Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2
NGUYN TH HNG GIANG
nghệ thuật miêu tả cái phi lý trong
sáng tác của FRANZ KAFKA
LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam
Hà nội, 2013
Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC SƯ PHạM Hà NộI 2
nguyễn thị h-ơng giang
nghệ thuật miêu tả cáI phi lý trong
sáng tác của FRANZ KAFKA
Chuyờn ngnh: Lớ lun vn hc
Mó s: 60 22 01 20
LUậN VĂN THạC Sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Trng ng Dung
Hà nội, 2013
LỜI CẢM ƠN!
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................... 3
2.1.Tình hình nghiên cứu Kafka trên thế giới ............................................ 3
2.2.Tình hình nghiên cứu Kafka ở Việt Nam............................................. 7
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................. 11
3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 11
3.2. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... 12
3.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 12
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 12
5. Cấu trúc luận văn.................................................................................... 12
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. VẤN ĐỀ PHI LÝ TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC .......... 14
1.Vấn đề phi lý trong triết học .................................................................. 15
2. Vấn đề phi lý trong văn học .................................................................. 23
3.Franz Kafka - người mở đường cho chủ nghĩa văn học hiện đại........... 37
Chương 2. CON NGƯỜI PHI LÝ QUA NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ CỦA FRANZ
KAFKA............................................................................................................. 46
1. Con người xa lạ với thế giới ................................................................ 48
2. Con người xa lạ với chính mình........................................................... 76
Chương 3. KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN PHI LÝ QUA NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ
CỦA FRANZ KAFKA........................................................................................ 94
1.Không gian mê cung .............................................................................. 95
2.Thời gian huyền thoại........................................................................... 113
PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................... 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 132
1
thật sự thành công, khi ông đưa vấn đề phi lý của triết học trở thành nhận
thức, đối tượng phản ánh nghệ thuật của văn học qua sáng tác của mình.
Trong mọi trường hợp, cái phi lý của Kafka chính là cái phi lý của bản thể
tồn tại người trong một thế giới mà con người ngày càng đối diện với những
thách thức mới cũng không kém phần phi lý. Muốn tồn tại con người phải
luôn đấu tranh để loại trừ nó.
Không giống như các nhà văn khác, phản ánh hiện thực giống như
những gì nó vốn có. Kafka đã vượt qua qui ước của chủ nghĩa hiện thực
truyền thống, ông đã mang đến cho người đọc một thứ hiện thực không chỉ
như nó đang tồn tại, mà còn, như nó sẽ tồn tại thông qua việc sáng tạo những
phương thức khái quát hiện thực mới mẻ: huyền thoại hóa và đổi mới những
mẫu cổ, huyền thoại hóa không gian,huyền thoại hóa nhân vật, huyền thoại
hóa thời gian, phi lôgíc hóa tâm lý nhân vật, phi lôgíc hóa với nnhững thao tác
phi lopgíc hóa sự vật ….Qua đó hiện thực hiện lên rõ ràng,cụ thể, sắc nét hơn
bao giờ hết, nó còn thực hơn cả hiện thực. Đó chính là sự độc đáo không lặp
lại, không trộn lẫn với ai trong phương thức phản ánh hiện thực của
F.Kafka.Cũng chính điều này đã đưa Kafka lên vị trí là người mở đường cho
chủ nghĩa văn học hiện đại.
Có thể nói, những quan niệm về cái phi lý và cái nhìn hiện thực mang
tính huyền thoại của Kafka trong những sáng tác của ông luôn luôn có sức
ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn và lâu dài trên văn đàn văn học thế giới mà trong
đó có Việt Nam. Do đó, việc lấy tên đề tài “Nghệ thuật miêu tả cái phi lý
trong sáng tác của Franz Kafka” không phải chỉ mang ý nghĩa kiến giải một
hiện tượng văn học thế giới đã qua mà còn giúp chúng ta chỉ ra được cái mới,
những đóng góp của F.Kafka trong văn học thế giới và cũng hiểu hơn những
ảnh hưởng của ông tới văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói
riêng.
