Vai trò của luật sư bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự và phương hướng hoàn thiện - Pdf 33

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---

---

Tên ñề tài:

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG
HOẠT ðỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
Luận văn tốt nghiệp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần
ThơCử
@Nhân
Tài liệu
Ngành:
Luậthọc tập và nghiên cứu

Giảng viên hướng dẫn:
MẠC GIÁNG CHÂU

Sinh viên thực hiện:
ðẶNG KIM THÚY
Mã Số SV: 5032154
Lớp: Luật Tư pháp – K29
CẦN THƠ 06/2007

1



2


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
1 – Tinh thần và thái ñộ trong quá trình làm việc:

2 – Văn bản luận văn:
a/ ðặt vấn ñề:

b/ Nội dung:

Chú thích, thư mục:
Trungc/tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3 – ðánh giá xếp loại:
a/ ðánh giá:.

b/ Xếp loại:

Cần thơ, ngày , tháng 07, năm 2007

Giáo viên hướng dẫn kí duyệt

GV Mạc Giáng Châu.
3


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

2

Lí do chọn ñề tài
Phạm vi nghiên cứu ñề tài

1
1
2

3
4

Mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

2
2

5

Bố cục ñề tài

2

Chương I
NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA
VÀ LUẬT SƯ BÀO CHỮA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm bào chữa


5
6
8
9
cứu
10
11
11
14
14
15
16
16
18

20
20
21
22
22
5


2.2.2 Vai trò của của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn ñiều tra, truy tố
2.3 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn xét xử
2.3.1 Khái niệm và ñặc ñiểm của giai ñoạn xét xử
2.3.2 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn xét xử
2.4 Vai trò của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn tái thẩm và giám ñốc thẩm


3.1.1.4 Quan niệm về vị trí của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sư
33
Trung 3.1.2
tâm Học
liệu
ĐH
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Về quy
ñịnh
củaCần
pháp luật
35
3.1.2.1 Về phạm vi thực hiện quyền bào chữa của Luật sư bào chữa
35
3.1.2.2 Về các hành vi nghiêm cấm ñối với Luật sư bào chữa
36
3.2 Những tồn tại về vai trò của Luật sư bào chữa trong thực tiễn
38
3.2.1 Về hoạt ñộng bào chữa của Luật sư bào chữa trong các giai ñoạn tố tụng38
3.2.1.1
3.2.1.2

Giai ñoạn khởi tố vụ án
Giai ñoạn ñiều tra

3.2.1.3 Giai ñoạn xét xử
3.2.2 Hoạt ñộng của Luật sư bào chữa trong giai ñoạn hiện nay
3.2.2.1 Thứ nhất, là về vấn ñề ñào tạo nghề Luật sư hiện nay

38

nghị APEC lần thức 14 ñã mở ra cho Việt Nam con ñường rộng mở trong tương lai với
nhiều thuận lợi và thời cơ, thu hút ngày càng ñông ñảo sự ñầu tư, hợp tác của nước
ngoài vào Việt Nam. Việt Nam từ bấy lâu ñã mở cánh cửa hội nhập thì nay cánh cửa ñó
lại càng rộng mở hơn ñể chào ñón tất cả các nước láng giềng, bè bạn khắp năm châu
hãy ñến làm bạn và bắt tay hợp tác trong mọi lĩnh vực với Việt Nam.
Trước bối cảnh hội nhập hiện nay, ñòi hỏi Luật sư phải hoàn thiện hoạt ñộng nghề
nghiệp của mình, thứ nhất nâng cao vai trò của Luật sư về trình ñộ chuyên môn: Phải
học hỏi thêm ở các Luật sư nước ngoài về cách lập luận bào chữa trên phiên tòa, phong
cách làm việc năng ñộng, sáng tạo của họ; thứ hai là về sự tiếp xúc của Luật sư Việt
Nam với khách hàng nước ngoài còn nhiều hạn chế do rào cản về ngôn ngữ (trình ñộ
ngoại ngữ của các Luật sư hiện nay còn quá kém không ñủ tiêu chuẩn ñể ñáp ứng những
hỏi của
khách
hàng
nước
ngoài).
Trong
ñó, liệu
vai tròhọc
của Luật
thực tế vẫn
Trungñòitâm
Học
liệu
ĐH
Cần
Thơ
@khiTài
tậpsưvàtrênnghiên
cứu

