LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ dẫn tận tâm của tất cả các giảng viên
trực tiếp giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua, đặc biệt là
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô đang công tác tại Khoa Sau đại
học và Khoa GD Trường Đại học Vinh.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh,
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn Ban Thường vụ huyện ủy, Hội LHPN
huyện Phù Mỹ, và các anh chị học viên lớp QLGD 18A đã tạo mọi điều kiện
cho tôi được tham gia học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân
trong gia đình về sự động viên và giúp đỡ to lớn nhất đã dành cho tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn tất luận văn này.
Bình Định, tháng 06 năm 2012
Tác giả
Võ Thị Kim Thanh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..........................................................................................................
1.
Lý do chọn đề tài....................................................................................
2.
Mục đích nghiên cứu..............................................................................
3.
1.2.
Một số khái niệm bản của đề tài............................................................
1.3.
Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ CBQL các phòng
GD&ĐT................................................................................................
1.4.
Công tác phát triển đội ngũ CBQL các phòng GD & ĐT....................
1.5.
Các yếu tố quản lý có ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ
CBQL các phòng GD&ĐT...................................................................
Kết luận chương 1...........................................................................................
Chương 2.
2.1.
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội, giáo
dục tại các huyện miền biển tỉnh Bình Định........................................
2.2.
Thực trạng về đội ngũ CBQL các phòng GD&ĐT tại các huyện
Kết quả thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất.........
Kết luận chương 3.........................................................................................
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................
1.Kết luận......................................................................................................
2.Kiến nghị....................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................
PHỤ LỤC.....................................................................................................
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- CBQL:
- CBQLGD:
- CNH – HĐH:
- CT:
- GD&ĐT:
- GDPT:
- HĐND:
- HU:
- KTXH:
- NN:
- QLGD:
- MN
- TH:
- THCS:
- THPT:
- TW:
- UBND:
lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu, công tác quản lý giáo
dục, quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học còn nhiều hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong thời kì CNH-HĐH. Văn
kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu:
Giáo dục cần phải “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại
vào quá trình dạy - học” [17]. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo, ngày 15/6/2004 Ban Bí thư đã ban hành Chỉ
thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục “Mục tiêu đã được xác định là xây dựng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản
lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [9].
2
Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là yếu tố quyết
định đến chất lượng GD&ĐT. Trong đó, đội ngũ CBQL là một bộ phận quan
trọng trong hệ thống quản lý giáo dục nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu đã
xác định của giáo dục. Do đó, đòi hỏi đội ngũ CBQL phải có đủ phẩm chất
đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu phát triển
của GD&ĐT.
Tuy nhiên, chất lượng GD&ĐT vẫn còn nhiều hạn chế, GD và ĐT chưa
trở thành ngành tiên phong, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nguyên nhân quan trọng là
và đào tạo các huyện miền biển trên địa bàn tỉnh Bình Định
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng và thực thi được những giải pháp khoa học, hợp lý, khả
thi và có tính đặc thù của địa phương thì sẽ phát triển vững chắc đội ngũ cán
bộ quản lý Phòng giáo dục & đào tạo các huyện miền biển, tỉnh Bình Định.
5.NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL Phòng giáo
dục và đào tạo.
5.1.2. Nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các Phòng giáo
dục và đào tạo các huyện miền biển, tỉnh Bình Định
5.1.3. Đề xuất và thăm dò tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp
phát triển đội ngũ CBQL Phòng giáo dục và đào tạo các huyện miền biển trên
địa bàn tỉnh Bình Định đến 2015.
4
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và thăm dò tính đúng đắn và
khả thi của các giải pháp xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục tại 4 Phòng giáo
dục và đào tạo của các huyện miền biển tỉnh Bình Định, đó là: huyện Tuy
Phước, huyện Phù Cát, huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Nhơn.
