Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
nguyễn thị thủy
cuộc vận động duy tân ở bắc trung kỳ
thập niên đầu thế kỷ xx
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
2
Vinh - 2010
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
nguyễn thị thủy
cuộc vận động duy tân ở bắc trung kỳ
thập niên đầu thế kỷ xx
CHUYấN NGNH: LCH S VIT NAM
M S: 60.22.54
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
Ngi hng dn khoa hc:
Nguyễn Thị Thủy
Môc lôc
Trang
Vinh - 2010
2
VINH - 2010
4
......................................................................................................5
MỞ ĐẦU
8
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................................8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .........................................................................................9
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ............................................................12
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu...............................................................13
5. Đóng góp của luận văn ............................................................................................14
6. Bố cục luận văn.........................................................................................................14
NỘI DUNG
15
ĐIỀU
2.2.1. Tư tưởng đổi mới kinh tế.................................................................................53
2.2.2. Các hoạt động chấn hưng kinh tế....................................................................56
2.3. Cuộc vận động duy tân trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục.......................................58
7
2.3.1. Cuộc vận động tuyên truyền xây dựng nếp sống mới......................................58
2.3.2. Những chuyển biến trong lĩnh vực giáo dục ...................................................64
Ý NGHĨA CUỘC VẬN ĐỘNG DUY TÂN Ở BẮC TRUNG KỲ................................76
3.1. Làm thay đổi nhận thức của người dân.................................................................76
3.2. Góp phần làm chuyển biến kinh tế - xã hội............................................................81
3.3. Làm phong phú phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX..............................................85
KẾT LUẬN
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................100
PHỤ LỤC
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ý nghĩa khoa học
Giai đoạn lịch sử thập niên đầu thế kỉ XX đã trở thành một gạch nối
quan trọng giữa hai thế kỷ chính bởi tính chất đặc biệt của nó - giai đoạn
"giao thời" đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tiến trình phát triển của lịch sử dân
tộc. Trong giai đoạn này, các phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Đông du,
tương lai.
Ngoài ra, nghiên cứu đề tài này còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu
cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương đồng thời giáo dục truyền thống yêu
nước, lòng tự hào dân tộc, xây dựng một ý thức vươn lên không ngừng trong
mọi hoàn cảnh cho thế hệ trẻ ngày hôm nay.
Xuất phát từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài “Cuộc vận động duy tân ở Bắc Trung kỳ thập niên đầu thế
kỉ XX” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay, nội dung chúng tôi nghiên cứu đã được đề cập từ
nhiều góc độ chuyên sâu khác nhau nhưng nhìn chung vẫn còn tản mạn, thiếu
tính hệ thống.
Trước hết là trong các công trình phản ánh về phong trào yêu nước ở Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX như phong trào Đông du, Đông Kinh nghĩa
thục, Duy Tân, phong trào kháng thuế ở Trung kỳ… Viết về phong trào
Đông du có các tác phẩm: 157 nhân vật xuất dương trong phong trào Đông
du (Nguyễn Thúc Chuyên), Phan Bội Châu và phong trào Đông du (nhiều tác
giả - năm 2005), Việt Nam 100 năm phong trào Đông du và hợp tác Việt Nhật (nhiều tác giả - năm 2009)…; Về phong trào Duy Tân có các tác phẩm:
10
Phong trào Duy Tân Bắc - Trung - Nam (Sơn Nam), Phong trào Duy Tân
(Nguyễn Văn Xuân), Phong trào Duy Tân - Các khuôn mặt tiêu biểu (Nguyễn
Q.Thắng)…; Về Đông Kinh nghĩa thục có các tác phẩm: Đông Kinh nghĩa
thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỉ XX (Chương Thâu), Hội thảo
100 năm Đông Kinh nghĩa thục tổ chức tại ĐH KHXH & NV - ĐH Quốc Gia
Hà Nội, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành…; Về phong trào kháng
thuế ở Trung kỳ có các tác phẩm: Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua
các châu bản triều Duy Tân (Nguyễn Thế Anh), Vụ chống thuế ở Trung kỳ
năm 1908 (Huỳnh Thúc Kháng)… Nhìn chung, trong những công trình này,
Thanh Hóa (1802 - 1930), tập IV (Ban NC và BS lịch sử Thanh Hóa) hay trên
Tạp chí Xưa nay (số 341, năm 2009) có các bài viết: Trách nhiệm lịch sử của
sĩ phu Thanh Hóa (Đào Hùng), Thanh Hóa trong phong trào chống thuế ở
Trung kỳ năm 1908 (Đinh Xuân Lâm), Sĩ phu Thanh Hóa trong phong trào
chống thuế (Chương Thâu)… Viết về lịch sử Nghệ Tĩnh có các công trình:
Lịch sử Nghệ Tĩnh, tập 1, Nghệ Tĩnh với phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc 30 năm đầu thế kỉ XX (Đinh Trần Dương), Kinh tế Nghệ An từ 1885
đến 1945 (Nguyễn Quang Hồng)… Nhìn chung, trong các công trình lịch sử
địa phương kể trên đã đề cập tới tình hình kinh tế - xã hội khu vực Bắc Trung
Kỳ trong thập niên đầu thế kỷ XX, tuy nhiên mức độ phản ánh còn mờ nhạt.