2. Phạm vi nghiên cứu ñề tài
Khi nói ñến Luật sư là chúng ta luôn nghĩ họ gắn liền với hai vai trò tư vấn pháp lí
và bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án trong hoạt ñộng tố
tụng hình sự và nhiều lĩnh vực hoạt ñộng khác như tố tụng dân sự, kinh tế, …
Với bài viết này, tác giả chỉ tập trung ñi sâu làm rõ cơ sở lý luận, phân tích các
quy ñịnh của pháp luật hiện hành và thực tiễn vai trò của Luật sư với chức năng bào
chữa trong hoạt ñộng tố tụng hình sự.

3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo một số bài viết nghiên cứu về vai trò của Luật sư cùng với
việc tìm hiểu thực tiễn qua gặp gỡ Luật sư và những người trong cơ quan tiến hành tố
người
viếtliệu
muốnĐH
ñánhCần
giá ñược
thực@
trạng
ñộng
của tập
Luật sư
chữa trong
Trungtụng,
tâm
Học
Thơ
Tàihoạt
liệu
học
vàbào

+ Chương III: Một số vấn ñề về thực tiễn và phương hướng hoàn thiện vai trò của
Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự. ðối với nội dung của chương III, tác giả khái
quát một số thành tựu, phân tích một số tồn tại và từ ñó ñưa ra các phương hướng về vai
trò của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự về lý luận, theo quy ñịnh của pháp luật
và trong hoạt ñộng thực tiễn.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

9


Chương I
NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA
VÀ LUẬT SƯ BÀO CHỮA
----

----

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm bào chữa
Ngay từ thời xa xưa, con người ñã biết lên tiếng chống lại những lời gán ghép tội
lỗi hoặc những khẳng ñịnh rằng người ñó là có tội do có những hành ñộng trái với
những tập tục, quy tắc sống của cộng ñồng. Cụ thể trong xã hội Cộng sản nguyên thủy,
con người chưa biết ñến pháp luật nhưng tồn tại trong lòng xã hội ñó những nguyên tắc
xử sự mang tính cưỡng chế do mọi người tự nguyện tuân theo. Khi một người vi phạm
một trong những quy tắc chung ñã ñược mọi người công nhận thì áp dụng các biện pháp
cưỡng chế khắc nghiệt nhưng họ thường không chấp nhận sự trừng phạt ñó mà họ sẽ
dùng lí lẽ, lời nói của mình hoặc bằng một hành ñộng cụ thể nào ñó ñể bảo vệ họ thoát
khỏi hay ñược giảm nhẹ cho tội mà họ ñã làm.

viên nhân dân. Mặc dù người bào chữa không ñược luật quy ñịnh cho quyền bào chữa
nhưng ñược thay cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện quyền
bào chữa ñể bảo vệ quyền lợi cho họ. Theo quy ñịnh của luật ở ðiều 11 Bộ luật tố tụng
hình sự thì người bào chữa ñược bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ giai ñoạn
khởi tố vụ án, ñiều tra, truy tố, xét xử. Nhưng theo thực tiễn hoạt ñộng tố tụng hình sự,
người bào chữa còn ñược bào chữa cho người bị kết án trong giai ñoạn thi hành án và
giai ñoạn giám ñốc thẩm, tái thẩm.
Tóm lại, ñến ñây ñã có thể khái quát lên khái niệm bào chữa: “Bào chữa là hành
vi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và người bào chữa ñưa ra các
tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp
lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án
hình sự”.
1.1.1.2. Khái niệm quyền bào chữa
Theo quan ñiểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, con
người là vốn quý nhất trong số tất cả các giá trị của xã hội, xã hội này khác hẳn về chất
với các xã hội trước ñây. Xã hội Xã hội chủ nghĩa luôn tạo ra mọi khả năng và ñiều
Trungsotâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kiện thuận lợi ñể ñảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân. Việc bảo ñảm tự do
dân chủ và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân trong xã hội Xã hội chủ
nghĩa không còn là những khẩu hiệu mang tính hình thức mà giờ ñây chẳng những nó
ñã ñược khẳng ñịnh trong các Văn kiện của ðảng Cộng sản, Hiến pháp và pháp luật của
Nhà nước Xã hội chủ nghĩa mà còn ñược thực hiện sinh ñộng trong thực tiễn của quá
trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Tại ðại hội ðảng lần thứ VI ðảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung
ương ðảng ñã nhấn mạnh là phải “thực hiện dân chủ Xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo
ñảm quyền công dân”.
Một trong các quyền tự do dân chủ của con người trong xã hội Xã hội chủ nghĩa là
quyền ñược ñưa ra những bằng chứng, căn cứ ñể chứng minh về sự không có tội hoặc
ñể làm giảm tội của họ trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền bào chữa trong