Đội ngũ cán bộ quản lý được nghiên cứu trong đề tài này được giới hạn
là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên phòng giáo dục và đào tạo của các huyện
miền biển nói trên.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận như phân
tích- tổng hợp; phân loại- hệ thống hóa và cụ thể hóa các tài liệu lý luận có
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Phòng
giáo dục & đào tạo các huyện miền biển tỉnh Bình Định đến năm 2015.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ cổ sơ đến hiện đại văn minh
như ngày nay đều gắn liền với lịch sử giáo dục. Bởi bất kỳ ở thời đại nào,
quốc gia nào, chế độ chính trị nào cũng đều đặt nhiệm vụ giáo dục thành mục
tiêu có tính chiến lược để chấn hưng và phát triển đất nước. Ngay từ những
năm trước Công nguyên các nhà hiền triết của Trung Hoa cổ đại đã có các tư
tưởng quản lý con người, Khổng Tử với mục đích đào tạo ra lớp người cai trị
xã hội theo quan niệm về đạo Nhân. Với việc đúc kết các yếu tố nhân, lễ,
nghĩa, trí, dũng, tín, lợi, thành để đi đến các hình mẫu về phẩm chất và năng
lực của những người có trách nhiệm quản lý xã hội như “quân tử” và “kẻ sĩ”.
Đó chính là các tư tưởng quản lý về con người nhằm nâng cao chất lượng của
tầng lớp các người cai trị xã hội (có thể coi là CBQL) trong thời kỳ đó. Cuối
thể kỷ 18, các nhà khoa học phương Tây như Charles Babbage (1792 – 1871),
Robert Owen (1771 - 1858) và Andrew Ure (1778 – 1875) đã đưa ra ý tưởng:
muốn tăng năng suất lao động, cần tập trung giải quyết một số yếu tố chủ yếu
như phúc lợi của người lao động, việc giám sát người lao động, mối quan hệ
giữa người quản lý đối với người bị quản lý và đặc biệt là các yêu cầu nâng
cao trình độ quản lý cho người quản lý các cấp trong tổ chức. Tiếp đó là
F.Taylor (1856 – 1915) đã đề cập tới nâng cao chất lượng của người quản lý
trên cơ sở 4 nguyên tắc quản lý khoa học [8
1.2.1. Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
a, Khái niệm
Quản lý là một chức năng xuất hiện cùng với việc hình thành xã hội
loài người. Khi xuất hiện sự phân công lao động thì đồng thời cũng xuất hiện
8
sự hợp tác lao động. Để gắn kết lao động của cá nhân tạo thành sản phẩm
hoàn chỉnh thì cần có sự điều khiển chung – đó là quản lý.
Trong quá trình xây dựng lý luận, khái niệm quản lý đã được nhiều nhà
nghiên cứu lý luận cũng như thực hành đưa ra, sau đây là một số định nghĩa:
W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người
khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và
rẻ nhất”[28]
Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu: “Quản lý là
một quá trình công tác gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý nhằm đạt mục tiêu chung… Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu
đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động
của những người khác”[29]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Trần Thị Lộc: “Quản lý là hoạt động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể
quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức”[11]
Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình XH của nhà quản lý,
phù hợp với quy luật khách quan”[30]
Qua những định nghĩa trên, ta thấy rõ quản lý có những nét đặc trưng
cơ bản về hoạt động quản lý như sau:
bản đó là: Chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và
chức năng kiểm tra, đánh giá.
10
- Chức năng kế hoạch hoá: Là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định
các bước đi để tiến đến mục tiêu, xác định nguồn lực và các biện pháp để thực
hiện mục tiêu.
- Chức năng tổ chức: Chức năng tổ chức gồm 2 nhiệm vụ:
Một là sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và các
nhiệm vụ đảm nhận. Tổ chức bộ máy phải phù hợp về cấu trúc, cơ chế hoạt
động, phải đủ khả năng để đạt mục tiêu. Công việc tổ chức bộ máy là phân
chia tổ chức thành các bộ phận thực hiện các chức năng cụ thể và xây dựng cơ
chế phối hợp, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận nhằm đạt
được sự đồng bộ trong hoạt động.
Hai là sắp xếp công việc hợp lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng để mọi
người hướng vào mục tiêu chung.
- Chức năng chỉ đạo: Tác động đến con người bằng các mệnh lệnh,
giao nhiệm vụ, khuyến khích động viên làm cho người được quản lý tự giác,
tích cực làm việc đúng kế hoạch và nhiệm vụ được phân công. Tạo động lực
để con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng
và trách phạt.
