổn định, nó là những
thông tin nguyên gốc.
Thứ tư có quyết định công nhận về mặt pháp lí của bộ Văn hoá- thông tin
hoặc được vào sổ kiểm kê của các bảo để trở thành hiện vật.
Như vậy, bản thân hiện vật là nguồn đầu tiên của tri thức, nó cung cấp
những tri thức nguyên gốc và nó chứa đựng những giá trị truyền thống, lịch sử
của một giai đoạn, thời kì, của một địa phương, vùng miền, hay những cá nhân
tiêu biểu của thời kì hay địa phương đó.
Ngày 20/11/1960, khi đến thăm viện bảo tàng cách mạng Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết vào sổ vàng: “Viện bảo tàng là một trường học tốt về
lịch sử cách mạng của dân tộc ta…các tài liệu hiện vật trưng bày sẽ làm cho mọi
người tăng thêm lòng tin tưởng ở Đảng và chế độ tốt đẹp của chúng ta.”
1.2.2.3. Giáo dục truyền thống.
GDTT được hiểu là quá trình truyền đạt và tiếp thu tri thức, hiểu biết và các
giá trị truyền thống tiêu biểu, phản ánh cuộc sống, tâm tư tình cảm, lối sống,
phong tục tập quán tốt đẹp của một địa phương, dân tộc, vùng miền. GDTT
chính là gìn giữ, bồi đắp và phát triển những giá trị tốt đẹp của dân tộc ta như
truyền thống đoàn kết dân tộc; đấu tranh bất khuất; yêu nước thương nòi, tương
15
thân tương ái lá lành đùm lá rách, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo.
GDTT là hình thành nhân cách bản lĩnh cho những thế hệ công dân mới, và là
điểm tựa để sáng tạo các giá trị văn hóa mới, đồng thời, là cơ sở để bảo vệ các
giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chống lại văn hóa ngoại lai không phù hợp
với truyền thống dân tộc, và những thứ phản văn hóa là hệ quả của nền kinh tế
thị trường.
* Con đường giáo dục truyền thống.
- Con đường gia đình: các thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau từ truyền
thống gia đình, dòng họ, phong tục tập quán, lối sống cách ứng xử của ông bà
lành mạnh, ủng hộ cá nhân, hành vi tốt, lên án mạnh mẽ những cá nhân, hành vi
phi đạo đức đi ngược với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
GDTT tại các bảo tàng di tích. Công tác giáo dục là một hoạt động nghiệp vụ
quan trọng, góp phần quan trọng trong việc thực hiện chức năng giáo dục của
bảo tàng. Đây là khâu cuối trong chu trình hoạt động của bảo tàng, thực hiện các
hình thức tiếp cận với công chúng. Với chức năng giáo dục khoa học, bảo tàng
tham gia vào hoạt động giáo dục chung của toàn xã hội. Công tác giáo dục của
bảo tàng lấy tài liệu- hiện vật gốc làm phương tiện, thông qua các hình thức tiếp
cận, chuyển giao có mục đích những thông tin tri thức khoa học, đạo đức, thẩm
mĩ cho công chúng, qua đó góp phần mang lại tri thức, hiểu biết khoa học, hoàn
thiện nhân cách, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho
công chúng. Bảo tàng đóng vai trò là một thiết chế văn hóa đặc thù, là “trường
học” thích hợp cho mọi lứa tuổi.
1.2.3. Chất lượng và chất lượng giáo dục truyền thống.
1.2.3.1. Chất lượng.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng, theo từ điển Tiếng Việt,
chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc”.
Theo ISO 9000, chất lượng là “mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp
các đặc tính vốn có”
Theo Harvey và Green (1993), chất lượng được định nghĩa như tập hợp các
thuộc tính khác nhau:
+) Chất lượng là sự xuất sắc
+) Chất lượng là sự hoàn hảo
17
+) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu
+) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền bỏ ra
+) Chất lượng là sự chuyển đổi về chất
+ Khả năng truyền thụ tri thức;
+ Khả năng lĩnh hội tri thức có thể đạt được;
+ Các điều kiện phục vụ tốt công tác GDTT.
+ Kết quả sự tác động của các hình thức GDTT.
