TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 – 2009)
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
XÃ HẬU LỘC – HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH
LONG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần
ThơVĨNH
@ Tài
liệu học tập và nghiên cứu
Giảng viên hướng dẫn
Đinh Thanh Phương
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Bảo
MSSV: 5054689
Lớp Tư Pháp - K31
Cần Thơ, tháng 11/2008
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN
2.3.4. Hoạt động của các cán bộ chuyên môn, cán bộ không chuyên trách và các
trưởng ban nhân dân các ấp......................................................................................... 27
2
2.4. QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HẬU LỘC .................... 29
2.4.1. Nguyên tắc làm việc.......................................................................................... 29
2.4.2. Lề lối làm việc................................................................................................... 29
2.4.3. Phạm vi giải quyết công việc............................................................................. 30
2.4.4. Trách nhiệm giải quyết công việc...................................................................... 30
2.5. QUAN HỆ LÀM VIỆC GIỮA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HẬU LỘC VỚI CÁC
ĐƠN VỊ CÓ LIÊN QUAN............................................................................................. 30
2.5.1. Quan hệ với Ủy ban nhân dân huyện Tam Bình và các cơ quan chuyên môn
cấp trên ....................................................................................................................... 31
2.5.2. Quan hệ với Đảng ủy xã .................................................................................... 31
2.5.3. Quan hệ với Hội đồng nhân dân xã.................................................................... 31
2.5.4. Quan hệ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã .......................................................... 32
2.5.5. Quan hệ với Ban thanh tra nhân dân xã ............................................................. 33
2.5.6. Quan hệ với các đoàn thể ở địa phương ............................................................. 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HẬU
LỘC TRONG NĂM 2007 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN .................. 35
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN XÃ HẬU LỘC TRONG NĂM 2007 ................................................................... 35
3.1.1. Về sản xuất nông nghiệp ................................................................................... 35
3.1.2. Về kinh tế hợp tác ........................................................................................................36
3.1.3. Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ...................................... 36
LỜI NÓI ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với vai trò là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân
dân xã Hậu Lộc đã thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đem lại những chuyển
biến tích cực về đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương, các chủ
trương, chính sách của cơ quan cấp trên và của địa phương được thực thi có hiệu quả
thông qua Ủy ban nhân dân xã, nhờ đó mà ý thức của người dân cũng được nâng lên,
uy tín của Đảng, chính quyền địa phương nói chung và của Ủy ban nhân dân xã nói
riêng ngày một nâng lên. Làm được điều đó là nhờ đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy
ban nhân dân xã có chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn cố gắng hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, từ đó chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân xã
được nâng lên một bước mới.
Tuy nhiên hiện nay, do có sự thay đổi trong việc tổ chức cán bộ, cụ thể là việc cơ
cấu lại cán bộ, công chức cho nên hoạt động của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc có
chiều hướng đi xuống, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế ở địa phương, nhất là khi mà tình
hình kinh tế nước ta có nhiều khó khăn như hiện nay thì hoạt động của Ủy ban nhân
dân xã bộc lộ quá nhiều hạn chế, xuất phát từ việc bố trí cán bộ, công chức chưa hợp
lý dẫn đến hệ quả là hoạt động của Ủy ban nhân dân xã chưa đạt yêu cầu. Do đó đòi
hỏi Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc phải xây dựng lại cơ cấu tổ chức chặt chẽ và chấn
Trung chỉnh
tâmcách
Học
liệu
Thơ
liệu
tập
cứu
thức
Ủy ban nhân dân xã để thấy được ưu điểm cũng như những hạn chế vẫn còn tồn tại
trong cơ quan này. Qua đó đưa ra những giải pháp với mục đích nhằm nâng cao hoạt
động của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là vận dụng các quy định của pháp luật hiện
hành, từ đó so sánh đối chiếu với các số liệu báo cáo, các quy định liên quan đến tổ
chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc mà em thu thập được để từ đó có
những đánh giá, phân tích làm rõ nội dung đề tài. Đồng thời đứng trên quan điểm duy
vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh để làm
sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Kết cấu đề tài “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc – huyện
Tam Bình – tỉnh Vĩnh Long” ngoài lời nói đầu, kết luận, nội dung của đề tài được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
cấp xã theo quy định của pháp luật hiện hành.