- Chức năng kiểm tra: Là công việc thu thập thông tin ngược để kiểm
soát hoạt động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót, lệch lạc
đưa tổ chức tiến đến mục tiêu.
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện một dãy các chức năng
quản lý kế tiếp nhau, từ việc xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu phát triển
cho đến kiểm tra các kết quả thực hiện và tổng kết quá trình quản lý. Kết quả
có thể đạt hoặc chưa đạt các mục tiêu mong muốn. Trên cơ sở các thông tin
dân”[1]
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ vĩ mô và vi mô.
12
Ở cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác
(có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật) của chủ thể
quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cơ sở giáo
dục) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục,
đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Ở cấp độ vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác
(có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể GV, NV, tập thể HSSV, cha mẹ HSSV và các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả
mục tiêu giáo dục nhà trường.
Như vậy: Quản lý giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác
động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư
phạm của hệ thống giáo dục đạt đến hiệu quả mong muốn.
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý và cán
bộ quản lý các cấp; đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chấtkỹ thuật và các hoạt động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục và
đào tạo.
1.2.2. Đội ngũ cán bộ quản lý các Phòng GD&ĐT
1.2.2.1. Đội ngũ
Có nhiều quan niệm khác nhau về đội ngũ. Ngày nay khái niệm đội ngũ
được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán
bộ công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y bác sỹ...đều xuất phát theo cách hiểu
về đội ngũ đó là “Khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng
chiến đấu”.
14
nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm
phát triển sự nghiệp giáo dục”.
b, Đội ngũ CBQLGD
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là những người có chức vụ, được cấp
trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước, giữ nhiệm vụ quản lý
lãnh đạo cơ quan trong hệ thống giáo dục quốc dân và có trách nhiệm quản lý
lãnh đạo đơn vị do mình phụ trách thực hiện nhiệm vụ được giao phó, có đủ
phẩm chất và năng lực của người cán bộ nòng cốt trong đơn vị, là tấm gương
sáng để mọi người noi theo.
Có thể chia phân chia đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục thành hai loại:
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục của các cấp quản lý giáo dục (từ cơ
quan Bộ tới Phòng GD&ĐT quận, huyện, thị xã) là đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục tham gia hoạch định chính sách vĩ mô về GD-ĐT hoặc cụ thể hóa và
chỉ đạo thực thi chính sách GD-ĐT.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường học, cơ sở GD-ĐT là
đội ngũ điều hành thực hiện quá trình giáo dục trong các trường học, cơ sở
GD-ĐT.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục được đề cập trong luận văn này là đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục của Phòng GD&ĐT, bao gồm: Trưởng phòng,
Phó trưởng phòng và chuyên viên.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cấp Phòng GD&ĐT là một trong
những lực lượng rất quan trọng của lĩnh vực giáo dục cần được quan tâm xây
dựng, phát triển để họ có đủ phẩm chất và năng lực quản lý, góp phần thúc
đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển.
Từ những khái niệm, phân tích trên, có thể quan niệm: Đội ngũ cán bộ
quản lý Phòng GD&ĐT là các cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý và thực
dựa trên cơ sở của thế ổn định.
16
1.2.3.2. Phát triển đội ngũ CBQL Phòng GD&ĐT
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các Phòng GD&ĐT là làm tăng lên
giá trị tinh thần, đạo đức, thể chất, trình độ quản lý, kiến thức, năng lực
chuyên môn ... nhằm hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu
cầu phát triển của các Phòng GD&ĐT
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý là một bộ phận của phát triển nguồn
lực con người hay còn gọi là phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân
lực trong quản lý giáo dục được thể hiện trong các mặt:
- Một là, gây dựng đội ngũ cán bộ quản lý làm cho đội ngũ đó được
biến đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, từng bước
nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu.
