1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
______________________
PHƯƠNG THỊ HẰNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
_______________________
PHƯƠNG THỊ HẰNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Tác giả
Phương Thị Hằng
5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn.
Lời cam đoan.
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................9
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................9
7. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
NGUYỄN CHÍ TRUNG
1.1. Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong văn học ................... 10
1.1.1. Khái niệm nhân vật trong văn học ........................................................ 10
1.1.2. Khái niệm thế giới nhân vật .................................................................. 11
1.2. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung ............. 12
1.2.1. Nhân vật chính diện - nhân vật bên ta ................................................... 14
1.2.1.1. Nhân vật anh hùng với tinh thần xả thân................................. 15
7
CHƯƠNG 3
NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG
3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung ....... 92
3.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật ............................................................ 92
3.1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung ........... 94
3.1.2.1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh biểu trưng, đa nghĩa ........................ 94
3.1.2.2. Ngôn ngữ đời thường, giản dị, khẩu ngữ xứ Quảng ............... 96
3.1.2.3. Ngôn ngữ giàu chất thơ ........................................................... 98
3.1.2.4. Ngôn ngữ nhân vật ................................................................. 100
3.2. Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung ... 105
3.2.1. Khái niện giọng điệu nghệ thuật ......................................................... 105
3.2.2. Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung........ 107
3.2.2.1. Giọng điệu trữ tình - triết luận .............................................. 108
3.2.2.2. Giọng tranh biện, suy tư, trăn trở ......................................... 112
3.2.2.3. Giọng điệu xót xa, thương cảm, ngợi ca ................................ 114
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................... 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 122
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Thế giới nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng của thi
pháp học hiện đại. Chính vì vậy, nghiên cứu thế giới nghệ thuật là nghiên cứu
văn học ở góc độ thi pháp, tránh được những cách tiếp cận không phù hợp với
tác phẩm văn học về mặt nội dung và mặt hình thức. Do đó, thế giới nghệ
hoá và chiêm nghiệm những bài học có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
1.3. Với đề tài này, người viết có cơ hội hiểu thêm về cuộc kháng chiến
hào hùng nhưng cũng đầy đau thương mất mát của dân tộc. Bởi lẽ trong tác
phẩm, ngoài phần hư cấu còn có cốt lõi lịch sử của nó. Truyền thống vốn là
cội nguồn, là điểm tựa lịch sử cho mỗi dân tộc. Vì vậy hiểu truyền thống, hiểu
quá khứ sẽ giúp ta vững tin trong cuộc sống hôm nay. Bên cạnh đó, trong quá
trình thực hiện đề tài, người viết được củng cố, bổ sung những kiến thức lịch
sử văn học và lí luận văn học phục vụ cho công tác giảng dạy.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Nguyễn Chí Trung.
2. Lịch sử vấn đề
Mãi đến những năm 70 của thế kỉ XX, ở Nga xuất hiện khái niệm “Thế
giới nghệ thuật” qua các công trình nghiên cứu văn học. Đến nay, nó được sử
dụng rộng rãi như một cách lý giải, tiếp cận tác phẩm trong tính đặc thù, khu
biệt và toàn vẹn. Vì vậy, thế giới nghệ thuật trở thành đối tượng nghiên cứu
của nhiều công trình khoa học.
Từ xưa người Trung Quốc đã gọi tác phẩm thơ là “một cõi ý” (ý
cảnh), cõi thơ. Nhà văn Seđrin lại nói: “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu
nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”.
Như vậy, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật.
3
Bêlinxki cũng đã từng nhận xét: “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế
giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó”.
Với những nhận xét trên cho thấy, mọi thế giới nghệ thuật là tổng thể có quy
luật riêng, có tính độc lập nội tại, phân biệt với các thế giới khác và thế giới
nghệ thuật cũng có quy luật riêng và ý nghĩa riêng của nó.