Từ sự phân tích ở trên, chúng ta ñưa ra khái niệm tổng quát về quyền bào chữa
trong tố tụng hình sự như sau: “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các
hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở
phù hợp với quy ñịnh của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội
của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lý của
mình trong các vụ án hình sự”.
1.1.1.3. Khái niệm người bào chữa
Như ñã phân tích, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nhằm ñể bảo vệ cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án. Những người này ñược quyền sử dụng
các biện pháp do luật ñịnh ñể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và bình
ñẳng với Kiểm sát viên trong việc ñưa ra, chứng cứ, ñưa ra yêu cầu và tranh luận trước
tòa. Nhưng trong thực tế, do có hạn chế về trình ñộ hiểu biết pháp luật nên họ không thể
thực hiện một cách ñầy ñủ các quyền ñó (như các quyền: ðề nghị thay ñổi người tiến
hành tố tụng, người giám ñịnh, người phiên dịch, quyền có ý kiến về bản cáo trạng,
quyền yêu cầu mời thêm nhân chứng,…). Những quyền nói trên dễ trở thành hình thức,
ít có hiệu quả nếu không có sự giúp ñỡ của người bào chữa bởi vì người bào chữa là
người am hiểu pháp luật và có nhiều kinh nghiệm vận dụng pháp luật trong thực tiễn xét
xử ñể ñảm bảo công lý. Chính vì vậy, có thể khẳng ñịnh công việc của người bào chữa
12


là thực hiện công việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, ñó
là trách nhiệm là nghĩa vụ của người bào chữa. Trách nhiệm và nghĩa vụ này này tồn tại
trên cơ sở thỏa thuận giữa những người này và người bào chữa. Sự thỏa thuận giữa
những người nói trên là một dạng của hợp ñồng dân sự và sự tham gia của người bào
chữa trong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp ñồng này.
Mục ñích sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và bảo
vệ họ khỏi sự vi phạm có thể có từ phía những người tiến hành tố tụng và những người
tham gia tố tụng khác. Vì vậy xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, người bị tạm giữ,

Sự tham gia tố tụng ngay từ khi khởi tố bị can không những có lợi cho bị can trong việc
13


bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, giúp ñỡ họ những vấn ñề pháp lý cần thiết mà còn
góp phần bảo ñảm cuộc ñiều tra ñược khách quan, ñầy ñủ, chính xác.
Theo ðiều 56 Bộ luật tố tụng hình sự những người sau ñây có thể là người bào
chữa: “Luật sư; người ñại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa
viên nhân dân”.
Từ những vấn ñề phân tích trên, ta có thể rút ra khái niệm về người bào chữa:
“Người bào chữa là người tham gia tố tụng hình sự ñể làm sáng tỏ những tình tiết của
vụ án, nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và giúp họ những hoạt ñộng pháp lý cần thiết”.
1.1.1.4. Khái niệm Luật sư bào chữa
Hiện nay, chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về Luật sư và nghề luật sư trong các
tác phẩm khoa học pháp lý và các văn bản pháp luật hiện hành. Nguyên nhân của tình
trạng trên có nguồn gốc về măt lịch sử, khi những người làm công việc bào chữa trước
Tòa án trong một thời gian dài chưa ñược coi là một nghề theo sự phân công lao ñộng
xã hội. Trong xã hội ngày nay, nghề luật sư ñã ñược công nhận và Luật sư ñã có vị thế
trong xã hội. Ở Việt Nam, nghề luật sư ñã bắt ñầu ñược coi trọng, pháp luật ñã thực sự
ghi nhận vai trò của Luật sư.
Khi Pháp lệnh Luật sư ra ñời năm 2001 vẫn chưa có một ñịnh nghĩa thật sự hoàn
Luật sư. Trong Pháp lệnh năm 2001chỉ quy ñịnh: “Luật sư là người có ñủ ñiều
Trungchỉnh
tâmvềHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kiện hành nghề theo quy ñịnh của pháp lệnh này và tham gia hoạt ñộng tố tụng, thực
hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy ñịnh của pháp luật” (tại khoản 1,
ðiều 1).

nghiệp theo quy ñịnh của pháp luật chủ yếu thực hiện chức năng ñại diện theo ủy
quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tình nghi là tội phạm và người bị
kết án trong các vụ án hình sự”.

1.1.2. ðặc ñiểm quyền bào chữa
Thứ nhất, quyền bào chữa là một trong các bộ phận cấu thành của quyền công dân
bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình; vì vậy, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị
Trungñểtâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kết án bằng quyền bào chữa của mình, ñưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho
sự không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của mình trong tố tụng hình sự trước

cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ hai, quyền bào chữa chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự,và một ñiểm ñặc
trưng của thuật ngữ “bào chữa” là cũng chỉ dùng trong tố tụng hình sự. Vì vậy bản chất
của quyền bào chữa là chỉ bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án.
Ngoài ra, người nào bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, lỗi dân sự thì họ có quyền
gọi là quyền bảo vệ mà không gọi là quyền bào chữa. Vì vậy, không thể dùng khái niệm
“quyền bào chữa” chung chung ñể ám chỉ cả “quyền bảo vệ” của các ñương sự như ñã
kể trên và tất nhiên cũng không thể ñồng nhất khái niệm “quyền bào chữa” trong tố
tụng hình sự với “quyền bảo vệ” quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mối quan hệ
giữa “quyền bảo vệ” quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với “quyền bào chữa”
trong tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, nội hàm của chúng
không thể ñồng nhất với nhau.
Thứ ba, quyền bào chữa tồn tại ở tất cả các giai ñoạn của tố tụng hình sự từ giai
ñoạn khởi tố vụ án ñến giai ñoạn thi hành án.
Thứ tư, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm người bị tình nghi và người bị kết
án. Khi chưa có quyết ñịnh khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ thì
15


ñó sẽ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng có hướng ñi ñúng trong việc giải quyết vụ
án theo phương châm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Hội ñồng xét
xử và Kiểm sát viên sẽ lắng nghe những lời bào chữa của bị cáo và của Luật sư bào
chữa ñể ñi ñến một kết luận chuẩn xác rằng bị cáo ñó có tội hay không có tội. Hơn thế
nữa, quyền bào chữa không phải chỉ bắt ñầu từ giai ñoạn xét xử mà xuất hiện từ khi có
sự sự tình nghi và sự tình nghi ñó ñôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết ñịnh khởi tố bị
can trong trường hợp có người bị tạm giữ. Ngay từ giai ñoạn ñó, người bị tình nghi có
quyền làm rõ sự thật theo hướng có lợi cho bản thân trong khuôn khổ quy ñịnh của pháp
luật nhằm giảm nhẹ tội cho mình. Và thậm chí nếu có những vấn ñề khúc quẩn trong vụ
án mà nhiều khi Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chưa kịp thời phát hiện ra ñược
mà nhờ vào quyền bào chữa của người bị tình nghi giúp các cơ quan ñó xử lý vụ án kịp
thời công minh các hành vi pham tội và người phạm tội. Tóm lại, quyền bào chữa có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt ñộng pháp luật nói chung.
16