Ngoài ra, trong các tác phẩm, luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sĩ đề cập
đến phong trào yêu nước của các địa phương khác cùng thời kỳ đã giúp chúng
tôi có cơ sở để đưa ra những nhận định, đánh giá một cách khách quan về đặc
điểm độc đáo, mang tính đặc thù của cuộc vận động vận động ở Bắc Trung kỳ
những năm đầu thế kỉ XX như Bùi Định (1985): Tìm hiểu các phong trào yêu
nước chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Nghĩa (1885 -1945), Huỳnh Thị
Ngọc Tuyết (1980): Bước đầu tìm hiểu về phong trào Đông du ở miền Nam
đầu thế kỉ XX, Nguyễn Thiên Tường (1980): Bước đầu tìm hiểu về phong trào
12
Duy Tân vùng Nam Ngãi đầu thế kỉ XX - Luận văn Tốt nghiệp Đại học Tổng
Hợp Hà Nội (Tư liệu khoa Sử - ĐH KHXH & NV Hà Nội), Dương Thị Thanh
Hải (2002): Phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa 30 năm đầu thế
kỉ XX - Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, ĐH Vinh…
Mặc dù khối lượng tài liệu tương đối phong phú nhưng chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về cuộc vận động duy tân ở Bắc
Trung kỳ thập niên đầu thế kỉ XX. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của
các nhà nghiên cứu đi trước đồng thời dựa trên cơ sở nguồn tài liệu được bổ
sung, trong khả năng của bản thân, chúng tôi cố gắng khái quát một bức tranh
khác nhau, bao gồm:
- Tài liệu nghiên cứu: gồm những công trình nghiên cứu của các nhà sử
học như Trần Văn Giàu, Chương Thâu, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Q.Thắng…
- Các Hội thảo khoa học về phong trào Đông du, phong trào Đông Kinh
nghĩa thục, Phong trào kháng thuế năm 1908…
- Các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, Tạp chí Xưa nay…
- Các luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp đại học mà chúng tôi khai
thác được trong kho tư liệu khoa Sử, trường ĐH KHXH & NV Hà Nội; thư
viện Đại học Vinh.
Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu trên, chúng tôi sẽ hệ thống lại
nhằm làm nổi bật cuộc vận động duy tân ở Bắc Trung kỳ trong bối cảnh lịch
sử xã hội "giao thời", chuyển giao giữa hai thời đại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên
cứu cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgich đồng thời kết hợp
với phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê… để có thể đi đến những nhận
định khoa học cụ thể, xác thực.
14
5. Đóng góp của luận văn
- Trước hết, luận văn đã bước đầu tạo dựng lại diện mạo cụ thể của
cuộc vận động duy tân Bắc Trung kỳ trong khoảng thập niên đầu của thế kỉ XX.
- Trên cơ sở đó, luận văn góp phần chỉ rõ mối liên hệ giữa cuộc vận
động duy tân ở Bắc Trung kỳ với các địa phương, khu vực khác trong cả nước
để thấy được dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc.
- Góp thêm một cách nhìn nhận, đánh giá lại vai trò cũng như những
cống hiến của tầng lớp sĩ phu thức thời ở Bắc Trung kỳ thập niên đầu thế kỉ.
- Ngoài ra, luận văn còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho việc
hiện trong lòng nước ta những nhân tố kinh tế - xã hội mới và đó cũng chính
là "cơ sở nội tại của giai đoạn mới trong sự phát triển tư tưởng và đấu tranh tư
tưởng" [13; 17].