3
4
tấn công vào những kẻ mạnh của thế giới này bằng phươnng tiện trào phúng,
bằng hình thức chứa đầy hình ảnh” [20, tr.645]. Cũng vào tháng 6 năm ấy
Milêna Jêzenka có viết về Kafka như sau: “Những cuốn sách (của ông) đã để
lại một ấn tượng về thế giới hoàn chỉnh đến nỗi người ta không thể thêm vào
đó một chữ nào”[20, tr.645].
Sau khi Kafka mất những tác phẩm “Vụ án”; “Lâu đài”; “Nước Mĩ” đã
được in và phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới khiến cho tên tuổi và
tài năng của Kafka nở rộ hơn bao giờ hết. Những tác phẩm đó có ảnh hưởng
đặc biệt ở Phương Tây và đó cũng là lúc con người bừng ngộ và nhận ra rằng
“thế giới đã bắt đầu giống như thế giới của Kafka” [20, tr.645]. Nói như
Michel Remon: “thế giới bắt đầu gặp gỡ F. Kafka và định ngữ K. rời bỏ lĩnh
vực văn chương để áp dụng vào cuộc sống hàng ngày” [20, tr.645].
Và sau chiến tranh thế giới thứ hai Kafka vẫn được coi như là “một phát
hiện” độc đáo đặc biệt đối với thế giới Phương Tây bởi sự tiên cảm của Kafka
đối với số phận bi đát của con người. Người ta chua chát hiểu rằng cái phi lý
mà Kafka vừa là người tiên cảm, vừa là người hứng chịu không phải là một
huyền thoại, không chỉ nằm trong tiểu thuyết nữa mà là sự thật về cuộc đời,
về chính xã hội, về thế giới mà con người đang sống và điều ấy không phải ai
cũng dễ dàng nhận ra. Như vậy, những trải nghiệm về thế giới phi lý chính là
mối đồng cảm đầu tiên (và cũng là lớn nhất) giữa F.Kafka với người đọc, thế
giới phi lý trong nghệ thuật của ông biến thành những hiện tượng quen thuộc
giữa cuộc sống đời thường.
Trong công trình “Viết về nghệ thuật”, Bectôn Brecht –nhà viết kịch
đồng thời là một nhà thơ nổi tiếng của Đức đã sớm nhận định về F. Kafka:
“Người ta tìm thấy ở ông ta, đằng sau những hóa trang rất kì cục, những linh
cảm về nhiều điều mà vào thời kì những cuốn sách của ông xuất hiện thường
chỉ có một vài người nhận thấy được mà thôi” [20, tr.645]. Cái điều mà
6
năng thể hiện “hiện thực không thể hiểu nhầm của thời đại chúng ta, cái hiện
thực đang phơi bày ra giữa những điểm cố định của các chi tiết cụ thể
[14, tr.185)].
Ngoài ra trong bài viết của mình Fisccher còn trên cơ sở nghiên cứu
những sáng tác của Kafka đề xuất những vấn đề quan trọng liên quan đến thái
độ ứng xử của những người mác xít với Kafka và những vấn đề của phản ánh
nghệ thuật.
Tiếp tục quan điểm của các nhà lí luận trên, trong “Trò chuyện về nghệ
thuật kết cấu”, tiểu thuyết gia Milan Kundera khi nói về lối kể chuyện bằng
chiêm bao chủ nghĩa hiện đại đã viết “Các tiểu thuyết của Kafka là sự hợp
nhất không có kẽ hở giữa giấc mơ và thực tại. Vừa là cái nhìn sáng suốt về thế
giới hiện đại, vừa là sự tưởng tượng dữ dội nhất. Kafka ấy trước hết là một
cuộc cách mạng mĩ học mênh mông. Một kì diệu nghệ thuật…” [46, tr.85].
Trong tập lí luận phê bình “Vì một tiểu thuyết mới” của Alain Roble
Gillet ông lại thán phục Kafka ở nghệ thuật” miêu tả hiện thực tuyệt đối các
sự việc” và theo ông “không có gì hư ảo hơn sự chính xác”[43, tr.206]. Mới
nghe chúng ta dễ cảm thấy điều này mẫu thuẫn với Kundera nhưng có lẽ cần
phải hiểu, hiện thực ở đây theo tinh thần của chủ nghĩa hiện đại- một hiện
thực đa chiều, hỗn mang, ẩn dấu phía sau nó những ý niệm về sự phi lý của
tồn tại.