Ở Việt Nam, thế giới nghệ thuật dùng như một đối tượng xác định:
“Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã
miền Nam (1954 - 1959) để làm nền cho cuốn tiểu thuyết của mình. Ở đó, sự
kiên trung và hèn nhát, lòng bao dung và sự ích kỷ, tính kiên quyết và sự thoả
hiệp... sẽ được bộc lộ rõ nhất trong mỗi nhân vật. Nhưng có lẽ bao trùm lên
tất cả cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung là tấm lòng của người dân đối
với cách mạng” [6]. Ngoài ra, Trần Đăng còn quan niệm Tiếng khóc của nàng
Út tựa như một “tiểu thuyết phong tục”, là sản phẩm mà nhà văn dành riêng
để trả “món nợ ân tình” với nguời dân Quảng Ngãi: “Những nhà nghiên cứu
lịch sử cũng có thể “gặp” được Nguyễn Chí Trung qua cuốn sách này khi ông
bàn về “làng” về “xứ” kể từ khi Lê Thánh Tông đặt bước chân mình vào vùng
đất đầy nắng gió này để cắm thêm những cột mốc biên cương của Tổ quốc
cách nay ngót 600 năm. Những nhà nghiên cứu dân tộc học thì “gặp” nhà văn
ở nhưng trường đoạn đặc tả về các lễ hội mang tính truyền thống của các bộ
tộc người ở phía Đông dãy Trường Sơn” [6].
Nguyễn Tĩnh Nguyện trong bài viết Đọc “Tiếng khóc của nàng Út”
của nhà văn Nguyễn Chí Trung lại nêu những nhận xét về cuốn tiểu thuyết
này từ khía cạnh nhân vật: “Nhân vật trong tiểu thuyết này xuất hiện không
liên tục, mà qua các trường đoạn nhiều lúc bị ngắt quãng, nhưng đọng lại
trong lòng người đọc nhờ những tính cách độc đáo thể hiện qua những hoàn
cảnh cũng rất cá biệt. Nguyễn Chí Trung xây dựng nhân vật theo hai dạng,
6
một dạng hiện thực như Toàn, Vần, Thương... và một mang tính chất biểu
tượng như bà On, người dẫn chuyện mang hơi hướng huyền thoại... Không
chỉ nhân vật người vùng xuôi, các dân tộc ít người như cô Út, Phó Mục Gia,
Xăm BRăm đều rất sinh động, gần gũi với người đọc chứ không hề khập
khiễng” [15].
Trong cuốn Văn học và người lính, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Tú
đề cập đến cuốn tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út khi nghiên cứu về tính
chất “giải sử thi” nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
Trung và những trang viết về chiến tranh có viết: “Từ Tiếng khóc của nàng
Út đến Đối thoại trong đêm, tiểu thuyết gần đây nhất của nhà văn đều tái hiện
bối cảnh lịch sử đầy hào hùng và bi tráng của đất nước qua hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đó là một trong những cuộc khởi nghĩa
thắng lợi sớm nhất ở miền Nam thời kì 1954 - 1960. Khởi nghĩa Trà Bồng Quảng Ngãi (Tiếng khóc của nàng Út), là thời điểm nổ súng trong đêm toàn
quốc kháng chiến ở Đà Nẵng (Đối thoại trong đêm)... Tất cả những sự kiện
đó thể hiện ý chí chiến đấu vì độc lập tự do, quyền sống của con người...”
[25].
Vẫn trong bài báo này viết: “Đối thoại trong đêm kể về một “vở diễn
thời chưa xa, tháng 12/1946”, dường như ngòi bút Nguyễn Chí Trung đã chú
ý hơn việc tổ chức những màn độc thoại sống động, đầy kịch tính và nhân
văn, làm toát lên cá tính và lập trường của các nhân vật ở cùng chiến tuyến
(Nguyễn Đỏ và Tú Hùng), thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quyết tử cho Đà
Nẵng quyết sinh của Nguyễn Đỏ, một dân Đà Nẵng thứ thiệt và Tú Hùng,
chàng trai Hà Nội theo tiếng gọi của non sông đã tình nguyện Nam tiến.
