Vận dụng những nội dung cơ bản của đạo đức hồ chí minh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần công dân với đạo đức trong - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ THANH ÚT MINH

VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDCD LỚP 10
TẠI TRƯỜNG THPT LAI VUNG 1 TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.10

ĐỒNG THÁP- 2010

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ THANH ÚT MINH

VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDCD LỚP 10
TẠI TRƯỜNG THPT LAI VUNG 1 TỈNH ĐỒNG THÁP


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDCD

:

Giáo dục công dân

GV

:

Giáo viên

HS

:

Học sinh

Nxb

:

Nhà xuất bản

THPT

:


phần to lớn vào việc điều chỉnh hành vi con người sao cho phù hợp với những
yêu cầu, chuẩn mực đạo đức xã hội, nhờ chức năng này mà xã hội không
ngừng phát triển. Đạo đức góp phần giáo dục ý thức đạo đức, biến ý thức đạo
đức thành thực tiễn đạo đức, thông qua thực tiễn đạo đức bổ sung nhận thức
rèn luyện ý chí cho chủ thể đạo đức, nâng chủ thể đạo đức lên tầm cao mới,
hoàn thiện nhân cách con người; Đạo đức góp phần nhân đạo hóa con người
và xã hội loài người, làm cho con người nhân ái, vị tha và nhân bản hơn. Từ

6


đó đạo đức giữ vai trò to lớn góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội cả về mặt tinh
thần lẫn vật chất. Xã hội càng phát triển thì càng cần đến vai trò của đạo đức.
Kinh tế thị trường vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Ảnh hưởng
của kinh tế thị trường đối với đạo đức là một hiện tượng phức tạp. Cơ chế thị
trường được thực hiện dưới những dạng thức khác nhau ở những quốc gia
khác nhau và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và nền văn hóa
khác nhau. Cùng với quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường và tiến hành
công nghiệp hóa – hiện đại hóa định hướng xã hội chủ nghĩa, quan niệm về
đạo đức ngày càng có những biến đổi trở nên rõ nét theo hai hướng tích cực
và tiêu cực:
+ Xu hướng phủ nhận ảnh hưởng tích cực của cơ chế thị trường đối với
đạo đức: có quan niệm cho rằng kinh tế thị trường và đạo đức bài xích lẫn
nhau, kinh tế thị trường ném con người vào một thứ quan hệ cờ bạc, kinh tế
thị trường gây nhiều tổn thất, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội như:
gian lận, lừa đảo, hàng hóa giả, ma túy, mại dâm, tham ô, tham nhũng…
+ Xu hướng nhấn mạnh ảnh hưởng tích cực của cơ chế thị trường đối với
đạo đức: xu hướng này khẳng định kinh tế thị trường có ảnh hưởng tích cực
đến đời sống xã hội, kích thích phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao
động, mang lại đời sống vật chất ngày càng cao, ngày càng tốt hơn cho nhân

Minh cho thanh niên, đặc biệt là học sinh – sinh viên. Đảng ta đã đưa ra nhiều
Nghị quyết, Chỉ thị như:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
“Về định hướng chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”;
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương khóa IX
“Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”;
Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị “Về tổ chức cuộc vận động học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;

8


Thông báo số 134-TB/TW của Ban Bí thư về sơ kết thực hiện Chỉ thị
23-CT/TW “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí
Minh trong giai đoạn mới”;
Chỉ thị số 2516/CT-BGD&ĐT ngày 18 tháng 5 năm 2007 “Về việc thực
hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Những văn kiện đó đã đề cập đến nội dung, phương pháp, biện pháp
nhằm tuyên truyền, giáo dục tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh trong các tầng
lớp xã hội. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu giáo dục đạo đức
Hồ Chí Minh cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong những năm gần đây
như:
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo thanh niên ở
nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của Đoàn Nam Đàn (năm 2005), Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
“Tư Tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”
của Tiến sĩ Trần Quy Nhơn (năm 2005), Nhà xuất bản Giáo dục;
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho
sinh viên ở trường Đại học Vinh hiện nay” (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Phân tích và làm rõ sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh
cho học sinh THPT hiện nay.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm làm rõ tính khả thi của đề tài.
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức cho học sinh trường THPT Lai Vung 1 – Tỉnh Đồng Tháp.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về những nội dung cơ bản của đạo đức Hồ Chí Minh nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình
GDCD lớp 10 tại trường THPT Lai Vung 1 – Tỉnh Đồng Tháp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đề tài nắm vững quan điểm