1.2. Cơ sở lý luận của quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
1.2.1. Lược sử hình thành chế ñịnh quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
Về phương diện lịch sử, Luật sư với tính chất như một nghề nghiệp thật sự xuất
hiện từ khi nào hiện vẫn là một vấn ñề tranh cãi trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, theo nhận xét của một số nhà nghiên cứu thì quyền bào chữa xuất hiện sớm
nhất ở châu Âu cùng với sự xuất hiện của Tòa án và Luật sư bào chữa xuất hiện cùng
Thẩm phán. Trong nhà nước Hi Lạp cổ, khi mà tổ chức Tòa án ñã hình thành, nguyên
cáo hoặc bị cáo ñược nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Tòa án.
Vào giai ñoạn cuối cùng của nền Cộng hòa thứ IV trước công nguyên, chế ñịnh
bào chữa bắt ñầu phát triển. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn
bè hoặc người thân bị giai cấp thống trị bắt giam vô cớ và trừng trị một cách ñộc ñoán.
Nó xuất phát từ quyền lợi của nhân dân bị áp bức nên nhân dân ñồng tình ủng hộ và dần
dần thu hút nhiều người tham gia bào chữa trước tòa.
Từ thế kỷ thứ I trước công nguyên ñến thế kỷ thứ II sau công nguyên, tại Hy Lạp

Ở Việt Nam, bắt ñầu nhen nhóm chế ñịnh về quyền bào chữa và Luật sư bào chữa
ngay từ thời kỳ phong kiến, nổi bật lên thời ấy là “Bộ luật Hồng ðức” ñã xác ñịnh
nguyên tắc bảo ñảm quyền bào chữa của người phạm tội. Cụ thể, tại ðiều 691 quy ñịnh:
“Những án xét và tội nhẹ, nhưng tình lý ñáng ngờ, thì giao cho quan Viện Thẩm hình
hội ñồng bàn xét, hỏi tội nhân cho ñến lúc nhận tội; nếu tội nhân không chịu nhận tội
thì cho phép ñược bào chữa rồi phải xét lại kỹ càng…”, bảo ñảm có sự “biện luận”, xét
xử thấu tình ñạt lý, tâm phục khẩu phục. Thật vậy, ðiều 667 quy ñịnh: “Khi lấy khẩu
cung người phạm tội, Quan tra án phải xem xét kỹ tìm ra sự thật ñể cho kẻ phạm phải
nhận tội; không ñược hỏi quá rộng cả ñến người ngoài ñể tìm chứng cớ bậy…”
Những dữ kiện lịch sử nêu trên cho thấy trong xã hội phong kiến Việt Nam, về cơ
bản, nghề thầy cung, thầy kiện không ñược coi trọng bởi cách nhìn không ñúng về loại
nghề này, trong ñó nguyên nhân chính xuất phát từ quan niệm các bậc vua, chúa phong
17


kiến luôn tự coi mình là “kẻ bảo vệ dân và bảo vệ sự công bằng”, hành xử như một
người thương dân, ý chí của vua là luật cao nhất. Tuy nhiên luật thành văn thời kỳ
phong kiến, ñặc biệt là “Bộ Quốc Triều Hình Luật” ñã ghi nhận nhiều quan ñiểm mới,
tiến bộ về việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép ñược tự do bào
chữa và ñảm bảo việc tranh biện kỹ lưỡng.
Trong thời kì Việt Nam là thuộc ñịa của Pháp, các Luật sư ñoàn ñã ñược hình
thành ở các khu vực Hà Nội, Sài Gòn thì ñược ñặt bên cạnh các Tòa án thuộc ñịa, hoạt
ñộng Luật sư ñã có một số thay ñổi theo hướng hành nghề tự do, thay thế chế ñộ Luật
sư công chức bằng chế ñộ thi tuyển, mở rộng phạm vi hành nghề của Luật sư cho cả
người Việt Nam có quốc tịch Pháp, chế ñộ thù lao chuyển từ việc nhà nước ấn ñịnh sang
thỏa thuận. Các quy ñịnh pháp lý ñiều chỉnh về tổ chức và hoạt ñộng Luật sư của Việt
Nam thời này chịu nhiều ảnh hưởng của chế ñịnh Luật sư của Pháp. Nhưng dưới chế ñộ
Ngụy Sài Gòn, chế ñịnh Luật sư ñã mang “hơi hướng” của tự do dân chủ theo kiểu Mỹ.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng tám, bộ máy Nhà nước phong kiến bị ñập tan
và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước ñầu tiên của giai cấp công nhân và