Trong thời khắc ác liệt và hiểm nguy nhất của cuộc chiến không cân sức giữa
Tiểu đội Nguyễn Đỏ và Đại đội lính Lê Dương. Tú Hùng và Nguyễn Đỏ đã
8
“quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”. Chọn phương án đánh giáp lá cà với
bọn lê dương” [25].
Có thể thấy rằng, các bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Chí
Trung chủ yếu tập trung vào xây dựng nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết,
chưa có ai nghiên cứu, đánh giá sâu sắc toàn diện và chưa có công trình nào
nghiên cứu thế giới nghệ thuật một cách toàn diện trong tiểu thuyết của nhà
văn. Chính bởi vậy, kế thừa những thành tựu của người đi trước, chúng tôi
mạnh dạn nghiên cứu đề tài thế giới nghệ thuật dựa trên cứ liệu hai cuốn tiểu
thuyết Tiếng khóc của nàng Út và Đối thoại trong đêm nhằm mục đích khám
phá tác phẩm trong tính vừa đặc thù khu biệt, vừa toàn vẹn trong tiểu thuyết
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ những đặc sắc về nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí
Trung.
- Khẳng định tài năng, vị trí và những đóng góp của Nguyễn Chí Trung
trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, Nội dung của
luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Chí Trung.
Chương 2: Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Nguyễn Chí Trung .
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Nguyễn Chí Trung.
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG
1.1. Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong văn học
1.1.1. Khái niệm nhân vật trong văn học
Cùng với cốt truyện, kết cấu, xung đột, giọng điệu, ngôn ngữ thì nhân
vật là nơi biểu hiện rõ nhất và trọn vẹn nhất cảm hứng nghệ thuật của nhà
văn. Bởi nhân vật mang linh hồn của tác phẩm, là trọng tâm mọi sự miêu tả
nghệ thuật, là nơi tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận giải mã
những vấn đề hiện thực hoặc phi hiện thực cốt yếu được đặt ra trong tác
phẩm. Chức năng cơ bản của nhân vật là khái quát tính cách con người, là
người dẫn dắt độc giả vào thế giới khác nhau của đời sống. Nhân vật văn học
cũng là nơi thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn
mỹ, tư tưởng cũng như thấm đẫm truyền thống văn hoá, bối cảnh thời đại mà
nhân vật được sinh ra. Và dù xuất hiện trong tác phẩm dưới dạng thức nào thì
nhân vật văn học vẫn là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chỉnh thể của
tác phẩm văn học.
1.1.2. Khái niệm thế giới nhân vật
Thế giới nhân vật là một khái niệm thuộc phạm trù triết học. Theo Từ
điển triết học phạm trù này có thể hiểu:
Theo nghĩa rộng, đó là toàn bộ hiện thực khách quan (tồn tại ở bên
ngoài và độc lập với ý thức con người) “thế giới là cội nguồn của nhận thức”
[22, Tr.1083].
Theo nghĩa hẹp, đó là khái niệm dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ,
nghĩa là toàn bộ thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu. Người ta chia
12
giới vật chất đó thành hai lĩnh vực không có ranh giới tuyệt đối: “Thế giới
mô, thế giới vĩ mô” [22, Tr.1083].
Như vậy, có thể nói, “Thế giới” là phạm vi một vũ trụ rộng lớn tồn tại
xung quanh con người và tôn tại độc lập với ý thức con người.
Trong nghiên cứu văn học, khái niệm thế giới nhân vật là một phạm trù
rất rộng. Thế giới nhân vật là tổng thể những hệ thống nhân vật được xây
dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả.