2: Tổ ĐH
chức Cần
và hoạtThơ
động @
củaTài
Ủy ban
dântập
xã Hậu
Lộc – huyện
Trung tâmChương
Học liệu
liệunhân
học
và nghiên
trò quan@
trọng
là căn
cứ vào
điều kiện
Trung thời
tâm
liệudânĐH
Tàinữaliệu
học
tậpđặcvàđiểm,
nghiên
cứu
kinh tế - xã hội ở địa phương, giải quyết các công việc địa phương một cách năng
động, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
1.1.2. Tính chất pháp lý của Ủy ban nhân dân
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 (Điều 2)1. Tính
chất pháp lý của Ủy ban nhân dân được Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân 2003 quy định là cơ quan cấp hành của Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định
những vấn đề quan trọng ở địa phương. Tuy nhiên Hội đồng nhân dân hoạt động
không thường xuyên, vì vậy kế hoạch ngân sách, các chủ trương, biện pháp nhằm phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương mà Hội đồng nhân dân thông qua chỉ có thể thực
hiện được thông qua Ủy ban nhân dân. Nói cách khác, Ủy ban nhân dân là cơ quan
chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết của
Hội đồng nhân dân, đưa những quy định trong các nghị quyết đó vào hiện thực trong
đời sống xã hội ở địa phương. Tuy nhiên những hoạt động đó của Ủy ban nhân dân
phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân, thông qua hoạt động giám sát
1
định
với những
đối tượng
Trung một
tâm
Học
liệu
Cần
Thơ
@ Tài
liệu nhất
họcđịnh.
tập và nghiên cứu
- Thứ ba, hoạt động quản lý của Ủy ban nhân dân mang tính chất thống nhất,
hoạt động của các cơ quan khác ở địa phương phải phù hợp với sự quản lý thống nhất
của Ủy ban nhân dân.
- Thứ tư, hoạt động quản lý của Ủy ban nhân dân chỉ giới hạn trong phạm vi một
địa phương nhất định. Ủy ban nhân dân địa phương nào chỉ quản lý đối với địa
phương đó, không có quyền quản lý địa phương khác. Do đó căn cứ vào đặc điểm của
các điều kiện kinh tế - xã hội của điạ phương mà giải quyết công việc địa phương một
cách năng động, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế nhằm phát huy tối đa tính dân
chủ, tính tích cực của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương.
Đặt trong sự so sánh với Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao
nhất của nước ta, Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của
bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến
pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Trong khi đó Ủy ban nhân dân chỉ quản lý trong một địa phương nhất định.
Điều đó cho thấy Ủy ban nhân dân giống như “cánh tay nối dài” của Chính phủ trong
ứng cử
cácvà
chứcnghiên
vụ nói trên.
Trung Hội
tâm
Học
ĐHxã Cần
tập
cứu
Chủ tịch, Phó chủ tịch và các Ủy viên của Uỷ ban nhân cấp xã không thể đồng thời là
Chủ tịch, Phó chủ tịch và trưởng các ban của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Kết quả bầu cử các thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
Trong nhiệm kỳ nếu khuyết vị trí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì Chủ tịch Hội
đồng nhân dân cấp xã giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để
Hội đồng nhân dân cấp xã bầu. Người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã trong trường hợp này không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
xã. Nhiệm kỳ của Uỷ ban nhân dân cấp xã theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp
xã có nhiệm kỳ là 5 năm.
Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân hiện nay sẽ kết thúc vào năm 2009 theo nhiệm kỳ của
Hội đồng nhân dân được bầu năm 2004. Tuy nhiên hiện nay nhiệm kỳ của Hội đồng
nhân dân đã được kéo dài thêm 2 năm nữa để kết thúc vào tháng 7 năm 2011 thay vì
tháng 11 năm 2009 nhằm kết thúc cùng thời điểm với nhiệm kỳ của Quốc hội khóa
XII, hiện nay nhiệm kỳ Quốc hội rút ngắn xuống còn 4 năm để kết thúc là tháng 7 năm
2011 thay vì tháng 7 năm 2012. Lý do của việc rút ngắn này là hiện nay thời điểm bầu
cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có khoảng cách khá xa về
thời gian nên Quốc hội muốn cho việc bầu cử Hội đồng nhân dân và Quốc hội sẽ diễn
9
- Đối với Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn thì có 5 thành viên gồm 1 Chủ tịch,
2 Phó chủ tịch, 2 ủy viên. Thành viên của Uỷ ban nhân dân được phân công phụ trách
các lĩnh vực công việc như sau:
+ Chủ tịch phụ trách chung khối nội chính, quản lý công tác quy hoạch đô thị.
