Cảm hứng hiện thực và lãng mạn trong tác phẩm nỗi đau của chàng vecte - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NÉANG SÓC PHÂU

CẢM HỨNG HIỆN THỰC VÀ LÃNG MẠN
TRONG TÁC PHẨM NỖI ĐAU CỦA CHÀNG VECTE

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

TRƯƠNG THỊ KIM PHƯỢNG

Cần Thơ, 4 - 2011

1


Lời Cảm Ơn
Trải qua bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường Đại học, có thể nói
Luận văn tốt nghiệp là một công trình nghiên cứu có giá trị lớn đầu tiên đối với
mọi sinh viên sắp ra trường. Với công trình nghiên cứu này chúng tôi có dịp sử
dụng toàn bộ kiến thức đã học xuyên suốt trong bốn năm Đại học.
Trải qua gần một năm tìm tòi, nghiên cứu dưới sự chỉ dẫn của cô Trương
Kim Phượng và sự cố gắng của bản thân đến nay đề tài Lãng mạn và hiện thực
trong tác phẩm “ Nỗi đau của chàng Vecte” của Johan Vonfgăng Gơt đã tương
đối hoàn thành.

phổ thông, việc tiếp xúc, tìm hiểu, khai thác mảng văn học nước ngoài vốn vẫn
được chú trọng. Mặc dù việc tiếp cận mới ở giai đoạn khái quát, chung chung,
nhưng văn học nước ngoài đã từng bước góp phần hoàn chỉnh khung chương trình
đào tạo môn Ngữ Văn của nền Giáo dục Việt Nam. Song song với việc đọc và học
các tác phẩm văn học Việt Nam, học sinh còn được nghiên cứu một số trích đoạn
tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới. Đặc biệt là văn học phương Tây, nó chiếm
một tỉ lệ khá cao trong mảng văn học nước ngoài. Riêng đối với chúng tôi, những
sinh viên nghiên cứu chuyên sâu hơn vào môn Ngữ Văn, văn học phương Tây là
một môn học khá có sức hấp dẫn. Tuổi trẻ vốn gắn với tư duy tìm tòi, học hỏi,
khám phá và văn học phương Tây đáp ứng được điều đó. Một nền văn hóa, một
khối lượng kiến thức về cuộc sống xã hội, con người gắn với thời đại chính trị, tôn
giáo của một quốc gia hoàn toàn xa chúng ta đã là tiền đề thu hút sự tìm tòi,
nghiên cứu của chúng tôi cũng như những ai theo nghiệp văn chương. Nó giúp ích
cho chúng tôi được biết và hiểu về những tác gia, tác phẩm cùng với những trào
lưu văn học lớn trên thế giới.
Thế kỷ XVIII, ở Châu Âu xuất hiện nhiều trào lưu văn học, phương pháp
sáng tác gắn với biết bao đại văn hào. Đây chính là những thành tựu hết sức có giá
trị mà tất cả nhân loại phải nhìn nhận và được thừa hưởng. C.Mác, một nhà chính
trị gia lỗi lạc đã từng tôn vinh: “ Gơt là người Đức vĩ đại nhất, và là nhà thơ vĩ đại
nhất”, bởi Gơt để lại cho hậu thế và nền văn học Đức nói riêng, một nền văn
chương bất hủ cùng với ảnh hưởng sâu xa của nó. Từ tác phẩm đầu tay “ Nỗi đau
của chàng Vecte”, Gơt đã nâng tầm văn học Đức lên ngang tầm văn học thế giới.
Sự ra đời của tác phẩm tạo ra một sức ảnh hưởng rộng khắp, không chỉ trong
phạm vi một quốc gia, mà cả thế giới hầu như dang tay đón nhận nó như một báu
vật. Chính tác phẩm “ Nỗi đau của chàng Vecte” làm tỏa sáng và tạo nên tên tuổi
của Gơt.