Thế giới ấy mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ
chức và sự sống riêng phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ. Nằm trong
thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả
của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn
học và trong sáng tác nghệ thuật. Đó là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc
riêng, có quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, không gian,
thời gian... gắn liền với một quan niệm nghệ thuật nhất định về chúng của tác
giả. Thế giới nhân vật là sự cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc
người xã hội vì mục đích cách mạng và kháng chiến.
Với khả năng “cộng sinh thể loại” của thể loại tiểu thuyết, nhân vật tiểu
thuyết trong loại hình tiểu thuyết sử thi đã hình thành một cấu trúc nghệ thuật
có sự kết hợp đặc trưng của sử thi Cổ - Trung đại với đặc trưng của tiểu
thuyết. Tiểu thuyết sử thi chỉ xuất hiện trong thời đại anh hùng. Hoàn cảnh
lịch sử đặc biệt với những biến cố trọng đại, nhưng bước ngoặt to lớn trong
lịch sử mỗi dân tộc đã quyết định cấu trúc thể loại của loại hình tiểu thuyết
này, trong đó có cấu trúc hình tượng nhân vật của nó.
Là nhà văn sinh ra và lớn lên với mảnh đất Quảng Nam - Đà Nẵng
trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nguyễn Chí Trung
lại từng tham gia hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc trên chính mảnh đất
này - “mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”, mảnh đất huyền thoại đã cùng sống,
14
cùng thấm đẫm ký ức và hoài niệm trong ông về con người nơi đây. Chính vì
vậy mà hầu hết các tác phẩm của mình, nhà văn đều dành trọn tình yêu, tâm
huyết cho vùng đất sinh ra ông. Với hai cuốn tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng
Út (2007) và Đối thoại trong đêm (2011), Nguyễn Chí Trung đã có đóng góp
đáng ghi nhận với đời sống văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt với văn học
chiến tranh và người lính.
Là tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nên nhân vật trong tiểu thuyết
của Nguyễn Chí Trung được xây dựng theo nguyên tắc sử thi. Vì thế mà
nguyên tắc phân tuyến đối lập đã chia đôi thế giới nhân vật thành “hai nửa”
chính diện và phản diện. Tuy theo nguyên tắc phân tuyến đối lập, tiểu thuyết
viết về chiền tranh theo hướng sử thi hôm nay của ông đã xuất hiện hiện
tượng “giải sử thi”, bộc lộ ở sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và
con người, ở sự tái nhận thức về chiến tranh, ở cách phản ánh chân thực chiến
tranh và số phận con người, ở cái nhìn đa diện về con người bên này hay bên
kia chiến tuyến. Cho thấy, sử thi hôm nay không còn thuần khiết mà có sự
lẽ đó, nhân vật chính diện trong tiểu thuyết viết về chiến tranh của nhà văn đã
tô đậm tính chung - khái quát hoá và có sự thống nhất về bản chất xã hội, tính
riêng - cá thể hoá vẫn được thực hiện do nhu cầu điển hình hoá nhưng không
phải là mục đích chính của nhà văn. Những nhân vật chính diện trong tiểu
thuyết đều là người anh hùng cách mạng xuất hiện trong tập thể anh hùng chứ
không phải là người anh hùng cá nhân cô độc của chủ nghĩa lãng mạn.
1.2.1.1. Nhân vật anh hùng với tinh thần xả thân
Tinh thần xả thân là biểu hiện ý thức trách nhiệm của chính nhân vật
với cộng đồng xã hội. Và ở mỗi nhân vật, do hoàn cảnh khác nhau nên cách
biểu hiện ý thức trách nhiệm cũng có sự khác nhau. Trong hoàn cảnh đất nước
có chiến tranh, cầm súng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc là một trong những
hành động thể hiện sự tự ý thức của mỗi cá nhân về trách nhiệm, nhiệm vụ
16
với Quốc gia, dân tộc. Tinh thần xả thân là một tình cảm xã hội với ý thức
hướng về chiến công dưới ánh sáng lý tưởng về sự dũng cảm trung trực và
nghĩa vụ công dân.