bất khả xâm phạm về thân thể, ñược pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm”. Như vậy, quyền của người công dân ñã ñược khẳng ñịnh trong Bộ luật
tố tụng hình sự 1988, ngay ở Chương I ðiều 12 với tên gọi: “Bảo ñảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo” quy ñịnh: “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa”. Ở ñây quyền bào chữa là nhằm bảo vệ cho bị can, bị cáo.
ðến năm 2003, Luật tố tụng hình sự ñã có bước phát triển vượt bậc, ñó là Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 ra ñời ñược Quốc hội nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26-11-2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7
năm 2004. Rõ ràng ñây là bước phát triển quan trọng không chỉ về kỹ thuật lập pháp mà
còn về nội dung của chế ñịnh quyền bào chữa trong luật tố tụng hình sự. ðiều 11 với tên
gọi: “Bảo ñảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” quy ñịnh: “Người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ
quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo ñảm cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy ñịnh của bộ luật này”. ðến ñây thì
quyền bào chữa ñược quy ñịnh không chỉ ñể bảo vệ bị can, bị cáo mà còn bảo vệ cho
tạm giữ.
Trungngười
tâmbịHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Từ khi chế ñịnh về quyền bào chữa ra ñời từ các bản Hiến pháp, thì chế ñịnh về
Luật sư cũng bắt ñầu hình thành ñể ñiều chỉnh những mối quan hệ trong xã hội có liên
quan ñến quyền bào chữa. ðầu tiên là Pháp lệnh tổ chức Luật sư 1987 ñược xây dựng
dựa trên cơ sở pháp lý quy ñịnh tại ðiều 133 Hiến pháp 1980: “Tổ chức Luật sư ñược
thành lập ñể giúp bị can, bị cáo và các ñương sự khác về mặt pháp lý”. Pháp lệnh này
ra ñời tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển ñội ngũ Luật sư Việt Nam, chứa ñựng
những quy ñịnh cơ bản liên quan ñến tổ chức và hoạt ñộng Luật sư, phù hợp với ñiều
kiện của nước ta thời ñó. Tiếp theo những năm sau ñó, do thực hiện ñường lối ñổi mới
của ðảng, ñất nước ta có những chuyển biến to lớn về mọi mặt trong ñời sống xã hội.
Trong tình hình ñó nhiều quy ñịnh của Pháp lệnh tổ chức Luật sư không còn phù hợp
với thực tiễn, làm cho hoạt ñộng Luật sư không ñáp ứng nhu cầu giúp ñỡ pháp lý ngày

Trungtựtâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
diện hơn về vấn ñề này khẳng ñịnh quyền bào chữa bao gồm hai bộ phận không thể tách
rời nhau, quyền bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Việc thực hiện quyền tự

bào chữa không làm mất ñi hay triệt tiêu quyền ñược nhờ người khác bào chữa và
ngược lại, sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự cũng không làm mất ñi
quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mặc dù trong ñiều luật này chỉ
quy ñịnh quyền bào chữa bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng trên thực tế
trong hoạt ñộng tố tụng hình sự của nước ta, bản chất của quyền bào chữa thật sự còn
bảo vệ cho một loại người nữa mà chưa quy ñịnh trong luật ñó là người bị kết án. Người
bị kết án là người ñã bị kết tội bởi một bản án ñã có hiệu lực pháp luật và ñã có thể ñi
vào giai ñoạn thi hành án nhưng họ vẫn có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật
hoặc những tình tiết mới trong các bản án hoặc quyết ñịnh của Tòa án ñã có hiệu lực
pháp luật và có quyền thông báo cho những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám ñốc thẩm, tái thẩm (ðiều 274, 292 Bộ luật tố tụng hình sự)
nếu họ xét thấy có ñủ căn cứ ñể kháng nghị bản án hoặc quyết ñịnh ñã có hiệu lực pháp
luật ñó. Khi họ làm công việc ñó là họ ñang tự bào chữa cho mình và họ vẫn có quyền
yêu cầu Luật sư bào chữa giúp cho họ. Như vậy, quyền bào chữa còn bảo vệ cho người
bị kết án.
20