- Hai là, thực hiện tốt tất cả các khâu từ việc quy hoạch, tuyển chọn, bổ
nhiệm sử dụng hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc đội ngũ cán bộ
quản lý. Đó là quá trình làm cho đội ngũ nâng cao trình độ chuyên môn, trình
độ chính trị, năng lực quản lý, có phẩm chất tốt, có trí tuệ và tay nghề thành
thạo, nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người quản lý.
- Ba là, coi con người là tiềm lực của sự phát triển GD&ĐT, là yếu tố
quyết định sự phát triển xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội.
Một đội ngũ được đánh giá là có chất lượng khi đội ngũ đó đủ về số
lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu theo yêu cầu.
Dưới góc độ đổi mới quản lý giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý Phòng
GD&ĐT là một bộ phận của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục vì vậy có thể
hiểu một cách cụ thể như sau: Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Phòng
GD&ĐT là quá trình tác động của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng
quản lý giáo dục bằng các chính sách, chương trình và giải pháp quản lý
18
1.3.
Những yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ cán bộ quản lý các Phòng
GD&ĐT
1.3.1. CBQL Phòng GD&ĐT trong quản lý hệ thống giáo dục ở các
địa phương
Liên Bộ GD-ĐT; Bộ nội vụ đã có Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLTBGDĐT-BNV, ngày 14 tháng 7 năm 2008 về “Hướng dẫn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng GD&ĐT thuộc UBND cấp
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.
a). Vị trí và chức năng Phòng GD&ĐT
Phòng GD&ĐT là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp
huyện, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực GD&ĐT, bao gồm: mục tiêu,
chương trình, nội dung GD&ĐT; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ
quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ
em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm chất lượng GD&ĐT.
Phòng GD&ĐT có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng;
chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân
cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở GD&ĐT.
b) Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng GD&ĐT
Trình Uỷ ban nhân dân huyện các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế,
chính sách, pháp luật, các quy định của UBND tỉnh và Sở Giáo dục và Đào
tạo về hoạt động giáo dục trên địa bàn và chịu trách nhiệm về tổ chức thực
hiện sau khi được phê duyệt.
Trưởng phòng phát biểu hoặc giải quyết công việc và chịu trách nhiệm trước
Trưởng phòng về nội dung và kết quả công việc.
20
Đối với lĩnh vực công tác được phân công phụ trách, Phó trưởng phòng
có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện; chủ động
giải quyết các vấn đề phát sinh; trong trường hợp giải quyết các vấn đề liên
quan đến cơ chế chính sách chưa được pháp luật quy định hoặc các vấn đề
quan trọng thể hiện quan điểm của Phòng, của ngành thì Phó phòng phải báo
cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Trưởng phòng trước khi quyết định.
b.3. Nhiệm vụ của chuyên viên trong Phòng GD&ĐT
Các cán bộ trong Phòng thực hiện chức năng tham mưu và chức năng
quản lý nhà nước trong phạm vi, quyền hạn được giao và chịu trách nhiệm cá
nhân về những công việc do mình tham mưu; chịu sự quản lý thống nhất của
Trưởng phòng, chịu sự quản lý trực tiếp của Phó phòng phụ trách lĩnh vực,
ngoài ra chịu sự điều hành của Trưởng phòng tập trung một số công tác lớn
với yêu cầu đột xuất, khẩn trương của cơ quan, của UBND huyện. Định kỳ
hàng tháng báo cáo kết qủa thực hiện, đề xuất kiến nghị những vấn đề liên
quan do mình phụ trách.
Trong chỉ đạo và điều hành công việc, lãnh đạo và các bộ phận trong
phòng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy tinh thần
chủ động, tính sáng tạo, ý thức trách nhiệm cá nhân của từng cán bộ, công
chức đảm bảo trật tự kỷ cương của cơ quan Phòng Giáo dục và Đào tạo.
1.3.2. Yêu cầu cơ bản đối với đội ngũ CBQL các phòng GD và ĐT
Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học và công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin và kinh tế trí thức; nền kinh tế của chúng ta chuyển sang
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với sự hội nhập khu vực
và quốc tế vì vậy cơ chế quản lý về GD&ĐT, công tác phát triển đội ngũ cán
-Điều lệ Đảng, chỉ thị số 03 - CT/TW ngày 07/6/2001 của Bộ chính trị