4





bản thân nó. Quả thật, đây còn là một độc đáo và đặc sắc khi ở nó có sự kết hợp
hài hòa giữa yếu tố lãng mạn và yếu tố hiện thực. Độc giả không khỏi rung cảm,
đắm chìm cùng say với tác phẩm, lại càng thấm thía hơn về thực trạng xã hội nước
Đức lúc bấy giờ. Độc giả bỗng bơ vơ, cô độc với tâm trạng bất mãn của giai cấp tư
sản yếu kém đương tìm lên đòi giải phóng cho khát vọng tự do, cho sự bất bình
với xã hội phong kiến. Nó như một tiếng thét của con tim giới trẻ nước Đức lúc
bấy giờ vang mãi, vang mãi cùng nỗi đau của chàng Vecte.
Mặc dù tác phẩm tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte” đã được các anh,
chị sinh viên khóa trước chọn khá nhiều làm luận văn tốt nghiệp, nhưng khai thác
đề tài “ Hiện thực và lãng mạn trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Vecte” vẫn còn
là một đề tài mới mẻ. Vì vậy, đây là một vấn đề hết sức hấp dẫn đáng quan tâm
tìm hiểu và nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đọc từng trang viết, thấm từng câu chữ, chính sự say mê đã đưa tôi đến với
tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte”. Việc chọn đề tài: “ Hiện thực và lãng mạn
trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Vecte” cũng chính là động lực giúp tôi nghiên
cứu, khám phá sâu hơn về một cơn sốt của hơn hai thế kỷ qua. Đồng thời, người
viết còn muốn tìm hiểu thêm về văn học Đức cũng như mối quan hệ giữa văn học
Ánh sáng Đức và chủ nghĩa lãng mãn, chủ nghĩa hiện thực.
Mặc dù văn học Đức có những nhà văn lỗi lạc với những tầm vóc cao về
tác phẩm vang dội trên thế giới, nhưng ở Việt Nam có không nhiều những công
trình nghiên cứu chuyên sâu về các tác gia cũng như những tác phẩm nổi tiếng ấy.
Ở nước ta, đối với văn học Đức nhìn chung chỉ nghiên cứu theo phương thức lịch
sử văn học. Nghĩa là, các công trình nghiên cứu ấy thường chia giai đoạn văn học
Đức ra thành từng thời kì, trong đó có những tác giả tiêu biểu và những tác phẩm
tiêu biểu.
Riêng đối với Johann Wolfgang von Gơt, ở nước ta có khá ít bài nghiên
cứu về ông, nhất là đối với tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte”, và một số tác

với tiểu sử, khối mâu thuẫn lớn và một số đặc điểm về thơ, kịch, tiểu thuyết. Đối
với tiểu thuyết có nói qua tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte”, đã tóm tắt quá
trình hình thành, lí do, cốt truyện và phân tích một số vấn điểm nổi bật trong tác
7


phẩm. Trong đó nhận định: “ Thật khó tách bạch đâu là phê phán xã hội, đâu là
tình yêu. Hai khía cạnh đó quyện chặt lấy nhau, hòa nhập vào nhau tạo thành một
nét độc đáo của tư tưởng tác phẩm và biểu hiện ra cả mặt kết cấu ở các bình diện”.
[12;104]
Trong tài liệu “ Những nhân vật nổi tiếng thế giới” do Văn Hòa biên dịch
theo tài liệu nước ngoài, NXB Văn hóa, năm 1997 có đề cập đến tác giả Gơt.
Quyển sách nhìn nhận Gơt là một người đa tài và tác phẩm “ Nỗi đau của chàng
Vecte” cũng được giới thiệu là tác phẩm tiểu thuyết đầu tay, đã tạo nên danh tiếng
cho đại văn hào Gơt.
Trong cuốn “ Đại cương văn học Đức” do Lương Văn Hồng biên soạn,
NXB Văn học, năm 2002 đã khái quát văn học Đức từ khởi thủy đến năm 2002. Ở
phần văn học Đức thể kỉ XVIII đề cập đến Gơt và tác phẩm tiểu thuyết “ Nỗi đau
của chàng Vecte”, trong đó nhận xét: “ Đây là cuốn tiểu thuyết tâm lí xã hội lồng
vào bi kịch tình yêu của Vecte là tâm trạng khát vọng giả phóng tình cảm, khát
vọng về quyền tự do, quyền bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội thời bấy
giờ” [10;100], “ Nỗi đau của chàng Vecte bắt nguồn sâu xa từ chính hiện thực của
giai cấp tư sản Đức” [10;100]. Tác giả Lương Văn Hồng còn cho rằng tác phẩm
“phản ánh tâm trạng của lớp thanh niên đương thời: Mâu thuẫn giữa lí tưởng và
hiện thực”. [10;101]
Quyển “ 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới” do Đặng Phục Sinh,
Trương Tú Bình, Dương Lệ Mai đồng chủ biên, NXB Hội Nhà văn Hà Nội, năm
2002. Trong quyển sách này có giới thiệu sơ lược tiểu sử của Gơt, tóm tắt một số
vấn đề xoay quanh tác phẩm “ Nỗi đau của chàng Vecte”. Quan trọng hơn, các tác
giả cuốn sách đã đưa tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte” vào danh sách “ 100