10


giáo dục của Đảng về phương hướng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay.
Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như:
Phương pháp lịch sử.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp quan sát, thu thập thông tin.
Phương pháp thực nghiệm khoa học.
6. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận
và thực tiễn:
+ Góp phần làm sáng tỏ thực trạng đạo đức và công tác giáo dục đạo đức
Hồ Chí Minh cho học sinh THPT Lai Vung 1 Tỉnh Đồng Tháp.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và
vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho học

Ngày 03/06/1911, Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận
động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho
độc lập, tự do của dân tộc mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng
Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải
phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1920,
Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921,
người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ
báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp
hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc
tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp
12


phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên
hiệp các dân tộc bị áp bức châu á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế
độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927). Năm 1925, Người thành
lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc)
và tổ chức "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản
để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Ngày
03/02/1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần
Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng
Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).
Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự
nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong
những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn. Năm 1941, Người về nước, triệu
tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh

đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược
của đế quốc Mỹ; lãnh đạo sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra
Đảng Mácxít-Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt
Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là
tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh
tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ
xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong
trào giải phóng dân tộc.

14


Trong các nhà lãnh đạo cách mạng trên thế giới, Hồ Chí Minh là người bàn
nhiều đến đạo đức, đặc biệt chú ý vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh do đó rất
sâu sắc và phong phú, đã trở thành một sức mạnh to lớn, một nhân tố quan trọng
làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh không chỉ là người chiến đấu cho dân tộc mình mà còn cho
cả nhân loại, không chỉ quan tâm đến nhiệm vụ hôm nay mà còn mang hoài bão
to lớn đối với xã hội ngày nay. Vì thế, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ
phát huy sức mạnh ở chặng đường trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài, tiếp tục
soi sáng, cổ vũ chúng ta trên con đường đi tới tương lai.
Nói cách khác, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận
văn hóa của dân tộc, sẽ sống mãi trong đời sống tinh thần của dân tộc.
Có thể nói, quá trình hình thành nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

đạo đức cũ một nội dung hoàn toàn mới và rất phù hợp với yêu cầu cách
mạng mà tiêu biểu nhất là việc Người chuyển hóa khái niệm Trung hiếu của
Nho giáo thành Trung với nước, hiếu với nhân dân.
Trong quá trình chuyển hóa tư tưởng đạo đức cũ thành đạo đức mới, đạo
đức cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn tư duy biện
chứng khi nhìn nhận các mặt đối lập trong xã hội, trong mỗi người và cả trong
các phạm trù đạo đức, để gạt bỏ những mặt cần gạt bỏ, cải tạo lại những gì có
thể cải tạo được và nhất là thấy rõ vị trí của mỗi mặt. Chẳng hạn, khi nói đến
đức và tài, Người luôn luôn coi trọng tài và có thể nói không ai quan tâm đến
việc đi tìm người tài hơn Bác, nhưng đồng thời Người coi cái đức vẫn là cái gốc,
“đức phải có trước tài ”.
Như vậy, có thể thấy quá trình hình thành hệ thống tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh là xuất phát từ ba nguồn gốc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Nền tảng đạo đức dân tộc, kể cả đạo đức Nho giáo, Phật giáo,
Lão giáo đã được dân tộc hóa. Trong nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc,
trước hết phải nói đến chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái là đặc trưng bản chất
đạo đức mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Chính nó là nguồn động lực thôi