Gần với nhận định của Alain Roble Gillet, A.Kareski trong bài viết “Về
sáng tác của Franz Kafka” đã đánh giá “ Hiệu quả đặc biệt của F.Kafka là tất
cả đều rõ ràng, không có gì khó hiểu. Những khi đọc suy ngẫm, khi đã cảm
nhận và chấp nhấp nhận nguyên tắc chơi của ông, chúng ta có thể tin chắc
rằng F.Kafka đã kể nhiều điều quan trọng về thời đại ông. Bắt đầu từ việc
ông gọi sự phi lý là sự phi lý và đã không sợ việc thể hiện nó” [24, tr.187].
8
những cơ sở thực tế của nó.Thực đã pha trộn với mộng và nhiều lúc bị mộng
lấn át” [12, tr.35].
Đỗ Đức Hiểu trong chuyên luận “Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa”
một mặt thừa nhận vai trò tiên phong của F.Kafka đối với văn học hiện sinh
cũng như những yếu tố hiện thực, có tính chất tố cáo một chế độ quan liêu, một
chế độ nhà nước nghẹt thở, đầy áp bức, ngạo nghễ trong chuyện của F.Kafka.
Mặt khác ông phê phán những yếu tố siêu hình về thân phận con người tràn
ngập trong tác phẩm, lấn át cả một số yếu tố hiện thực vốn không nhiều nhặn
gì. Tác giả đã chỉ rõ “có thể nói tính thần bí bao trùm cả tác phẩm của F.Kafka.
Phi lý, lo âu, cô đơn, xa lạ, tuyệt vọng, hư vô những khái niệm ấy về con người
của F.Kafka tìm thấy ở huyền thoại một hình thức biểu hiện rất phù hợp.
F.Kafka đã huyền thoại hóa một thế giới bị tha hóa” [12, tr.90].
Trong tạp trí văn học nước ngoài số 4 măm 1996 ,tác giả Nguyễn Văn
Dân với bài viết “Kafka với cuộc chiến chống phi lý”đã tập trung vào phân
tích tính phi lý như “một đối tượng nhận thức” trong tác phẩm của F.Kafka.
Nguyễn Văn Dân cho rằng: “Trong mọi trường hợp, cái phi lý của Kafka là
những tấn bi kịch của con người hiện tồn tại trong thế giới đương thời. Kafka
không phải đi tìm kiếm cái phi lý ở đâu xa như các nhà văn lãng mạn” và
“Kafka đã chủ trương chỉ lưu tâm đến những con người bình thưòng, đến
những nỗi lo đời thường của họ”. Như vậy, quan điểm của Nguyễn Văn Dân
đã thêm một lần khẳng định quan niệm nghệ thuật của F.Kafka thông qua tác
phẩm là về sự bất an của con người trong một thế giới phi lý.
Trong bài viết “Thế giới nghệ thuật của F.Kafka” in trong “Franz
Kafka, tuyển tập tác phẩm” NXB,Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa Đông Tây
,2003 nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung khẳng định: “đối tượng trung tâm
của thế giới nghệ thuật của Kafka là sự tha hóa, nỗi lo âu, sự lưu đày và cái
nhân vật ở ông mang ý nghĩa nhân loại phổ quát; nhân vật là sự mô hình hóa
nhân loại nói chung” [1, tr.162].
Phùng Văn Tửu trong phần giới thiệu cho bản dịch Vụ án sang tiếng Việt
của mình và trong giáo trình Văn học phương Tây, mô tả một cách tương đối
khái quát vè thế giới nghệ thuật của Kafka, phân tích một số thủ pháp nghệ
10
thuật của nhà văn trong miêu tả thời gian, không gian, con người, tình huống.
Dịch giả cũng đặc biệt chú ý đến huyền thoại và đặc điểm của huyền thoại
trong sáng tác của Kafka.