1.2.4. Quản lý và quản lý chất lượng giáo dục truyền thống.
1.2.4.1. Khái niệm quản lí.
Quản lí là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
của lao động. Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm, đã đòi hỏi phải
có sự phối hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống, do đó cần sự quản
lí. Ngày nay, quản lí đã trở thành hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực,
mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt
nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công
việc nhằm đạt mục tiêu chung.Trong đời sống kinh tế -xã hội thì vấn đề quản lí
càng trở nên hết sức phức tạp. Quản lí diễn ra ở từng cơ quan, ban nghành, địa
phương, trên từng quốc gia và lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu nhằm giải quyết
những vấn đề chung nảy sinh, như vấn đề dân số và lao động, y tế, môi trường,
chiến tranh, tội phạm…mà một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết được. Do
đó có thể kết luận rằng, nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản lí.
Như vậy, quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
- Quản lí bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lí thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận (hay phân hệ), đó là chủ thể
quản lí (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lí, điều khiển), đây là quan
hệ ra lệnh- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lí bao giờ cũng là quản lí con người.
- Quản lí là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật
khách quan.
- Quản lí xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
* Vai trò của quản lí được thể hiện bằng những tác dụng cụ thể sau:
1.3. Một số vấn đề lý luận về công tác giáo dục truyền thống ở Hệ thống bảo
tàng Hồ Chí Minh
20
1.3.1. Mục tiêu của GDTT ở các khu di tích, bảo tàng về Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh, mục
tiêu công tác GDTT được xác định là: Tuyên truyền giáo dục cho các thế hệ
người Việt Nam hiểu rõ về cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức, phong
cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó hình thành ở mỗi người tình cảm kính
yêu lòng biết ơn đối với Bác, ý thức học tập làm theo Bác, và lí tưởng sống như
Bác.
1.3.2. Nội dung giáo dục truyền thống ở hệ thống bảo tàng Hồ Chí Minh.
Thông qua các tài liệu hiện vật tại các di tích, bảo tàng cung cấp cho công
chúng những tri thức có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh:
- Quê hương, gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh- mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền
thống, với con người xứ Nghệ thông minh, cần cù, chịu khó, anh dũng kiên
trung đã sinh thành hun đúc nên tâm hồn nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Hành trình Người
ra đi tìm đường cứu nước; Quá trình Người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam
và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Hồ Chí Minh và các chiến
dịch lịch sử…Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc
và đấu tranh thống nhất đất nước.
- Những giá trị Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: tư tưởng của Người về
Cách mạng; về Đảng cộng sản; về nhà nước pháp quyền; về xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân; về đạo đức; về văn hóa; về y tế; về giáo dục; về báo chí; về
sửa đổi lề lối làm việc…
- Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh: lối sống bình dị; phẩm chất
trong sáng, cần- kiệm- liêm- chính, chí công- vô tư, hi sinh trọn đời mình cho
Chí Minh đã xây dựng các bộ triển lãm, sau khi khai mạc triển lãm, các bộ triển
lãm này được gửi cho các di tích bảo tàng trong hệ thống. Trên cơ sở nội dung
bộ triển lãm và thực tế của mình, di tích bảo tàng biên tập và trưng bày lại nội
dung phù hợp.
+ Giáo dục truyền thông qua hoạt động nói chuyện chuyên đề. Trên cơ sở tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và yêu cầu của xã hội, Bảo tàng Hồ Chí Minh
đã xây dựng các chuyên đề phục vụ công chúng:
22
Qua những buổi nói chuyện, công chúng được tiếp thu những tri thức khoa
học, được tiếp xúc trao đổi với những nhà nghiên cứu, được giải đáp những vấn
đề còn khúc mắc, các buổi thuyết trình như vậy thực sự có ý nghĩa về mặt khoa
học và tác dụng giáo dục.
+ GDTT thông qua hoạt động chiếu phim tư liệu. Chiếu phim thực sự là một
hoạt động sử dụng tư liệu nghe nhìn để phục vụ công chúng. Các bộ phim tư liệu
về Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng chân thực, có tính khái quát và tiêu
biểu giúp công chúng có cái nhìn hệ thống, toàn cảnh và sâu sắc về thân thế, sự
nghiệp và tư tưởng, cũng như hiểu rõ hơn về cuộc sống, phẩm cách bình dị
nhưng thanh cao của Người.
+ GDTT thông qua việc phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng
truyền hình truyền thanh giáo dục tư tưởng phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ
Chí Minh thông qua việc kể những mẫu chuyện nhỏ về cuộc sống và ứng xử của
Người.