thực và lãng mạn trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Vecte”.
3. Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện đề tài về một vấn đề thuộc về quan
niệm của một tác giả lớn, một trào lưu văn học lớn của nhân loại thể hiện trong
một tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học. Đó là dịp để chúng tôi đi sâu tìm hiểu
một nền văn học lớn của nhân loại. Đây cũng là điều kiện giúp chúng tôi có thể

9


hiểu biết sâu rộng hơn về Văn học phương Tây, cụ thể là nền Văn học Đức thế kỷ
XVIII.
Trong mỗi đề tài bao giờ cũng có phần trung tâm, nghĩa là phần nội dung
chính mà chúng ta cần tập trung làm rõ. Đối với đề tài “ Hiện thực và lãng mạn
trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Vecte”, mục đích yêu cầu cần làm rõ là những
vấn đề sau:
Ở phần nội dung về cơ sở lý luận, người viết làm rõ những đặc trưng của
chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực. Trong chủ nghĩa lãng mạn, vấn đề
khai thác là các tiền đề lịch sử - xã hội, nguyên tắc sáng tác, nhân vật lãng mạn, sự
khác biệt giữa chủ nghĩa lãng mạn với cảm hứng lãng mạn, hình thái lãng mạn và
tính chất lãng mạn. Trong chủ nghĩa hiện thực, cơ sở lý luận cần sáng tỏa là các
vấn đề về tiền đề lịch sử - xã hội, các nguyên tắc sáng tác và nhân vật hiện thực.
Từ lý luận về chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, người viết sẽ tập trung
hướng đến mối quan hệ giữa văn học Ánh sáng Đức với chủ nghĩa lãng mạn và
chủ nghĩa hiện thực. Nội dung chính của cơ sở lý luận còn đề cập đến thời đại
sống, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Johann Wolfgang von Gơt.
Trong phần nội dung chính, bên cạnh những lý luận liên quan đến đề tài thì
phần trọng tâm của đề tài chính là biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa
hiện thực trong tác phẩm tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte”. Phần biểu hiện
của chủ nghĩa lãng mạn trong tác phẩm, người viết đi sâu khai thác việc đề cao

nghiệp văn chương của Gơt. Những đặc điểm cũng như hoàn cảnh ra đời của chủ
nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực. Qua đó, người viết sẽ tìm ra được mối
quan hệ đặc biệt giữa chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực với văn học Ánh
sáng Đức.
Do vậy, những tư liệu nghiên cứu, tài liệu tham khảo và việc nghiên cứu,
khảo sát tác phẩm tiểu thuyết “ Nỗi đau của chàng Vecte” chỉ trong phạm vi đề tài
quy định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong mọi hoạt động, dù là hoạt động nhỏ, để đạt hiệu quả cao, người ta
cần phải có một phương pháp để thực hiện. Phương pháp là một trong những yếu
tố góp phần làm nên hiệu quả công việc. Đối với đề tài luận văn: “ Hiện thực và
11