Ngoài ra, Kafka còn được nhắc tới trong một số công trình khác như một
đối tượng( hay vấn đề) so sánh, đối chiếu. Hầu hết các công trình này đều
thống nhất khẳng định vai trò tiên phong của Kafka trong việc đổi mới nghệ
thuật tiểu thuyết trên một số phương diện. Đó là chuyên luận Tiểu thuyết
Pháp hiện đại những tìm tòi đổi mới của Phùng Văn Tửu, công trình Ernest
Hemingway núi băng và hiệp sĩ của Lê Huy Bắc, Cái kì ảo trong tác phẩm
của Balzac của Lê Nguyên Cẩn…
Trong bài viết Từ hiện đại đến hậu hiện đại, Hoàng Ngọc Tuấn đã đặt
tác phẩm của Kafka vào dòng chảy của văn học thế giới, để từ đó thấy được
vai trò viên gạch nối giữa hai thời kì Hiện đại và Hậu hiện đại của Kafka.
Hoàng Ngọc Tuấn viết: “Franz Kafka cũng đã tạo ra những kĩ thuật viết,
khiến một số tác phẩm của ông mang tính cách đa tầng và đa phương về ý
nghĩa, và hầu như bất khả giản lược: một bản tóm tắt đại ý sẽ là một hành
động bất công đối với tác giả. Cuốn Das Schloss ( Lâu đài, 1926) là một ví dụ
thú vị. Nó là một tác phẩm chứa dựng đầy những ẩn dụ phức tạp và có khả
năng gợi tưởng cực kì phong phú. Cả cuốn tiểu thuyết tồn tại như một kí hiệu
biểu ý đa giác khiến người đọc mỗi lúc lại tiếp tục nhìn thấy một ý nghĩa
khác, như thể nhìn vào một ống kính vạn hoa. Mỗi lần đọc, chúng ta có thể
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Với luận văn “ Nghệ thuật miêu tả cái phi lý trong sáng tác của Franz
Kafka” người viết mong muốn chỉ ra được tài năng miêu tả cái phi lý, cái độc
đáo của F.Kafka trong việc khái quát những vấn đề lớn lao của thân phận con
người và hiện thực xã hội đương thời. Đồng thời muốn nhấn mạnh sự ảnh
12
hưởng của F.Kafka đối với dòng văn học phi lý nói chung và chủ nghĩa văn
học hiện đại nói riêng của nhân loại .
3.2. Đối tưọng nghiên cứu.
Đi sâu vào những sáng tác của F.kafka để tiếp cận, phân tích, khái quát
từ đó, khẳng định nghệ thuật miêu tả cái phi lý của Franz Kafka được thể hiện
qua con người phi lý, không gian phi lý, thời gian phi lý trong những sáng tác
của ông.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Mặc dù F.Kafka để lại một di sản nghệ thuật khá phong phú nhưng
không phải vốn văn nghiệp đó đều được dịch ra tiếng Việt. Bên cạnh đó do
điều kiện chủ quan và khách quan chưa cho phép nên chúng tôi chỉ có thể
khảo sát và nghiên cứu trong phạm vi các tác phẩm sau đây:
“Franz Kafka -tuyển tập tác phẩm”, NXB Hội nhà văn năm 2003 bao
gồm các phẩm:
- Tiểu thuyết “Hóa thân” (Đức Tài dịch)
- Tiểu thuyết “Vụ án” (Phùng Văn Tửu dịch)
- Tiểu thuyết “Lâu đài” (Trương Đăng Dung dịch)
-13 ttruyện ngắn khác cùng nhật kí, thư từ.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn kết hợp vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: phương
pháp loại hình, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp,
không phải bổ sung về nội dung nữa mà dành hết tâm lực vào sự cách tân
hình thức biểu hiện mới mẻ. Như vậy, trước Kafka, cái phi lý đã có một lịch
sử trong triết học và văn học Phương Tây và đến thế kỉ XX cái phi lý vẫn là
vấn đề được quan tâm, trở thành hiện tượng độc đáo trong văn học. Franz
Kafka được coi là người tiếp bước hành tình của Dostoevsky khi ông đi vào
khám phá mảng đề tài phi lý của cuộc đời. Ở Kafka, cái phi lý đã trở thành
đối tượng nhận thức của văn học, đồng thời ông đã sáng tạo nên nhiều biểu
tượng để biểu hiện sự phi lý mà ông cảm nhận thấy trong cuộc đời. Thế nên,
Franz Kafka được coi là người mở đường cho chủ nghĩa văn học hiện đại, là
người tiền bối của chủ nghĩa hiện sinh, là người mở đường và là đại diện lớn
đầu tiên của loại hình văn học phi lý. Trong văn chương Kafka, cái phi lý nảy
sinh ngay trong cuộc sống bình thường, cảm giác phi lý đến với bất kỳ ai nên
thế giới trong sáng tác của Kafka là thế giới hiện thực rất bình thường nhưng
15
khước từ mọi sự cắt nghĩa, giải thích, điều đó tạo nên tính hấp dẫn trong văn
học phi lý của Kafka. Ở đây, với điều kiện của luận văn, đề tài chúng tôi lựa
chọn là “ Nghệ thuật miêu tả cái phi lý trong sáng tác của Franz Kafka” thì
việc làm rõ khái niệm “ cái phi lý” là nút nhấn đầu tiên để chúng tôi tiến hành
những khám phá tiếp theo. Khái niệm này sẽ được chúng tôi làm rõ ở hai
phạm trù: vấn đề phi lý trong triết học và vấn đề phi lý trong văn học.