Bắc Trung kỳ được xem là một bộ phận trên lãnh thổ nước ta cũng nằm
trong quy luật chung đó. Bên cạnh những nét tương đồng, ở Bắc Trung kỳ
cũng có những điểm khác biệt cơ bản so với các vùng khác trong cả nước,
quy định nội dung, đặc điểm, tính chất của công cuộc vận động duy tân đất
nước trong những thập niên đầu thế kỉ XX.
Các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh cách không xa Kinh thành Huế - vốn là
trung tâm chính trị của cả nước dưới thời Nguyễn, nhưng cũng phải mất gần
27 năm, kể từ ngày chúng nổ súng xâm lược nước ta (1858), thực dân Pháp
16
mới có thể đặt chân đến vùng đất này (Nghệ Tĩnh: 7/1885, Thanh Hóa:
11/1885). Không phải bọn thực dân không nhận thấy đây là vùng đất giàu
lâm, hải sản và có vị trí chiến lược quan trọng để tìm cách nhảy vào từ sớm.
Song, ngay khi chúng vừa nổ súng vào cửa bể Đà Nẵng, phong trào kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân cả nước, trong đó có nhân
dân Thanh - Nghệ - Tĩnh đã góp phần làm chậm bước tiến hung hãn của kẻ
thù. Đặc biệt, đối với Nghệ Tĩnh - mảnh đất vốn mang trong mình truyền
thống đấu tranh chống ngoại xâm hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ
nước, có lẽ cũng khiến bọn thực dân có ý dè dặt hơn trong từng bước tiến.
Trong giai đoạn đầu, để che đậy hành động xâm lược, bọn thực dân đã tích
cực sử dụng việc "truyền giáo" làm màn che để đi sâu chia rẽ lương giáo, phá
hoại khối đoàn kết toàn dân. Nhưng ngược lại với ý đồ đen tối đó, từng bước
xâm lăng quân sự cũng như âm mưu sử dụng tôn giáo của chúng đều bị nhân
dân vạch mặt và phản kháng một cách kịch liệt. Hành động đứng lên của nhân
dân Nghệ Tĩnh năm Giáp Tuất 1874 là một đòn giáng mạnh vào bè lũ cướp
nước và bán nước, góp phần cản bước tiến của quân đội viễn chinh Pháp, để
- Tổ chức lại bộ máy hành chính trên phạm vi 14 tỉnh Trung kỳ, bổ
nhiệm các quan Công sứ (Résident), Phó sứ (Résident adjoint) ở các tỉnh;
thành lập Toà Công sứ ở các tỉnh (Résident Pro vinciale) và tăng cường quyền
lực cho các Công sứ, Phó sứ cũng như quyền lực của Toà Khâm sứ Trung kỳ
(Résident Supênure de L'Annam) nhằm hạn chế đến mức tối đa quyền lực của
triều đình Huế và bộ máy quan lại ở các tỉnh.
- Khâm sứ Trung kỳ nhanh chóng chấp nhận đề nghị của vua Thành
Thái và Cơ mật viện triều đình Huế về việc thành lập 6 trung tâm đô thị:
Thanh Hóa, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn và Phan Thiết. Đến 30/8/1889,
Toàn quyền Đông Dương - Paul Doumer ký Nghị định chuẩn y việc thành lập
18
6 trung tâm đô thị ở Trung kỳ. Nghị định này đã góp phần mở đường cho các
tập đoàn tư bản Pháp đầu tư vào khu vực Bắc Trung kỳ.
- 30/10/1897, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy định lại chế độ
lao dịch đối với dân đinh Trung kỳ. Theo Nghị định này, mỗi dân đinh ở
Trung kỳ hằng năm phải đi lao dịch 30 ngày và được chia cụ thể: 10 ngày làm
việc làng, 10 ngày bắt buộc phải chuộc bằng tiền với mức 0đ10/ 1ngày, 10
ngày còn lại thì tự do chuộc cả hay chuộc một nửa cũng với giá 0đ10/ 1ngày.
Nghị định này quả thật là một gánh nặng đối với dân đinh Trung kỳ nói
chung, trong đó có cư dân Bắc Trung kỳ. "Quá trình bần cùng hóa diễn ra
nhanh chóng ở làng xã, trật tự làng xã bắt đầu bị đảo lộn bởi những Nghị định
của Toàn quyền Đông Dương" [16; 43].