+ Phó chủ tịch: Một Phó chủ tịch phụ trách kinh tế – tài chính, xây dựng cơ sở
hạ tầng, khoa học – công nghệ, nhà đất và tài nguyên – môi trường. Một Phó chủ tịch
phụ trách khối văn hoá xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.
+ Các ủy viên: Một uỷ viên phụ trách công an, một uỷ viên phụ trách quân sự.
2
Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 30/7/2004 của Chính phủ quy định số lượng Phó chủ tịch và cơ cấu thành
viên Ủy ban nhân dân các cấp, một số điều của nghị định này đã được Chính phủ sửa đổi, bổ sung bằng nghị
định số 82/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 07 năm 2008.
10
Ngoài các thành viên, Ủy ban nhân dân cấp xã có thêm các cán bộ chuyên môn
giúp việc. Quy định tại Nghị định 114 của Chính phủ năm 20033, về mặt cơ cấu tổ
chức của Ủy ban nhân dân cấp xã còn có các cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy
ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có:
+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - Thống kê;
+ Địa chính - Xây dựng;
+ Tài chính - Kế toán;
+ Tư pháp - Hộ tịch;
+ Văn hoá - Xã hội.
Đây là chức danh được Ủy ban nhân dân cấp xã tuyển dụng vào làm việc tại Ủy
một số ban, những cán bộ chuyên môn có thể đứng đầu một số ban của Ủy ban nhân
dân cấp xã như sau:
- Ban Tư pháp xã;
- Ban Văn hóa – xã hội;
- Ban Tài chính – Ngân sách;
- Ban Chỉ huy quân sự xã;
- Ban Công an xã.
Những ban này là do Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập dựa trên những đề nghị của
các cán bộ có liên quan đến lĩnh vực mà họ phụ trách, về mặt tổ chức cơ cấu thành
viên, quy chế hoạt động của ban do những người phụ trách ban soạn ra sau đó tham
3
Điều 2, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn.
11
khảo ý kiến các thành viên Ủy ban nhân dân để Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định
thành lập các ban theo yêu cầu.
1.3. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
Trên cơ sở việc quy định cơ cấu tổ chức của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến
hành phân công thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn trong phạm vi thuộc thẩm
quyền của mình, các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định
cụ thể tại mục 3, Chương 4 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
năm 2003 như sau:
1.3.1. Đối với Ủy ban nhân dân xã, thị trấn
- Trong lĩnh vực kinh tế:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân
+ Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý
các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng
đúng mục đích, đúng chế độ quy định của pháp luật.
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và tiểu thủ công
nghiệp :
+ Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án
khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản
xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản
xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và
vật nuôi;
12
+ Tổ chức việc xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo
vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn
chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa
phương;
+ Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định
của pháp luật;
+ Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền thống
ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các
ngành, nghề mới.
- Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải:
+ Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo sự
phân cấp;
+ Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư
nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng
và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
+ Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông
+ Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,
những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ các gia
đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; tổ
chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính sách ở địa phương theo
quy định của pháp luật;
13
+ Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở địa
phương.
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp
luật ở địa phương:
+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng
xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
+ Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký,
quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử
dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
+ Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng
phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng
ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương;
+ Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người
nước ngoài ở địa phương.
- Trong việc thi hành pháp luật:
+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo
Trung thẩm
Căn cứ theo Điều 127 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003. Với vai trò là người lãnh đạo tất cả các mặt công tác của Ủy ban nhân dân cấp
xã nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Ðôn đốc, kiểm tra công tác của các cán bộ chuyên môn, cán bộ chuyên trách
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của
Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp
mình;
- Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ máy
động
có hiệu
ngăn@
ngừa
và đấu
hiện quan
Trung hành
tâmchính
Họchoạt
liệu
ĐH
Cầnquả;
Thơ
Tài
liệutranh
họcchống
tậpcác
vàbiểu
nghiên
cứu
nhiệm Phó chủ tịch có thể chủ tọa phiên họp.
Trong các phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã, các thành viên của Ủy ban
nhân dân cấp xã phải có mặt để thảo luận và quyết định những vấn đề nằm trong
chương trình cuộc họp. Các quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được quá nửa
tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã biểu quyết tán thành.