16


thúc Bác ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân và cũng chính nó đã dắt Bác đến
chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp nhận một học thuyết khoa học cách mạng.
Thứ hai, Những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức chủ nghĩa Mác Lênin, tuy không phải là cội nguồn mở đầu cho việc hình thành tư tưởng đạo
đức của Bác nhưng nó lại có giá trị định hướng cho sự phát triển tư tưởng đạo
đức của Bác theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nó được xem là hạt nhân của tư
tưởng đạo đức cánh mạng của Bác Hồ.
Ngoài hai nguồn gốc đạo đức cơ bản nêu trên, phải nói đến những tinh
hoa đạo đức thế giới mà nhân loại đạt được từ xưa cho đến thế kỷ XX, trong đó
có di sản đạo đức mang ý thức hệ tư sản, những quan niệm chân chính về tự do,

Ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã ý thức sâu
sắc và khẳng định dứt khoát về vị trí và sức mạnh của đạo đức cách mạng. Hồ
Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cánh mạng. Người chỉ rõ: “Người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách
mạng vẻ vang” [10: 283]. Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là người nuôi dưỡng
và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Bác
nói: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, cây không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức cách mạng, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân” [13: 252, 253]. Đạo đức cách mạng không chỉ là nền tảng, là cội
nguồn, là gốc rễ mà còn là chỗ dựa vững chắc đối với người cách mạng trước
mọi sóng gió, mọi thử thách.
Người viết: “Có đạo đức cách mạng, thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất
bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng
vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ,
lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không
công thần, không quan liêu, không kêu ngạo, không hủ hóa” [13: 284].
Nói về tầm quan trọng của đạo đức, tục ngữ phương Tây có câu: “Người
thành đạt trong học thức, nhưng không thành đạt trong đạo đức, coi như không
thành đạt”. Ở phương Đông cũng có câu ngạn ngữ nổi tiếng: “Vận may không từ

18


trên trời rơi xuống, không từ đất vọt lên, càng không bỗng dưng từ xa chạy lại.
Vận may chỉ đến qua việc tu dưỡng đạo đức” [26: 138].
Vai trò đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ nó là thước đo lòng cao
thượng của con người. Theo Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài năng trí
tuệ khác nhau, người làm việc to người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ vững được
đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

nghiệp, Hồ Chí Minh nêu lên những chuẩn mực khác nhau phù hợp với từng đối
tượng.
Mỗi người Việt Nam yêu nước đều có thể tìm thấy trong lời dạy của Chủ
tịch Hồ Chí Minh những chuẩn mực đạo đức cần tu dưỡng, rèn luyện để vươn tới
cái thiện, cái mỹ trong cuộc sống.
Khái quát lại, có một số chuẩn mực được Người nhắc đi nhắc lại nhiều lần
như là những yêu cầu mà bất cứ người Việt Nam nào cũng cần phải có, đó là:
Trung với nước, hiếu với dân
Trong các quan hệ đạo đức, thì quan hệ với nước, với dân là quan hệ lớn
nhất, do đó ”Trung với nước, hiếu với dân” cũng là chuẩn mực chung nhất,
bao trùm nhất.
“Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất quan trọng hàng đầu trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nói lên mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi người
đối với dân, với nước.
Ngày xưa, quan niệm chữ trung là trung quân. Trung thành với Vua, bởi
nước là nước của Vua. Nên có câu “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Còn
hiếu chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình, là con cháu phải hiếu thảo với ông bà,
cha mẹ.
Ngày nay, theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thì trung phải là trung với
nước, hiếu phải là hiếu với dân. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ
nước và dựng nước, trung thành với lợi ích tối cao của Tổ quốc. Nước ở đây là
nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nước. Bác Hồ nói:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

20


Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [10: 698].