- 31/7/1898, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập Ngân sách Trung
kỳ. Với Sắc lệnh này, Ngân khố của triều đình Huế bị bãi bỏ. Kể từ 1/1/1899,
thực dân Pháp nắm toàn quyền thu các loại thuế ở Trung kỳ, cấp phát luôn
lương bổng cho vua quan nhà Nguyễn.
Từ cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX, Tổng thống Pháp và Toàn
quyền Đông Dương đã ký nhiều Sắc lệnh với nội dung là hạn chế đến mức tối
tỉnh và là một trong những thành phố đẹp nhất của Viễn Đông" [47; 87]. Tiếp
đó, năm 1862, bọn tư bản đưa một chi nhánh của nhà in Impéniale từ Pháp
sang Sài Gòn. Rồi để trang bị cho bến cảng Sài Gòn, trong năm 1864, Pháp
cho xây dựng một cầu tàu dài 1800m và nhập một số máy móc, ca nô, xà lan
sắt. Nhờ đó, Sài Gòn dần dần trở thành nơi thu hút và sữa chữa phần lớn
thuyền bè của Pháp hoạt động ở Viễn Đông. Do nắm được ưu thế của một
nước nông nghiệp nên ngay sau khi chiếm xong Nam kỳ, tư bản Pháp tiến
hành đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nông sản và cơ sở công nghiệp chế
biến: năm 1874, lập hãng rượu bia ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn; năm 1875,
20
chúng lập nhà máy cưa; năm 1876, xây dựng nhà máy kéo sợi; cho đến năm
1895, riêng ở vùng Nam kỳ đã có đến 200 xưởng xay xát gạo với các quy mô
lớn nhỏ khác nhau, chuyên chế biến gạo xuất khẩu. Bên cạnh các xưởng thủ
công, vào những năm cuối thế kỉ XIX, ở Sài Gòn đã xuất hiện 2 nhà máy xay
xát gạo chạy bằng hơi nước. Có thể nói, ngay từ những thập kỉ cuối thế kỉ
XIX, diện mạo vùng đất Nam kỳ đã hoàn toàn đổi khác. Điều này được giải
thích bởi lý do Nam kỳ là vùng lãnh thổ mà bọn thực dân Pháp chinh phục
được trước tiên trên đất nước ta, được đánh dấu bởi việc kí kết Hiệp ước
Nhâm Tuất (1862) và Giáp Tuất (1874).
Sau khi chiếm xong Nam kỳ lục tỉnh, bọn chúng ngay lập tức hành
quân kéo ra đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ nhất (1873 - 1874) và lần 2 (1882
-1884). Triều đình Huế ngày càng dấn sâu vào con đường "thỏa hiệp" với
thực dân Pháp được thể hiện rõ nét qua việc ký kết Điều ước Quý Mùi
(25/8/1883) và Giáp Thân (6/6/1884). Về cơ bản, từ nay Việt Nam đã mất
quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận
sự "bảo hộ" của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của
Việt Nam đều nằm trong tay người Pháp. Theo đó, bọn tư bản Pháp đã ngay
lập tức cho thực thi kế hoạch đầu tư, khai thác vùng đất Bắc kỳ. Cơ sở khai
đường sắt Đông Hà - Đà Nẵng được xây dựng trong những năm 1902 - 1908,
dài 171km.
Dõi theo bước chân hung hãn của bọn thực dân cướp nước, chúng ta
được biết mãi tới năm 1885 chúng mới đặt chân đến vùng đất Thanh - Nghệ Tĩnh. Đây không phải là một vùng đất xa xôi, hẻo lánh để quân thù phải gặp
trở lực trên con đường chinh phục điều kiện tự nhiên. Cái trở lực lớn nhất ở
đây khiến chúng phải dè chừng chính là tinh thần quyết chiến, truyền thống
đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm. Tâm lý "bất ổn" ấy đã có tác động không
nhỏ đến chương trình đầu tư, khai thác tài nguyên ở vùng đất này. Trong khi
22
Nam kỳ và Bắc kỳ được bọn tư bản Pháp tập trung đầu tư vốn, xây dựng và
triển khai kế hoạch khai thác một cách nhanh chóng thì không khí ở đây vẫn
tĩnh lặng, tất cả đều nằm trong một trạng thái "im lìm". Cho đến năm 1897,
khi tình hình chính trị đã dần đi vào ổn định, lại được nhà nước bảo trợ, bọn
tư bản Pháp mới trở nên mạnh tay hơn trong việc kinh doanh. Thực dân Pháp
bắt đầu đẩy mạnh vơ vét, bóc lột đối với Thanh - Nghệ - Tĩnh đã làm cho đời
sống người lao động ở đây khổ cực, điêu đứng. Vừa xong nạn đốt phá, tiêu
hủy các làng có người tham gia "phong trào Văn thân" (1874), mảnh đất Nghệ
Tĩnh lại phải gánh chịu tiếp theo một cuộc "bình định" hơn 12 năm (1885
-1896) với sự truy lùng, chém giết, đốt phá. Tiếng súng của 10 năm "bình
định" vừa ngớt, người dân ở đây lại tiếp tục rơi vào bàn tay bóc lột của bọn
thực dân, mại bản, phong kiến tay sai. Sự gia tăng bóc lột về thuế khóa, sưu
dịch của bọn thực dân và phong kiến, những năm mất mùa, hạn lụt, dịch bệnh
đã làm cho nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, ngừng trệ mặc dù người dân nơi đây
rất cần cù trong lao động.