Ngoài các thành thành viên, cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ
tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời dự các
phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã khi bàn các vấn đề có liên quan. Do tham dự
tư cách
kháchĐH
mời Cần
nên những
được
pháttập
biểu và
đóngnghiên
góp ý kiến,
Trung với
tâm
Họclà liệu
Thơngười
@ này
Tàichỉliệu
học
cứu
chứ không có quyền biểu quyết những vấn đề thuộc chương trình cuộc họp.
Căn cứ theo Điều 124 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 thì Ủy ban nhân dân cấp xã thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề
thuộc thẩm quyền sau đây:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong hoạt động của mình tiến hành quy định chương
trình hoạt động của Ủy ban nhân dân hàng tháng cũng như hàng quý, hàng năm một
cách hợp lý, đảm bảo cho Chủ tịch có thể quản lý sâu sát tất cả hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp xã.
Trong phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
chủHọc
tọa phiên
khiểnThơ
và hướng
dẫn cuộc
vào tập
nhữngvà
vấnnghiên
đề cần thảo
Trung làm
tâm
liệuhọp,
ĐHđiều
Cần
@ Tài
liệuhọp
học
cứu
luận, quyết định những vấn đề nằm trong chương trình thảo luận. Nếu các thành viên
Ủy ban nhân dân và đại biểu tham dự có ý kiến thống nhất với nhau thì Chủ tịch sẽ
chốt lại vấn đề để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất.
Để cho hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã hoàn thành tốt nhiệm vụ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã còn tiến hành đôn đốc, kiểm tra công tác của các cán bộ
chuyên môn, cán bộ không chuyên trách thực hiện các quyết định, chỉ thị của Ủy ban
nhân dân cấp mình, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan
đạo, báo cáo kịp thời lên Ủy ban nhân dân cấp xã những vấn đề phát sinh.
Đối với các cán bộ chuyên môn, cán bộ không chuyên trách là những người
được Ủy ban nhân dân cấp xã tuyển dụng vào làm việc cho Ủy ban nhân dân cấp xã,
củaliệu
các cán
bộ Cần
này được
Chủ@
tịchTài
Ủy ban
dântập
cấp xã
công phụ
Trung hoạt
tâmđộng
Học
ĐH
Thơ
liệunhân
học
vàphân
nghiên
cứu
trách quản lý đối với từng lĩnh vực nhất định, chịu sự kiểm tra của Ủy ban nhân dân
cấp xã, đồng thời chịu sự kiểm tra, chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn cấp
trên.
Phó chủ tịch, các ủy viên và các cán bộ chuyên môn, cán bộ không chuyên trách
thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm cá nhân, cùng với Chủ tịch chịu trách
nhiệm tập thể về hoạt động của Ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cấp xã và
trước cơ quan nhà nước cấp trên.
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sông khá sâu, chế độ thủy triều lên xuống rất điều hòa, cho phép tàu thuyền lớn hàng
vạn tấn có thể lưu thông dễ dàng. Từ con sông này, mở nhánh hàng loạt sông khác,
dẫn nước ngọt, tưới tắm phù sa cho cả xã. Đó là sông Cai Hóa, sông Danh Tấm, sông
Rạch Gỗ,…Cùng với hàng loạt kênh rạch dọc ngang chằng chịt, tạo phù sa nước ngọt
quanh năm, rất phù hợp cho phát triển nông nghiệp ở đây.
Hậu Lộc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia thành mùa mưa và mùa khô rõ
rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau. Toàn xã hiện nay 7/7 ấp đã được bê tông hóa đường giao thông đảm
bảo thông suốt cho việc đi lại của nhân dân trong cả 2 mùa mưa, nắng.
Hiện nay với quyết tâm xây dựng cuộc sống, lối sống văn hóa mới vui tươi lành
mạnh cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, hệ thống chính trị của xã được
củng cố ngày càng hoàn thiện. Chính quyền địa phương không ngừng đổi mới hoạt
động để nhằm đáp ứng nhiệm vụ mới nhằm đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho
nhân dân địa phương. Toàn xã hiện nay có 12 chi bộ trực thuộc Đảng ủy, tổng số Đảng
viên là 142 cán bộ, công chức, trong đó nữ là 23 cán bộ, công chức. Phát huy tinh thần
của một xã anh hùng trong kháng chiến và cũng anh hùng trong xây dựng đất nước,
hiện nay cán bộ, công chức thuộc Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc đang từng nâng cao
trình độ chính trị, cũng như chuyên môn nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
19
nhằm đem lại những lợi ích to lớn cho nhân dân trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn
hóa - xã hội,…Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
mà nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã đề ra là đưa kinh tế xã nhà tiếp tục phát triển.