lãng mạn trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Vecte” cũng cần phải có một
phương pháp nghiên cứu khoa học. Vì vậy việc áp dụng có hiệu quả những
phương pháp nghiên cứu chính là một đòi hỏi bức thiết.
Trước tiên, để thực hiện đề tài này, người viết phải có một quá trình đọc và
tìm hiểu kĩ về tác phẩm để nắm bắt được hết tất cả các chi tiết và nội dung. Kết
hợp với những lượng kiến thức đã học, người viết sẽ tạm thời vạch ra những biểu
hiện, dẫn chứng cụ thể trong tác phẩm có liên quan đến trọng tâm nội dung đề tài
làm tư liệu cá nhân. Sau đó người viết nghiên cứu các tài liệu tham khảo, các công
trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến tác phẩm để tạo được cái nhìn toàn diện về
đề tài thực hiện.
Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu tài liệu người viết ghi chép cẩn thận
tài liệu có liên quan đến đề tài. Dựa trên những tài liệu thu thập qua chắt lọc và
chọn lựa, người viết viết nên đề cương từ khái quát đến chi tiết. Để hoàn thành đề
tài luận văn này, sự hướng dẫn, sữa chữa của giáo viên hướng dẫn là một giúp đỡ
rất lớn.
Đây là một đề tài tổng hợp gồm các phương pháp: phân tích, chứng minh,

quay về cái cũ. Một mặt nó làm vỡ mộng đối với quảng đại quần chúng nhân dân
về cái mới, nó không đáp ứng được sự chờ đợi của họ đặt vào cách mạng trước
đây. Trong bối cảnh lịch sử - xã hội này, chủ nghĩa lãng mạn ra đời. Sau cách
mạng Pháp, thế lực phản động lập tức ngóc đầu dậy, tiếp theo, tầng lớp dân chủ
cấp tiến mới vươn lên. Vì thế chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực ra đời sớm hơn chủ
nghĩa lãng mạn tích cực.

14


Trong thư gửi cho Ănghen ngày 25/03/1868, Mác viết: “ Sự phản ứng đầu
tiên đối với Cách mạng tư sản Pháp và đối với các nhà tư tưởng có liên quan đến
cuộc Cách mạng tư sản Pháp là một điều rất tự nhiên, tất cả đều mang màu sắc
thời trung cổ, tất cả đều mang màu sắc lãng mạn”. Sự phản ứng đầu tiên này
chính là sự phản kháng của những người đại biểu có ý thức hệ quý tộc cảm thấy
bất mãn với trật tự xã hội mới, lo sợ trước phong trào quần chúng, hoang mang
dao động vì tương lai mờ mịt và luyến tiếc cái thời oanh liệt nay không còn nữa.
Một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản, tiểu nông thì bị phá sản khi cách mạng nổ ra
nên mang tâm trạng bi đát và muốn khôi phục lại chế độ phường hội và chế độ
gia trưởng. phản ứng của họ sản sinh ra chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực.
Cách mạng tư sản Pháp ngoài việc giải phóng giai cấp tư sản là chủ yếu còn
giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi chế độ phong kiến, nhưng liền sau đó lại
tròng vào cổ họ một xiềng xích tư sản. Những lí tưởng đẹp đẽ như “ Tự do –
Bình đẳng – Bác ái” đầy hứa hẹn trong bản tuyên ngôn nhân quyền đến đay bị
tan vỡ. Cái họ chống không phải là lí tưởng cách mạng mà là thành quả thực tế
của cách mạng. Vì “ Những cơ cấu mới tưởng hợp lí hơn so với trước, thì lại
không hoàn toàn hợp lí… Phương châm bác ái được thực hiện bằng những sự
lừa bịp, đố kị trong cạnh tranh… Thay cho thanh kiếm, đồng tiền đã trở thành
đòn bẩy quan trọng nhất của xã hội”, “Bình đẳng rốt cuộc là bình đẳng tư sản
trước pháp luật” (Ănghen). Napôlêông đệ nhất đã giương cao ngọn cờ bình đẳng

học và mĩ học Đức lại đè cao con người tách khỏi thực tế xã hội và lịch sử. Từ
trong mối tương quan chằng chịt, phức tạp đó, các nhà văn lãng mạn tích cực và
tiêu cực sẽ khai thác theo những khía cạnh nào thích hợp với quan điểm của
mình. Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối.
Nhìn chung, chủ nghĩa lãng mạn ra đời trên cơ sở bất bình đối với trật tự xã
hội tư sản được thiết lập sau cách mạng tư sản Pháp năm 1789 hay nói như Mác:
chủ nghĩa lãng mạn là “ sự phản ứng đầu tiên chống lại cách mạng Pháp và
phong trào Ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó”.
1.1.2 Nội dung chủ đề
Chủ nghĩa lãng mạn trước hết là sự trở về với tự nhiên và tình cảm. Thế
giới nội tâm, tình cảm của con người với nhiều trạng thái khác nhau chính là đối
16