Có thể nói, so với Nam kỳ và Bắc kỳ, ở Bắc Trung kỳ hướng đầu tư
xây dựng trong công cuộc khai thác của tư bản Pháp có phần đơn điệu hơn và
với một quy mô nhỏ, tốc độ chậm chạp. Hầu hết các cơ sở công nghiệp ở Bắc
Trung kỳ đều là những cơ sở công nghiệp phục vụ. Tuy không chú ý đến công
những biến chuyển mạnh mẽ hơn trước để dẫn đến phong trào đấu tranh kịch
liệt của tầng lớp công - nông như sử sách đã từng ghi nhận. Mặt khác, nó đã
phá vỡ nền kinh tế cũ kĩ, lạc hậu và du nhập vào nước ta nền kinh tế mới,
bước đầu đã làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội khu vực nói riêng và cả
nước nói chung.
Trong khi đó, đời sống văn hóa - giáo dục của nhân dân Thanh - Nghệ Tĩnh cũng vô cùng lạc hậu. Mục đích giáo dục của bọn thực dân là nhằm nô
dịch, đồng hóa nhân dân ta. Bên cạnh việc duy trì sử dụng nền giáo dục phong
24
kiến lạc hậu, bọn chúng cho mở nhỏ giọt một số trường nhằm đào tạo một số
tay sai cho bộ máy thống trị của chúng. Vì thế, những năm đầu thế kỉ, việc
dạy Hán học vẫn được giữ lại và phát triển bên cạnh một số trường tiểu học
Pháp - Việt. Điều đó đã có tác động sâu sắc đến nhận thức của tầng lớp trí
thức Nho sĩ và chính họ sẽ là lực lượng "châm ngòi nổ" cho một làn sóng đấu
tranh yêu nước mang màu sắc mới vào đầu thế kỉ XX.
1.2. Trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản qua Tân thư, Tân văn
Tân thư, Tân văn là một danh từ khá bao quát để chỉ các sách báo chứa
đựng nội dung kiến thức mới. Tân thư, Tân văn mang lại cho các nhà Nho
những kiến thức mới về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, phần lớn dịch
ra chữ Hán từ các sách báo phương Tây hoặc dịch qua sách Nhật, có khi chỉ
dịch tóm tắt lấy những nội dung chính, cốt lõi, mục đích là để giới thiệu văn
minh Thái Tây mà bắt chước, đổi mới.
Như chúng ta đã biết, một trong những yêu cầu cấp bách của cách
mạng Việt Nam lúc này là phải đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục nền độc
lập dân tộc. Điều mà cách mạng Việt Nam đang cần và đang thiếu chính là
con đường giải phóng dân tộc. Vấn đề đặt ra là "phải đi theo ngõ nào, quay
sang hướng nào để có thể chuyển bại thành thắng; ngõ cũ, hướng cũ đã bế tắc
rồi" [13; 16]. Đối với các nhà Nho yêu nước hồi đầu thế kỉ, đã từng bị Nho
giáo "bưng tai bịt mắt" đã thấy được đến một chừng mực nào đó sự lạc hậu
chung của các sĩ phu yêu nước tiến bộ hồi đầu thế kỉ, việc tiếp nhận Tân học
luôn luôn nhạy bén với cái mới đồng thời vẫn có sự kế thừa những cái hay cái
đúng của đạo đức luân lý cũ để vận dụng vào hoàn cảnh nước nhà lúc bấy
giờ:
"Từ đây phải nhận cho tinh,
Học Tây, học Hán có rành mới hay".