Trong Đối thoại trong đêm, nhân vật Tú Hùng là chàng trai của đất Hà
Thành, có học vấn (đỗ tú tài), có tài đánh đàn, giỏi ngoại ngữ bởi vậy mà con
đường công danh luôn rộng mở với anh, nhưng không vì thế mà Tú Hùng trốn
tránh nhiệm vụ của một thanh niên ở đất nước có giặc ngoại xâm, “ngày quân
Pháp đánh chiếm Sài Gòn, đánh ra Phan Thiết, Hà Nội và Đà Nẵng đều sục
sôi như nồi nước đang sôi. Đâu đâu cũng bừng bừng tiếng hát: “Tiếng súng
vang sông núi miền Nam, giục ta ra chiến trận” [27, Tr.61] đã thôi thúc anh
lên đường, “bước chân của Tú Hùng hùng dũng bước cùng bài đồng ca lay
động suốt chặng đường hành quân kỳ lạ” [27, Tr.61]. Từ biệt trường thi, từ
biệt người yêu (có tên là Phương), Tú Hùng xung phong vào đoàn quân Nam
tiến để làm tròn mối tình non nước. Hành động đó của Tú Hùng mở đường
cho tinh thần chiến đấu hy sinh dũng cảm của anh sau này trong trận đánh
thằng Toàn con tau về, rồi chúng mày biết tay” [26, Tr.114]. Sự hy sinh và
kiên trung đó của ông On đã để lại sự đau xót cho người dân Bàu Ốc và đáng
quý hơn là sự đánh thức những người dân làng Bàu Ốc hãy đứng lên chiến
đấu với kẻ thù, bảo vệ cách mạng. Có như vậy, Bàu Ốc mới có tương lai. Ông
On chính là “tấm gương soi” của làng Bàu Ốc với tinh thần trách nhiệm, sự
hy sinh cao cả vì sự nghiệp chung của cách mạng, của đất nước.
Tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, xả thân vì nghĩa lớn không chỉ ngời
sáng ở ông On mà còn thể hiện rất rõ ở nhân vật Cả Sang. Cả cuộc đời xả thân
vì nghĩa lớn, nhất mực trung thành với cách mạng, ngôi nhà của ông đang ở
chính là cơ sở bí mật của cơ quan tỉnh ủy trong những năm đình chiến, Đảng
phải rút vào hoạt động bí mật. Đến khi cơ sở bị lộ, Cả Sang bị bắt, bị tra tấn
ông vẫn hiên ngang. Cho đến tận phút cuối cùng của cuộc đời, khi thằng Tịch
18
đem ông đi chém, ông vẫn gắng làm tất cả để khẳng định giá trị thực của đời
người ...“Ông hét: Không cần bịt. Cái dao chém chúng mày mài sắc lẹm có gì
mà tau sợ” [26, Tr.64]. Mười tám nhát chém của tên đao phủ mới có thể chấm
dứt cuộc đời ông. “Tên đao phủ kể lại: Hắn chém đến lát thứ 17 mà đầu ông
không đứt. Hắn run tay, hắn ngó lên thấy mặt thằng Tịch đỏ như lửa ngọn,
hắn nghiến răng chặt lát thứ mười tám. Đầu ông văng ra xa, hắn còn nghe,
bọn lính quanh cuộc xử trảm cũng có nghe, tiếng ông sang sảng đọc hai câu
thơ cuối.
Thân già nào hết nhục
Thương vận nước gập ghềnh” [26, Tr.65].
Những tiếng thơm từ việc làm đó của ông cho dân, cho làng, cho nước mãi
ngát hương như bông cau kia của làng Bàu Ốc... Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ,
hành động đó sẽ thắp lửa trong lớp con cháu của làng Bàu Ốc nói riêng và
thanh niên miền Nam nói chung. Thế hệ tiếp bước đó của làng chính là Toàn,
là Bường, Thương, Đua, Thơm, Miều, là anh em Ba Tăng Giăng..., họ cũng