tượng mới của sáng tạo văn học. Chủ nghĩa lãng mạn là cuộc chiến thắng của
chủ nghĩa tự nhiên và bộc lộ cái tôi. Con người đòi hỏi được giải phóng khỏi
những áp bức bất công. Chủ nghĩa lãng mạn rất coi trọng vai trò của thiên nhiên,
kêu gọi sự trở về với thiên nhiên. Chủ nghĩa lãng mạn coi thiên nhiên là cõi ẩn
dật, là nguồn an ủi để chống lại cái phũ phàng , bất công của xã hội tư bản. Chủ
nghĩa lãng mạn tích cực cũng xem thiên nhiên là nơi ấp ủ tốt nhất những cảm
xúc trữ tình mãnh liệt của người nghệ sĩ. Thiên nhiên trở nên vô cùng rực rỡ,
giàu thanh sắc trong các tác phẩm của họ.
Trong các tác phẩm lãng mạn, đó là bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp của
thiên nhiên. Cụ thể là trong tiểu thuyết “Nỗi đau của chàng Vecte”, ta như chiêm
ngưỡng được muôn vàn cảnh sắc và đường nét tuyệt đẹp. Có lẽ sẽ không tìm ra
đâu một khung cảnh đầy lãng mạn và thi vị hơn của làng Vanhaimơ qua từng
bức thư Vecte miêu tả gửi cho bạn chàng, Vinhêm. Đó là một bức tranh lớn nhỏ
về cảnh sắc thiên nhiên mà Goethe đã say mê ca ngợi và miêu tả bằng ngòi bút
sắc sảo và ngôn ngữ tinh vi, chính xác và gợi hình. Tác giả cũng thể hiện tài tình
sự hòa hợp giữa thiên nhiên với đời sống con người, với nội tâm của nhân vật.

một xã hội tốt đẹp hơn. Hầu hết họ thể hiện trong tác phẩm của mình những giấc
mơ về hành động thực tế của cá nhân, về chỗ cá nhân có thể xâm nhập vào thế giới
quan và làm thay đổi được nó. “Chủ nghĩa lãng mạn tích cực lại nhằm tăng cường
ý chí cuộc sống cho con người thức tỉnh lòng phản kháng đối với thực tại, đối với
mọi đè nén áp bức trong thực tại” (Gorki).
Con người lý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn tích cực do đó thường là nhân
vật phi thường, con người nổi loạn chống lại xã hội, tố cáo chủ nghĩa tư bản đã
chàn đạp lên quyền sống và phẩm chất của con người, nêu cái lý tưởng tiến bộ
nhưng không tưởng như nhân vật Giăng Van Giăng trong tiểu thuyết “ Những
người khốn khổ” của Victo Huygô.
Kết thúc của số phận các nhân vật anh hung lãng mạn thường là bi thương.
Nếu họ gắn bó với lý tưởng cao quý của mình thì họ thường bị tiêu diệt trong các
cuộc chiến đấu không ngang sức với thực tế xã hội. Còn nếu họ từ bỏ lý tưởng để
quay về với môi trường tư sản thì họ cũng chết về phương diện tâm hồn. Sở dĩ như
vậy, nguyên nhân chính là ở chỗ chủ nghĩa lãng mạn không gắn với lực lượng
18


thực sự sẽ thay đổi được thế giới. Sự nổi loạn lãng mạn tất yếu sẽ không có lối
thoát.
Về tính cách, tính cách trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực thường rất nhẹ về
ý nghĩa phổ biến, khái quát mà thiên về cá tính, vẻ riêng độc đáo đặc biệt phi
thường, ngoại lệ, chẳng hạn như Quadimôđô trong “Nhà thờ Đức Bà Pari” của
Victo Huygô. Cũng có khi đó là những tính cách cao kỳ ngạo mạn đối lập với
hoàn cảnh tầm thường vô vị như Traiđơ Harôn trong “Du kí Traiđơ Harôn” của
Bairơn từ bỏ đất nước Anh ra đi không chút luyến tiếc và với vẻ khinh miệt đối
với xã hội đương thời.
Số lượng tính cách mà chủ nghĩa lãng mạn tích cực khắc họa không thật
phong phú vì đó là những “phân thân” của tác giả chú không phải bắt nguồn từ
thực tế muôn màu muôn vẻ. Puskin đã nhận xét sâu sắc như sau: “Bairơn sau chỉ