1.1.Vấn đề phi lý trong triết học.
Trước khi trở thành một khái niệm triết học thì cái phi lý đã tồn tại từ rất
lâu trong cảm giác của con người. Vì một lẽ con người chỉ cảm thấy không
phi lý khi đã thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình về bản thân và về thế giới
xung quanh.Thế nhưng trong thực tế cuộc sống thì điều này dưòng như lại
khó có thể xảy ra bởi cuộc sống xưa nay luôn nảy sinh những điều bất ngờ,
đầy hoài nghi và khó hiểu, khiến cho con người nhiều lúc cảm thấy bất lực.
Từ điển triết học đã định nghĩa về “cái phi lí” là “ không thể hiểu biết
được đối với lí tính và tư duy, không thể diễn đạt bằng những khái niệm
logic” [8, tr.722]. Như vậy khái niệm về “cái phi lí” trong triết học là một sự
khái quát lại những điều chúng ta cảm nhận qua trực giác, đó là việc thừa
nhận sự đầu hàng của trí tuệ, sự bất lực của nhận thức đối với những gì chưa
biết nhưng lại hiện hữu hàng ngày trước mắt con người chúng ta. Nguyễn
Văn Dân trong cuốn “ Văn học phi lí” thì cho rằng “ tất cả những gì chống lại
năng lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể lí giải bằng tư duy thì đều được
coi là phi lý. Như vậy cái phi lí được coi là cái phản lí tính”
Với hàm nghĩa này, khái niệm phi lí mang tính khái quát hơn, vượt ra
khỏi địa hạt của logic học, là định nghĩa của nền triết học Phương Tây hiện
đại, phát triển thành chủ nghĩa phi lí tính từ cuối thế kỉ XVIII và kéo dài suốt
hơn một thế kỉ. Đặc điểm của chủ nghĩa phi lí tính là đi đến chỗ dùng ý trí
thay cho lí trí, dùng trực giác thay cho tư duy, là sự mất lòng tin vào khả năng
tư duy, phủ nhận tư duy khoa học không đủ khả năng để nhận thức chân lý và
17
hiện thực khách quan.Thay vào đó một số còn cho rằng, thế giới chỉ có thể
nhận thức được bằng bản năng, bằng ý trí, bằng kinh nghiệm, bằng linh cảm,
bằng vô thức và trực giác.