1.2.2.2. Quan niệm về luật sư bào chữa
Từ sau khi ñất nước thống nhất (1975) ñến năm 1986, nước ta xây dựng Chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan nhà nước thực hiện tam quyền phân
lập: Lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng có sự thống nhất với nhau, khi ñó nhà nước
ta có quan niệm chỉ cần nâng cao năng lực quản lí các cơ quan tư pháp và cán bộ trong
các cơ quan tiến hành hành tố tụng là ñiều kiện bảo ñảm quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân nên bấy giờ không cần phải quan trọng hóa công việc của Luật sư. Chính vì

“Phạm vào tội mà pháp luật nhà nước ñã quy ñịnh”. Như vậy, theo cách hiểu ñược xác
1

Vấn ñề hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004, tr49

21


ñịnh trong cách giải nghĩa của Từ ñiển tiếng Việt thì “can phạm” ñã là người phạm tội
trong khi ngoài người bị kết án thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa ñược gọi là có
tội bởi chưa có bản án tuyên của Tòa án, nếu dùng từ can phạm ñể chỉ ñối tượng bào
chữa của Luật sư là không ñúng. Còn từ “ñương sự” theo ðiều 59 Bộ luật tố tụng hình
sự bao gồm: người bị hại, nguyên ñơn dân sự, bị ñơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ñến vụ án hình sự, không bao hàm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
khi Luật sư thực hiện hoạt ñộng tố tụng chủ yếu là bào chữa cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo - ñây là một nội dung rất quan trọng trong tố tụng hình sự mà không ñược
thể hiện trong khái niệm Luật sư thì thật sự ñây là một ñiều thiếu sót. Nhưng hiện tại
chúng ta ñã có khái niệm về Luật sư tương ñối hoàn chỉnh ñược thể hiện trong ðiều 2
Luật Luật sư 2006: “Luật sư là người có ñủ tiêu chuẩn, ñiều kiện hành nghề theo quy
ñịnh của luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ
chức”. So với các khái niệm vừa nêu trên thì nội dung thể hiện trong khái niệm này
hoàn chỉnh hơn - Luật sư là người phải ñáp ứng ñủ các yêu cầu theo quy ñịnh của luật
và họ là người thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm: Hoạt ñộng tố tụng, tư vấn pháp lý và
các dịch vụ khác, ñiều này ñã bao quát các hoạt ñộng của Luật sư không như các khái
niệm trên chỉ bó hẹp vai trò của Luật sư trong hoạt ñộng bào chữa. Như vậy, theo quan
niệm của luật Việt Nam hiện nay người Luật sư ñược hiểu là “người hỗ trợ tư pháp” hiện hai chức năng bào chữa và tư vấn pháp lý. Tuy nhiên, trong luận văn này,
Trungthực
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
người viết sẽ dùng từ “Luật sư” nhằm ñể chỉ người Luật sư thực hiện chức năng bào

