Chương 2:
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐẠI
ĐOÀN KẾT TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG.
1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định
thành công của cách mạng.
1.1. Đại đoàn kết là một quá trình cách mạng có tính sống còn, lâu
dài của cả dân tộc.
Thực tiễn lịch sử từ trước đến nay đã chứng minh tổ chức cách mạng
nào muốn thắng lợi, muốn giành được mục tiêu cuối cùng cũng phải đoàn
kết toàn dân, đoàn kết lâu dài. Nhưng mục tiêu đó, mong muốn đó có thực
hiện được hay không còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, sự lãnh đạo
và tài đức của Đảng, của lãnh tụ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Đại đoàn kết dân tộc là một chiến
lược cách mạng có tính lâu dài, nhất quán, có ý nghĩa sống còn đối với mọi
cuộc cách mạng. Nó quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, giành lại chủ quyền đất nước cũng như công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Với Người, đại đoàn kết dân tộc không phải xuất phát từ ý
muốn chủ quan của lý luận mà đó là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của
quá trình cách mạng. Người nói: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng
lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp
chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”
1
Vì Người rất coi trọng vấn đề đại đoàn kết dân tộc, coi đoàn kết là lẽ
sinh tồn của dân tộc nên Hồ Chí Minh luôn xác định đoàn kết là một vấn đề
có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Người nhận thức và giải quyết vấn đề chiến
lược đại đoàn kết trong suốt triến trình cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục đích
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.21
phải tìm ngay trong quảng đại quần chúng nhân dân, Người cho rằng, sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có thể làm thay đổi tất cả, dời non,
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr.215
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, tr.392
lấp biển. Người đã dùng những hình ảnh hết sức cụ thể để tuyên truyền, giác
ngộ nhân dân hiểu về sự cần thiết và sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc như:
Bài ca sợi chỉ, Ca hòn đá… Người đã phân tích cho nhân dân hiểu sự liên
kết của những sợi chỉ mỏng manh đã tạo nên sự bền chắc khó có thể tách
rời; cũng như việc di chuyển những hòn đá to và nặng nếu làm nhiều người,
đồng lòng, đồng sức tất yếu sẽ làm được, điều đó cũng giống như đoàn kết
một dân tộc nhỏ sẽ tạo ra sức mạnh to lớn chống đế quốc to, mạnh. Người
luôn tin tưởng mọi người dân Việt Nam đều là con cháu Hồng Bàng, luôn
đoàn kết, gia nhập vào Hội Việt Minh cùng nhau đánh giặc thì sự nghiệp
đánh giặc khó mấy cũng làm được. Bởi lẽ, đoàn kết là yếu tố quan trọng
quyết định mọi thành bại của cách mạng cho nên Hồ Chí Minh luôn chú ý
giáo dục ý thức cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân phải xem đại đoàn
kết dân tộc là một chiến lược mang tính sống còn, lâu dài, nó quyết định mọi
thành bại của cách mạng. Người chỉ rõ: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc
thành bức thành xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức
nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”
1
.
Mùa xuân năm 1956, tiếng gọi của Bác vang lên, kêu gọi đồng bào cả
nước cùng nhau đoàn kết xây dựng nước nhà:
“Toàn dân đoàn kết một lòng
Miền Bắc thi đua xây dựng
Miền Nam giữ vững thành đồng
Quyết chí bền gan phấn đấu
mình đã làm cách mạng nhiều mà chưa thành công trước hết là vì thiếu đoàn
kết với nhau. Khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã dùng chính sách chia
để trị hòng phá tan khối đại đoàn kết của dân tộc ta để bóc lột nhân dân ta.
Vì vậy, rõ ràng chỉ có đoàn kết dân tộc lại thành một khối thống nhất mới
đánh bại lại âm mưu chia rẽ của kẻ thù, chỉ có đoàn kết thì mới giành được
độc lập. Đó là tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng, củng cố, mở rộng và phát
triển khối đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình.
1.2. Đại đoàn kết là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập
hợp được.
Đi từ thực tiễn đất nước có mấy ngàn năm lịch sử, Hồ Chí Minh đã
thấm sâu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua nhiều kênh khác nhau.
Từ đó Người nhận thức được rằng cội nguồn đại đoàn kết ở nước ta là cùng
chung một dòng dõi con cháu Lạc Hồng. Bác đã chỉ rõ: “Năm ngón tay cũng
có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp với nhau lại nơi bàn tay…
phải nhận ra rằng đã là con cháu Lạc Hồng thì ai ít nhiều cũng có lòng ái
quốc”. Bên cạnh đó, Người còn nhấn mạnh: “Mỗi một người dân phải hiểu:
có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”. Đây chính là tư tưởng mà Hồ
Chí Minh có thể tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước.