(Trích từ sách của tác giả Hồ Tĩnh Tâm, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH
CÁCH MẠNG CỦA XÃ HẬU LỘC ANH HÙNG in tại Xí nghiệp in Nguyễn Văn Thảnh
tỉnh Vĩnh Long, năm 2004 ).
2.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HẬU LỘC
Sau ngày hội bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân xã Hậu Lộc ngày 25/4/2004
Thơ @trịTài liệu
học tập vàquyền
nghiên cứu
sinh vấn
môn
1.
Trần Văn Hoàng
1963 12/12
2.
Trần Minh Tâm
1962 12/12
3.
Nguyễn Văn Chính
1968 12/12
Trung
cấp
Trung
cấp
Trung
và Ủy viên, kết quả là cán bộ, công chức Phan Văn Mảnh được bầu làm Chủ tịch, cán
bộ, công chức Trần Văn Đông được bầu làm ủy viên phụ trách công an, giữ chức vụ
Trưởng công an xã, từ đó Ủy ban nhân dân xã có sự thay đổi về mặt tổ chức thành viên
cụ thể đến năm 2008 về mặt cơ cấu thành viên của Ủy ban nhân dân xã như sau4 (Bảng
2):
Danh sách thành viên Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc giữa nhiệm kỳ 2004-2009
Trình độ
Stt
Họ và tên
Năm
sinh
Học
vấn
1.
Phan Văn Mảnh
1963
11/12
2.
Trần Minh Tâm
Đảng
viên
Phó chủ tịch
Trung
cấp
Đảng
viên
Ủy viên phụ
trách công an
Trung
(Quyết định 95/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Tam Bình năm 2008 về việc phê chuẩn thành
Trung viên
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc nhiệm kỳ 2004-2009).
Qua bảng số liệu, cơ cấu thành viên của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc là hoàn
toàn phù hợp với quy định của pháp luật, là một xã đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long với dân số 6.484 người có số lượng là 3 thành viên. Về phân công nhiệm vụ thì
Chủ tịch phụ trách chung khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội xã và là người đứng đầu ban Tư pháp xã, Phó chủ tịch phụ trách tài chính, xây
dựng, văn hóa – xã hội, cán bộ, công chức ủy viên phụ trách công an, giữ chức vụ là
Trưởng công an xã. Tuy nhiên nhìn vào 2 bảng số liệu thấy rõ sự khác biệt về trình độ
cán bộ, công chức. Nếu như đầu nhiệm kỳ trình độ chuyên môn có 2/3 cán bộ, công
Trần Văn
Năm
Năm
sinh
Học
vấn
1968
12/12
1968
12/12
2.
Nguyễn Văn
Chính
Chính
trị
Trung
cấp
3.
Thái Phan
Văn Hoàng
Cán bộ Tư
pháp - Hộ tịch
Trung cấp
Kế toán
Đảng
viên
Cán bộ Tài
chính - Kế
toán
Trung cấp
Đảng
bộ Văn
Trung tâm Học
liệu ĐH1974
Cần12/12
Thơ @ Tài liệu
học tập
vàCán
nghiên
cứu
Nguyễn
Văn hóa
Hoàng Bảo
Thông tin
trưởng
Đảng
12/12
viên
Cán bộ Địa
chính - Xây
dựng
(Nguồn từ Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc- Danh sách Quy hoạch cán bộ dự nguồn đào tạo 2010 - 2015).
Nhìn chung các cán bộ chuyên môn là đáp ứng nhu cầu khi hầu hết đều có bằng
cấp chuyên môn, chỉ còn lại cán bộ, công chức phụ trách Địa chính – Xây dựng, đội
ngũ công chức này có độ tuổi không quá cao khoảng từ 41 tuổi trở lại, đây là lớp cán
bộ có khả năng đảm đương tốt công tác của Ủy ban nhân dân xã trong thời gian tới,
nhưng để hoạt động tốt đòi hỏi các cán bộ này phải được làm việc đúng chuyên môn
đào tạo.
Bên cạnh đó Ủy ban nhân dân xã cũng tuyển dụng một số cán bộ không chuyên
trách vào làm việc cho Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc trên một số lĩnh vực cụ thể các
cán bộ, công chức này được thể hiện qua bảng thống kê dưới đây (Bảng 4):
22
Danh sách Cán bộ không chuyên trách thuộc Ủy Ban nhân dân xã Hậu Lộc
Trình độ
Stt
1.