những người buộc tội muốn kết luận ai có tội là quyền của họ mà không cần phải nghe
những lời biện bạch của bị can, bị cáo từ ñó dễ dàng dẫn ñến oan sai, giải quyết vụ án
không minh bạch, không công bằng, không ñảm bảo tính khách quan mà lại mang tính
chủ quan nhiều hơn trong quá trình kết tội và còn ảnh hưởng ñến danh dự, gây thiệt hại
về tinh thần và vật chất cho người bị buộc tội oan. Một hậu quả nghiêm trọng hơn là
làm mất lòng tin nơi dân, hệ thống pháp luật nước ta không còn ñảm bảo tính công
bằng, dân chủ, ñúng như pháp lý quy ñịnh. Chính xuất phát từ nguyên nhân này mà hiện
nay hệ thống pháp luật nước ta quy ñịnh chế ñịnh quyền bào chữa cụ thể trong Bộ luật
tố tụng hình sự 2003, có quyền bào chữa sẽ nâng cao quyền và lợi ích hợp pháp của
buộc tội trong tố tụng hình sự và làm tăng sự tin cậy của xã hội ñối với pháp
Trungngười
tâmbịHọc
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
luật Việt Nam nói riêng và pháp luật Xã hội chủ nghĩa nói chung.
Dưới ánh sáng Nghị quyết của ðảng, quyền bào chữa của bị can, bị cáo có ý nghĩa
ñặc biệt quan trọng ñối với việc tiếp tục dân chủ hóa công tác xét xử và tăng cường bảo
vệ quyền của công dân trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ
nghĩa và các quy phạm tố tụng của các Cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, cùng
với việc quan tâm cuộc sống của nhân dân, các cơ quan nhà nước cần phải tôn trọng và
bảo ñảm các quyền của công dân ñã ñược Hiến pháp quy ñịnh. Các cơ quan Tòa án,
Viện kiểm sát, Thanh tra và các Cơ quan ñiều tra phải dựa vào dân ñể phát hiện và ngăn
chặn kịp thời những vi phạm quyền của công dân.
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo không phải chỉ là sự bảo ñảm khỏi sự tình nghi,
sự buộc tội không có căn cứ mà còn là một phương tiện quan trọng ñể nhận biết sự thật
khách quan của vụ án nhằm thực hiện các bảo ñảm trong tố tụng hình sự. Tuân theo các
nguyên tắc tố tụng hình sự, việc bảo ñảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo có tác ñộng
tích cực ñến chất lượng xét xử và xác ñịnh sự thật khách quan của vụ án. Nếu pháp luật
quy ñịnh quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà không bảo ñảm thực
hiện nguyên tắc ñó thì phải ñược xem là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự bởi vì nó hạn
chế quyền của bị can, bị cáo và ảnh hưởng ñến việc ra bản án có căn cứ, hợp pháp và

người bị buộc tội nào cũng có khả năng thực hiện ñược và thực hiện có hiệu quả quyền
bào chữa của mình. Chính vì vậy sự giúp ñỡ về mặt pháp lý cho họ từ phía Luật sư là
cần thiết. Chức năng của Luật sư là bảo vệ quyền cơ bản của con người và thực hiện
công bằng xã hội. Luật sư phải thực hiện các nghĩa vụ của mình một cách trung thực,
phải cố gắng hết sức ñể duy trì trật tự xã hội và ñể tăng cường hệ thống pháp luật phù
hợp với chức năng của mình. Bằng hoạt ñộng của mình Luật sư góp phần tích cực bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý kinh tế và quản lý xã hội theo pháp
luật; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp phần vào
việc giải quyết các vụ án ñược khách quan, ñúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền
bình ñẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo
dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống Xã
hội chủ nghĩa. Là người am hiểu pháp luật, thông qua việc hành nghề, Luật sư bào chữa
phải trau dồi kiến thức và sử dụng kiến thức ñó ñể tăng cường giáo dục và phát triển hệ
24


thống pháp luật. Ngoài ra, Luật sư còn quan tâm ñến những khiếm khuyết vệc thực thi
pháp luật và ý thức ñược rằng người nghèo, ñôi khi có cả người không nghèo không
nhận ñược sự hỗ trợ pháp lý ñầy ñủ, vì vậy phải dành thời gian và ảnh hưởng của mình
ñể giúp ñỡ họ.
Luật sư ñóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của
công dân và phát triển xã hội, cùng với thời gian, ñội ngũ Luật sư Việt Nam dần dần
khẳng ñịnh rõ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Luật sư với tư cách là người có kiến
thức sâu, rộng về pháp luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, tham gia tích cực trong việc bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, cần phải khẳng
ñịnh mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status