thương cha vì công ơn nuôi dưỡng, dạy dỗ, dìu dắt chưa được đáp đền, Bác ra đi
“chưa yên lòng”.
Tháng 11-1950, trong thư gửi họ Nguyễn Sinh, khi cụ Nguyễn Sinh Khiêm
qua đời, Bác viết: “Nghe tin Anh cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước
nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh
tạ thế tôi không thể lo liệu.
Than ôi! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng
cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước” [11: 114].
Như vậy, theo Bác chữ trung, chữ hiếu đối với gia đình chính là lòng yêu nước,
thương dân. Cứu nước là có hiếu, có trách nhiệm với cha với anh. Do đó, học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay đòi
hỏi mọi người phải thật sự tận trung với nước, tận hiếu với dân, hiếu thảo với ông bà,
cha mẹ.
Yêu thương con người
Người cách mạng là người giàu tình cảm, có tình cảm cách mạng mới đi
làm cách mạng. Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con người mà chấp nhận
mọi gian khổ hy sinh để đem lại cơm no áo ấm, độc lập tự do cho con người.
Con người ở đây không phải là con người trừu tượng, theo quan điểm nhân
văn tư sản bịp bợm. Trước hết, đó là những con người xung quanh ta, là đồng
bào, đồng chí, bạn bè...những con người mà ta tiếp xúc hàng ngày, trước hết là
những người nghèo khổ, bị áp bức, hễ ai đau khổ là Người thương, một tình
thương bao la không bờ bến.
Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ
nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế
kỷ cùng với việc thể nghiệm của chính bản thân mình qua hoạt động cách mạng
thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định: Yêu thương con người là một trong những
phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Bác yêu thương đồng bào, đồng chí không phân biệt miền xuôi hay miền
ngược, già hay trẻ, trai hay gái… hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ


mạng, phục vụ nhân dân” [16: 158]. Và trước lúc đi xa, Người cũng căn dặn
Đảng và Chính phủ phải chú ý “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người

23


nhắc nhở Đảng, Chính Phủ và đồng bào tìm mọi cách chăm lo cho những người
đã anh dũng hi sinh một phần xương máu của mình cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giúp đỡ cha mẹ, vợ con thương binh liệt sĩ… Tình cảm của Bác đối với
nhân dân thật lớn lao và cao cả. Tình yêu thương, quý trọng con người của Bác
đã vượt qua biên giới quốc gia, không phân biệt màu da hay chế độ chính trị. Đó
là tinh thần quốc tế cao cả, Người đã nêu thành mệnh lệnh: “Bốn phương vô sản
đều là anh em” [14: 195]. Người đã đau nỗi đau của những người nô lệ da đen bị
“hành hình kiểu Linsơ ” ở Mỹ và nỗi đau của các dân tộc thuộc địa như nỗi đau
của mình.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư
Đây là những phẩm chất gắn liền với những hoạt động hàng ngày của con
người và Bác xem đây là một biểu hiện cụ thể của “Trung với nước, hiếu với
dân”. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm của đạo đức
phương Đông, đạo đức truyền thống Việt Nam, được Bác cải tiến nội dung và
đưa vào những yêu cầu và nội dung mới, Bác nói: “Bọn phong kiến ngày xưa
nêu ra cần, kiệm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân
theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính
cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”
[11: 321].
Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư được Bác giải thích rất rõ,
rất cụ thể và dễ hiểu đối với mỗi người. Bác giải thích:
“Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai.
Kiệm (…) là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí…
Liêm là trong sạch không tham lam… Tham tiền của, tham địa vị, tham

Bác Hồ là một tấm gương cao độ một cách tự nhiên về sự tiết kiệm, thanh
liêm chính trực, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân một cách vô tư, vô tận.
Người tiêu biểu cho đức tính khiêm tốn, giản dị, thật thà, dũng cảm… là một
tấm gương sáng cho mọi người noi theo…

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status