Thật ra con người đã ý thức về những phương pháp nhận thức này từ rất
xa xưa, khi nhà triết học cổ đại Hi Lạp Socrate (479-399 TCN) đưa ra lời kêu
gọi: “con người hãy tự biết mình”, bởi ông đã sớm nhận ra sự phiến diện, sự
lệch pha trong cách tư duy của triết học hướng ngoại. Đối với tự nhiên,
Socrate tự nhận là mình không biết gì và cũng không muốn can thiệp. Hơn
nữa , trước mỗi vấn đề ông chỉ đưa ra nghi vấn và nghi vấn để mỗi người đối
thoại tự tìm đến chân lý cho mình. Phép ứng xử của Socrate khiến ngay cả
người thời nay cũng phải kinh ngạc, rất có thể từ lúc đó ông đã tiên cảm được
một khoảnh khắc của cá thể nhưng ta không muốn là một chương hay một tiết
trong một hệ thống” [13, tr.224]. Và để hiểu được những dấu ấn cá thể ấy,
triết học cần phải quan tâm đến phương diện tình cảm, ý trí của con người bởi
chính điều đó quy định cho con người sở hữu một cá tính, một cách tồn tại
riêng biệt. Đây là vấn đề xuất phát của toàn bộ tư tưởng triết học Keirkegaard,
nó đã bật mở những kìm tỏa lâu nay của lý trí để nhường địa hạt cho hoạt
động phi lý tính tung hoành. Đó là con đường duy nhất có thể đạt đến chân lý
cho dẫu chỉ là thứ chân lý chủ quan, chân lý qua cái nhìn cá thể, “ chân lý
ngang tầm với cá nhân”[13, tr.223]. Mặc dù vậy, Kierkegaard vẫn chưa gọi rõ
khái niệm phi lý, nói đúng hơn, ông chỉ mới gọi ra bản chất của nó thông qua
“ cái nghịch lý” của nhận thức và của tồn tại. Khi ông xem “ nghịch lý là nỗi
đam mê của tư duy và một nhà tư tưởng không có lối tư duy nghịch lý thì sẽ
giống như một kẻ tình nhân không có nỗi đam mê” [42, tr.18]. Cũng có nghĩa
là ông hoàn toàn phủ định tính chất lý tính trong triết học truyền thống. Sự
khước từ rứt khoát đó, đồng thời là sự bảo đảm tuyệt đối của Kierkegaard
trong việc khẳng định con đường triết học mà ông đã lựa chọn cho mình.
19
Về sau, trong quan niệm của hai nhà đại diện chủ chốt của chủ nghĩa
hiện sinh Pháp thế kỉ XX là J.-P.Sartre và A. Camus thì cái phi lý trở thành
khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh. Ngoài ra chúng ta còn phải kể tới
tên tuổi của một nhà triết học hiện sinh chủ nghĩa lớn nữa là Léon
Chestov(1866-1938), nhà triết học Pháp gốc Ukraina, người cũng đã bàn đến
cái phi lý và rất có ảnh hưởng đến Camus. Có thể nói lời tuyên bố sau đây
của Chestov đã làm thành một trong những ảnh hưởng quyết định đến tư
tưởng về cái phi lý của Camus: “ thật sai lầm nếu tin rằng cái phi lí có nghĩa
là sự kết thúc của tư duy. Không chỉ có điều là tư duy được duy trì trong cái
phi lí, mà nó còn có được một thế năng mà trước đó người ta không ngờ tới”
do” chứ không phải “ được tự do” như các nhà triết học Maxit vẫn hiểu. Tự
do của Sartre vừa siêu việt vừa phi lý tính hoàn toàn, một thứ tự do bên trong
và không thể nhận thức bằng quy luật. Sự tự do lựa chọn tồn tại đó khêu gợi
một chân trời như vô tận , nó lựa chọn bất kể bản chất gì mà hiện hữu của nó
dẫn tới, kể cả việc tự do không lựa chọn, bởi vì sự phủ định cũng chính là sự
khẳng định, là sự tự phát minh để tránh đi theo một mẫu, một quy phạm, một
con đường sắp sẵn, một mụch đích kiên nhẫn đứng chờ. Tự do đối với Sartre,
tất cả đều là dự phóng mà đã là dự phóng thì không có cái nào hơn cái nào.
Có thể nói, ở luận thuyết của Sartre thì cái phi lý là vấn đề bao trùm và
thấm nhuần trong mọi khái niệm khác mà ông đề cập đến. Có lẽ vì thế nên nó
không được ông thể hiện thành một luận đề. Khoảng trống đó chỉ đến Albert
Camus mới được lấp đầy, cho dù người ta vẫn thường xem ông là một nhà
văn biết tạo nên âm vang triết học sâu xa bằng con đường của một nghệ sĩ.
Đến Camus thì tư tưởng vè cái phi lý đã trở thành nối ám ảnh trong suốt cuộc
đời của ông, nó làm thành đề tài trọng tâm của các tiểu luận triết học và thấm
đậm trong các tác phẩm văn học của ông. Khác với Sartre, Camus không bắt
đầu cái phi lý từ thế giới thực tại cũng như từ ý thức của con người. Ông
tuyên bố rằng cả thế giới thực tại lẫn lí tính của con người đều không phải là