Võ Thị Sáu
1966
11/12
4.
Phạm Thị
Thế
1958
12/12
5.
Lê Hoàng
Hải
1979
6.
Phạm
Hoàng Phúc
1978
Đảng
viên
Cán bộ Dân số
Trung cấp
Phụ vận
Đảng
viên
Cán bộ Thương
Binh - xã hội
12/12
Đại học
ngân hàng
Đảng
viên
Cán bộ nông
nghiệp
12/12
Trung cấp
Kế toán
Phạm văn
On
1954
12/12
Nguyễn Văn
1980
Tư
12/12
Sơ cấp
viên
tầng
Y sĩ
Đảng
viên
Trưởng trạm y tế
xã
Trung cấp
luật
- Về phía Đảng ủy có cán bộ, công chức Bí thư Đảng ủy tham dự;
- Về phía Hội đồng nhân dân có cán bộ, công chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân
tham dự;
- Về phía Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã có cán bộ, công chức Chủ tịch tham dự;
- Ngoài các thành phần tham dự như trên còn có các cán bộ, công chức trưởng đầu
ngành thuộc Ủy ban nhân dân xã, các cán bộ, công chức đứng đầu các đoàn thể, các
cán bộ, công chức trưởng ban nhân dân các ấp cũng được mời tham dự.
Theo quy định của quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc thì phiên
họp diễn ra vào ngày 29 hàng tháng. Nội dung chính của phiên họp là:
- Chương trình hoạt động của Ủy ban nhân dân tháng rồi và kế hoạch hoạt động
Trung tháng
tâmtới;
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách;
- Biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Bên cạnh phiên họp hàng tháng nhằm để đảm bảo cho hoạt động của Ủy ban
nhân dân xã được tốt, Chủ tịch xã còn tổ chức họp giao ban vào ngày thứ hai hàng
tuần để triển khai công tác cho các cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân xã (vấn đề
này được trình bày tại mục 2.4.2 trang 25 luận văn này).
Ngoài ra Ủy ban nhân dân xã còn tổ chức họp mỗi quý, 6 tháng, và cuối năm để
nhằm đánh giá lại những kết quả làm được và đề ra phương hướng để khắc phục.
2.3.2. Hoạt động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
Với vai trò là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch phụ trách chung khối
nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội xã, để đảm bảo tốt hoạt
động của mình thì trên thực tế Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đã tiến hành phân công,
chỉ đạo điều hành các thành viên, các cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân xã để họ
thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch tiến hành triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ủy ban nhân dân xã. Chịu
trách nhiệm báo cáo với Ủy ban nhân dân xã và Hội đồng nhân dân xã về hoạt động
tịch đã @
thayTài
mặt Ủy
banhọc
nhântập
dân xã
ban hành bổ
Trung tâmCụHọc
liệunăm
ĐH
Cần
liệu
vàkýnghiên
cứu
sung quy chế tổ chức và hoạt động của ban Tư pháp xã kèm theo quyết định số
20/2007/QĐ-UBND ngày 10 tháng 8 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã Hậu Lộc.
Chính việc ban hành quy chế6 này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã còn phụ trách thêm
chức vụ Trưởng ban tư pháp xã, là người đứng đầu ban Tư pháp xã, cụ thể hoạt động
của Chủ tịch trong lĩnh vực Tư pháp như sau:
- Chỉ đạo, điều hành các thành viên của ban phối hợp thực hiện các mặt công tác tư
pháp tại địa phương;
- Triệu tập, chủ trì các cuộc họp sơ kết, tổng kết công tác tư pháp ở địa phương.
Chịu trách nhiệm báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, cơ quan thi hành án dân sự huyện,
phòng Tư pháp huyện về tổ chức và hoạt động tư pháp ở địa phương, báo cáo trước
Hội đồng nhân dân xã khi có yêu cầu;
- Chỉ đạo xây dựng đề án, kế hoạch, chương trình hoạt động của ban, chỉ đạo tổ
chức thực hiện và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các đề án, kế hoạch chương trình
đó;
- Đại diện ban Tư pháp hoặc phân công các thành viên của ban tham dự các hoạt
động, các cuộc họp, hội nghị mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân mời.