1.2.1 Tiền đề lịch sử - xã hội
Khái niệm chủ nghĩa hiện thực được hiểu theo nhiều cách khác nhau và sử
dụng trong nhiều trường hơp khác nhau. Có khi, nó được hiểu là một kiểu sáng tác
– kiểu sáng tác tái hiện nhưng cũng có khi được hiểu là một trào lưu văn học – đối
tượng của bộ môn lịch sử văn học. Bên cạnh đó, khái niệm này còn được hiểu là
một phương pháp sáng tác, tức là những nguyên tắc phản ánh có tính chất tư
tưởng, nghệ thuật của trào lưu văn học. Hiểu theo nghĩa này, chủ nghĩa hiện thực
cũng có nhiều dạng. Đó là chủ nghĩa hiện thực thời Phục hưng, chủ nghĩa hiện
thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực trong thời phong kiến mạt kì ở phương
Đông… nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tây Âu là đạt đến đỉnh cao nhất
Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực dựa trên những tiền đề về lịch sử - xã hội
và ý thức như sau:
* Cơ sở xã hội
Chủ nghĩa hiện thực xuất hiện và phát triển trong điều kiện chế độ tư bản
chiếm địa vị thống trị, phong trào công nhân bắt đầu lơn mạnh. Quan hệ xã hội đi
tới hình thái đơn giản hóa nhất, đồng thời đạt mức độ sâu sắc nhất, gay gắt nhất.
Mâu thuẫn chủ yếu nổi lên hàng đầu là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản. Đặc điểm tình hình xã hội châu Âu thời kì này được Mác và Ănghen xác
định: “Từ khi có công nghiệp lớn, ít nhất là từ hòa ước châu Âu năm 1815, ở Anh
20


việc tranh giành quyền thống trị giữa hai giai cấp quý tộc chiếm hữu ruộng đất và
giai cấp tư sản – đã trở thành trọng tâm của toàn bộ cuộc đấu tranh chính trị ở
nươc này… Ở Pháp, kh dòng vua Buốcbông trở về nước, sự việc giống như thế
cũng phản ánh vào ý thức mọi người… Và từ năm 1830 trở đi ở hai nước ấy, giai
câp công nhân, tức là giai cấp vô sản, đều được coi là chiến sĩ thứ ba đấu tranh
giành quyền thống trị. Quan hệ đã đơn giản hóa đến mức chỉ có người cố ý nhắm
mắt lại mới không thấy rằng cuộc đấu tranh giữa ba giai cấp lớn ấy và sự xung đột
vì lợi ích của họ là động lực của toàn bộ lịch sử cận đại” (Nguyên lý triết học

Phuriê và Ôoen ra đời vào những năm đầu thế kỉ tuy đã đưa ra đề án cải tạo xã hội
mang tính cải lương nhưng họ chỉ ra được mâu thuẫn giai cấp trong xã hộ và phê
phán quan hệ tư bản chủ nghĩa. Tuy kê đơn sai nhưng họ đã bắt mạch đúng căn
bệnh của xã hội, điều này cũng giúp ích cho mọi người trong việc nhận thức xã
hội.
Về sử học, trong khi các sử gia phong kiến ra sức khẳng định chế độ tư bản
chủ nghĩa chỉ tồn tại tạm thời, chế độ phong kiến mới tồn tại vĩnh hằng, bất biến,
cách mạng năm 1789 chỉ là ngẫu nhiên và sẽ bị đảo ngược thì các sử gia tư sản lại
chứng minh rằng thắng lợi của giai cấp tư sản đối với giai cấp phong kiến quý tộc
là một tất yếu lịch sử. Mặc dù đứng trên lập trường của giai cấp tư sản, nhưng luận
điểm của họ là tiến bộ, đúng đắn và vô hình trung đã vạch ra được quy luật đấu
tranh giai cấp như một phương diện quan trọng trong động lực phát triển lịch sử.
Ănghen năm 1894 đã viết rằng nếu như Mác phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
thì Chiêri, Minhi, Ghiđô, các sử gia tư sản Pháp, “cho đến năm 1850 chứng tỏ họ
đang cố gắng tiến tới quan niệm ấy”.
Về triết học, trong nhiều hệ thống triết học thế kỉ XIX, chủ nghĩa duy tâm
khách quan của Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân chủng của Phơbách, chủ nghĩa
thực chứng của Căng-Xpensơ đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của chủ nghĩa
hiện thực. Hêghen mặc dù đứng trên quan điểm duy tâm vẫn ủng hộ trong nhận
thức của nhà văn cách hiểu cuộc sống con người như một quá trình biện chứng
khách quan của quá trình phát triển lịch sử của chính thực tại. Khái niệm tự do và
triết học lịch sử của ông tràn đầy niềm tin lạc quan vào tương lai tiến bộ của loài
người, tràn đầy lí tưởng về sự tất thắng của trí tuệ và nhân đạo. Triết học Phơbách
22