+ GDTT thông qua hoạt động khám phá. Đây là hình thức hoạt động mới tại
bảo tàng Hồ Chí Minh, qua các hoạt động đã diễn ra trong lịch sử và những chất
liệu, phương tiện có sẵn tương tự, công chúng có thể tự mình diễn lại tất cả
những hoạt động đó. Đây là hoạt động cho công chúng tự trải nghiệm và từ đó,
tự mình rút ra kinh nghiệm cũng như ý nghĩa của hoạt động. Ví dụ: hoạt động
di tích và hiện vật biến dạng, giảm tuổi thọ, phải tăng cường nhiều hơn trong
công tác trùng tu và bảo quản.
+ Đội ngũ quản lí: Là những người trực tiếp quản lí đội ngũ GDTT, người
hoạch định chương trình, nội dung, phương pháp cũng như quản lí, giám sát
thực hiện công tác GDTT tại đơn vị. Năng lực, trình độ của đội ngũ này ảnh
hưởng đến mức độ, khả năng phát triển công tác GDTT tại các bảo tàng di tích.
+ Công tác trưng bày: Trưng bày được coi là ngôn ngữ đặc trưng, riêng có
của bảo tàng. Trưng bày thực hiện trên cơ sở thành quả nghiên cứu, sưu tầm,
kiểm kê bảo quản hiện vật, và gắn liền với công tác giáo dục, phục vụ công
chúng của bảo tàng. Với việc lưu giữ, trưng bày và gới thiệu các hiện vật cùng
giá trị của chúng, bảo tàng khác biệt với các thiết chế văn hóa khác. Đây có thể
coi là một “Công cụ chính của công tác giáo dục”[7]. Bởi vì hiện vật và các sưu
24
tập hiện vật trong bảo tàng chứa đựng những giá trị văn hóa, khoa học sâu sắc.
Qua hệ thống trưng bày của bảo tàng, khách tham quan có thể tiếp cận trực tiếp
với hiện vật bảo tàng, lĩnh hội những tri thức mới, cũng cố những kiến thức đã
có, có những suy nghĩ cảm nhận về những vấn đề mà bảo tàng thể hiện. Sự khơi
gợi cảm xúc có thể dẫn đến việc thay đổi nhận thức thái độ và quan điểm. Tất cả
những điều đó hỗ trợ khách tham quan tham gia vào quá trình học tập cá nhân
một cách tích cực, tự nhiên không gượng ép. Muốn thực hiện tốt công tác tuyên
truyền trước hết phải làm tốt khâu trưng bày tài liệu, hiện vật. Đây là phương
tiện cho công tác tuyên truyền. Trưng bày hợp lí và khoa học, hiện đại và sinh
động giúp công chúng dễ dàng tiếp cận và nhận thức, sẽ thuận lợi hơn trong
công tác tuyên truyền và nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Trưng bày bảo tàng
luôn thay đổi, sáng tạo và phát triển.Trưng bày hấp dẫn sẽ thu hút công chúng,
ngược lại, trưng bày nghèo nàn, thiếu tính khoa học, ít thay đổi dần dần sẽ bị
công chúng khước từ.
di tích.
1.4.3. Quản lý đội ngũ tham gia công tác GDTT ở Hệ thống bảo tàng Hồ Chí
Minh.
Công tác qui hoạch tuyển chọn đội ngũ theo qui định chung của nhà nước.
Các đơn vị di tích, bảo tàng tuyển dụng cán bộ làm công tác GDTT theo yêu
cầu của đơn vị cần về bằng cấp, chuyên nghành, hình thức, năng khiếu…Hình
thức tuyển dụng: tổ chức thi tuyển công chức. Sau khi tuyển dụng đơn vị tiếp tục
đào tạo cán bộ theo chuyên môn công việc yêu cầu.
Công tác bồi dưỡng đội ngũ bao gồm công tác tự học nâng cao trình độ
nghiệp vụ và công tác đào tạo: bằng hình thức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ;
cử đi học các lớp nâng cao trình độ về mọi mặt như ngoại ngữ, tin học, lí luận
chính trị, cao học…
Công tác đánh giá đội ngũ qua số lượng đoàn hướng dẫn, qua đánh giá
chất lượng bài viết, qua kiểm tra chất lượng thuyết minh, qua khả năng hoàn
thành đầu việc được giao.