Người đặt ra mức phấn đấu cho khối đại đoàn kết:
Giành độc lập cho dân tộc
Thực hiện dân quyền tự do
Thực sự dân sinh hạnh phúc
Đó là mục tiêu đoàn kết thiết thực, lâu dài của đồng bào ta. Với mục
tiêu này ta có thể đoàn kết được đại đa số nhân dân. Bác cho rằng đoàn kết
phải rộng rãi, lâu dài, vững chắc. Đoàn kết là một chính sách dân tộc và đó
không phải là một thủ đoạn chính trị. Hồ Chí Minh phân tích cội nguồn của
sức mạnh đoàn kết dân tộc là ý chí thống nhất đất nước:
Nước Việt Nam ta là một
Dân tộc Việt Nam ta là một
trực tiếp lãnh đạo. Gạt bỏ thành kiến, thật sự đoàn kết với tất cả các lực
lượng, cá nhân muốn phụng sự Tổ quốc và nhân dân, tán thành một nước
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Bác xác định đại đoàn kết là
đem lại quyền lợi cho toàn thể dân tộc, đất nước nên Bác sẵn sàng gạt bỏ
thành kiến, mặc cảm với các lực lượng, cá nhân yêu nước đã từng làm trong
bộ máy chính quyền của thực dân phong kiến trước đây. Bác chủ trương sử
dụng họ sau chiến thắng Cách mạng tháng Tám 1945 và trong cuộc kháng
chiến chống Pháp. Sau đó vì độc lập, tự do và hạnh phúc trọng vẹn dân tộc,
thống nhất đất nước, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, Bác đã tiếp tục thực
hiện chủ trương này. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất toàn dân tộc là
không có sự phân biệt đối xử. Người đã từng cho rằng: Từ Nam tới Bắc, ai
là người tán thành hoà bình, thống nhất, dân chủ thì chúng ta hoàn toàn có
thể sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác với họ, thật sự đoàn kết với họ
dù trước nay họ đã theo phe phái nào.
2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng, của dân tộc.
2.1. Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng, của dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết là
sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do đó, đại đoàn kết dân tộc
phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt
trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động
thực tiễn của Đảng. Trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt
Nam ngày 3/3/1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể
dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là:
Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”
1
. Để thực hiện mục tiêu này, Người
thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm quần
hạnh phúc cho con người.
2.2. Đại đoàn kết là một bộ phận hữu cơ của đường lối cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng của đại đoàn kết toàn
dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng. Với Hồ Chí Minh đoàn kết là một
trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, một
chiến lược cách mạng, chiến lược huy động, tập hợp mọi lực lượng có thể
tập hợp được, hình thành sức mạnh to lớn toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh
chống lại kẻ thù của toàn dân tộc, giai cấp. Bên cạnh đó, theo Hồ Chí Minh
đại đoàn kết còn là một bộ phận hữu cơ hết sức quan trọng của đường lối
cách mạng. Đây là một mặt không thể thiếu và là một bộ phận quyết định
thắng lợi của cách mạng.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập t11, tr.130
Người đã từng dạy rằng: “… Một dân tộc dù nhỏ yếu, nhưng đoàn kết
chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng của nó, đi đúng
đường lối của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì nhất định thắng lợi đế quốc xâm
lược”
Đường lối cách mạng cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là
giành lại cho được độc lập dân tộc và xây dựng đất nước tiến lên xã hội xã
hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu
xuyên suốt và cơ bản trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên,
trong từng thời kỳ có những đặc điểm lịch sử cách mạng khác nhau, nhiệm
vụ khác nhau cho nên nó sẽ có những sách lược tiến hành khác nhau để thực
hiện được mục tiêu chiến lược đề ra. Người nhắc lại truyền thống đoàn kết là
sức mạnh của cả dân tộc, dù đường lối cách mạng có như thế nào đi chăng
nữa thì trong chiến lược lâu dài của cách mạng không thể thiếu vấn đề đại
đoàn kết toàn dân tộc, đây là truyền thống có bao đời nay của dân tộc ta:
“Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn. Lịch sử ngàn năm
của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang oanh liệt của nhân dân đấu tranh
để xây dựng nước nhà và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc mình”.
Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết
cả. Ví dụ: Lật đổ chế độ thực dân phong kiến có khó không? Khó. Thế
nhưng ta đoàn kết nên lật đổ được. Lúc bắt đầu, kháng chiến ta ở trong hoàn
cảnh rất khó khăn, Pháp có hải quân, không quân, xe tăng, có những tên
tướng có kinh nghiệm mấy chục năm, có khí giới Mỹ giúp. Lúc đó cơ đồ ta
chỉ có tay không mà phải đánh một kẻ địch mạnh hơn. Nhưng chúng ta đã
thắng. Vì sao? Vì đoàn kết”.
Không chỉ trong những năm đầu đặt nền móng cho đường lối cách
mạng Việt Nam mà suốt cả quá trình quanh cho, phức tạp của cách mạng
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc bản chất, âm mưu, thủ đoạn,
khả năng, thực lực của chúng mà dự báo, phát hiện kịp thời những chuyển
biến trong hàng ngũ của kẻ thù. Từ đó có những chiến lược, sách lược kịp
thời, đúng đắn nhằm phân hoá kẻ thù. Người đã lãnh đạo đề ra chiến lược
đại đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của cách mạng Việt Nam và linh hoạt sao cho phù hợp với đường lối
cách mạng mà Đảng đã đề ra. Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa
đến thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, của kháng chiến chống Pháp, Mỹ,
giành độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc ngày
nay.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẠI ĐOÀN KẾT
HỒ CHÍ MINH