đã đổi mới về mặt lí luận việc loại trừ khỏi chủ nghĩa hiện thực mọi loại thần bí,
khẳng định tính độc lập và sưc sáng tạo của con người. Triết học nhân chủng học
của ông đã soi rọi vào chủ nghĩa duy tâm một niềm tin xác tín rằng ngoài thiên
nhiên và con người thì không còn thứ gì tồn tại, rằng phẩm chất cao quý của trí

nghiac hiện thực tiếp thu được giá trị hiện thực của các tác phẩm lãng mạn tích
cực, rút kinh nghiệm từ những hạn chế của phương pháp này.
1.2.2

Nội dung chủ đề
Ở dòng văn học lãng mạn tiêu cực ta thường bắt gặp những kiểu nhân vật

trốn đời, trốn tránh nghĩa vụ của một công dân đối với cộng đồng vào trong tháp
ngà nghệ thuật. Họ không còn biết gì đến xã hội bên ngoài. Con người trở nên bi
quan với cuộc sống. Họ tìm đến thiên nhiên, nuôi dưỡng tâm hồn mình, và tự rủ
ngủ mình bằng rượu và thơ. Cũng có một số kiểu nhân vật chống phá lại cái xã hội
vốn nhiễu nhương, nổi loạn chống lại thời đại. Tuy nhiên, chung quy lại, kết thúc
số phận của những nhân vật đó thường lại bi tráng. Họ đấu tranh đơn độc trước
một xã hội đồng tiền với đầy rẫy những bọn tham lam vô lại bất tài. Một xã hội
nhiễu nhương không có chỗ cho những con người tài hoa. Họ chiến đấu với hình
thức cải lương không triệt để. Họ đã anh dũng đứng lên chống lại những định kiến
hẹp hòi của xã hội, song những gì họ làm đều không thể thay đổi được cái mô hình
xã hội đã nát mục vốn có của nó. Và so sánh với nhân vật lãng mạn, kiểu nhân vật
của chủ nghĩa hiện thực là đối lập hẳn. Họ không đấu tranh đơn lẻ kiểu anh hùng
cổ xưa nữa, đó không còn là hình thức đấu tranh tự phát nữa, mà đấu tranh của họ
là đấu tranh tự giác. Với sự bất công trong xã hội và mong muốn thay đổi thiết lập
một trật tự xã hội công bình, họ đứng lên tranh đấu là sức mạnh của một tập hợp
đông đảo của mọi tầng lớp.
Dưới chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, từ một người làm chủ ( ruộng đất,
gia đình, bản thân,…) họ đã bị tước đoạt hết tất cả và đã trở thành một kẻ trắng
tay, một người nô lệ. Họ bị đẩy xuống đến tận đáy bùn đen của xã hội. Ngòi bút
của các tác giả hiện thực hướng đến tất cả những cảnh đời bất hạnh, để đồng cảm,
chở che và bênh vực họ. Đi sâu vào miêu tả cuộc sống nghèo khổ đến tận cùng của
nhân dân, các nhà văn hiện thực muốn bắn những phát đại bác vào thành trì chế độ
dân chủ dỏm đời. Tầng lớp thống trị đã cướp đoạt của những con người nghèo khổ

hoàn cảnh được giải thích bởi hoàn cảnh. Hoàn cảnh cuộc sống không đứng yên
mà luôn biến đổi. Và điều đó làm cho tính cách của nhân vật cũng luôn luôn phát
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status