Đề tài thực trạng lạm phát ở việt nam từ 2008 2011 và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay - Pdf 33

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 2008-2011
VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁTỞ NƯỚC TA HIỆN NAY

MỤC LỤC
A.

PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................2
2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................4
4. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................4


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Phương pháp nghiên cứu.......................................................................4
Tình hình nghiên cứu............................................................................4
Hướng đóng của đề tài..........................................................................5
Cấu trúc đề tài.......................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát:..................................................6
1.1.
Khái niệm lạm phát.....................................................................6
1.2.
Phân loại lạm phát......................................................................6
1.3.
Đo lường lạm phát và các chỉ tiêu đo lường lạm phát................7
1.3.1. Đo lường lạm phát.................................................................7
1.3.2. Các chỉ tiêu đo lường lạm phát..............................................8
1.4.
Nguyên nhân của lạm phát.........................................................9

Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoátiền tệ.Nó có tính thường trực,nếu không thường xuyên kiểm soát,không có những
giải pháp chống lạm phát thường trực,đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy
ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào.
1.

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 2


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trong đời sống hằng ngày , lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ
mô, nó trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng .Lạm phát
giờ đây đã trở thành vấn đề toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng của Việt Nam.
Châu Âu , Châu Úc , Châu Mỹ , hay Việt Nam đều gặp rủi ro lạm phát ở những
mức độ khác nhau và đang dùng nhiều bài thuốc khác nhau để chống lại lạm phát .
Lạm phát như 1 căn bệnh của nền kinh tế thị trường , nó là hai vấn đề hết sức phức
tạp đòi hỏi mỗi quốc gia phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể
mong muốn đạt kết quả tốt . Kiểm soát lạm phát là nhịêm vụ hàng đầu của chính
phủ .
Ở Việt Nam, từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nền kinh
tế nước ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm : từ khủng hoảng trầm trọng với mức
độ lạm phát lên đến 3 con số, tăng trưởng thấp, đời sống nhân dân khó khăn dần
tiến đến tỷ lệ lạm phát ổn định , tăng trưởng khá, rồi lại đứng trước thách thức và
nguy cơ tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế các nước trong khu vực và trên thế
giới với tăng trưởng chậm và nguy cơ suy thoái. Ở nước ta một số năm tỷ lệ lạm
phát ở mức độ thấp, nhưng đến nay lạm phát lại có nguy cơ tiềm ẩn và tái phát
cao. Nhất là cho đến thời điểm này giá cả các mặt hàng thiết yếu trong và ngoài
nước diễn ra rất phức tạp. Giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như :

Nước ta từ tháng 12/2007, do tác động của tình hình phát triển kinh tế chung
của hội nhập khu vực và thế giới, chỉ số giá tiêu dùng cho đến nay vẫn ở mức 2
con số vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép của mỗi quốc gia là 9%. Mặc dù chính
phủ đưa ra các biện pháp để kiềm chế lạm phát song vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn
ở mức cao. Tình hình lạm phát năm 2010 và những tháng đầu năm 2011 đã và
đang có nhiều diễn biến trái chiều với sự dự đoán và có nhều biến động do ảnh
hưởng của tình hình kinh tế thế giới cũng như các chính sách kinh tế trong nước.
Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay là một chủ đề cần phải đưa ra bàn
luận , nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó có những giải pháp can thiệp
một cách linnh hoạt, hiệu quả ổn định vĩ mô nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy nghiên cứu lạm phát ở nước ta đang là một vấn đề cấp
thiết hiện nay.
Từ những lí do trên nên em chọn đề tài “ Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
từ 2008-2011 và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay”.
2.Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này nhằm mục đích phân tích những nguyên nhân và diễn biến thực
tiễn về lạm phát của Việt Nam giai đoạn năm 2008-2011, những tác động của lam
phát đến nền kinh tế xã hội, những giải pháp kiềm chế lạm phát ổn định và phát
triển kinh tế quốc gia, đồng thời đưa ra những dự báo về tình hình lạm phát trong
thời gian tới.
3.Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ lý do trên, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Tìm hiểu một số lý luận chung về lạm phát như khái niệm, phân loại,
nguyên nhân, các tác động của lạm phát,…
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 4


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

biểu hiện mới và có những nguyên nhân mới cần phải được xem xét. Vì vậy tuy đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lạm phát nhưng tôi nghĩ việc tiếp
tục nghiên cứu về vấn đề “lạm phát ở Việt Nam” là rất cần thiết và mang tính cấp
thiết hiện nay, từ đó giúp đưa ra được những giải pháp nhằm giải quyết tình trạng
lạm phát, giúp cho nền kinh tế phát triển và tăng trưởng một cách bền vững.
7. Hướng đóng góp của đề tài:
Từ việc nghiên cứu các giai đoạn lạm phát từ 2008 đến nay để có cái nhìn
tổng quát hơn về lạm phát ở Việt Nam qua đó đánh giá hiệu quả của các chính
sách mà chính phủ đưa ra từ đó những đề xuất những giải pháp nhằm kiểm soát và
kiềm chế sự gia tăng tỷ lệ lạm phát trong thời gian tới.
8. Cấu trúc đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 3 chương:
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 5


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chương 1: cơ sở lý luận về lạm phát;
Chương 2: thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011;
Chương 3: các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay.

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 6


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


1.3. Đo lường lạm phát và các chỉ tiêu đo lường lạm phát:
1.3.1. Đo lường lạm phát:
-Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của
một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa
trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao
động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa
và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức
giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung
bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 8


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức
tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc.
-Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một
quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
- Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của
chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,
cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy nhiên
thước đo lạm phát phổ biến nhất là CPI- Chỉ số giá tiêu dùng( consumer price
index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau bao
gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế…,được mya bởi “người
tiêu dùng thông thường”
1.3.2. Các chỉ tiêu đo lường lạm phát:
- Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả

ngày "hôm nay", mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những
sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
- Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn
(thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống
với PPI.
- Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách
có lựa chọn. Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là
vàng. Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và
bạc.
- Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội:
Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP
của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay
GDP thực.
1.4. Nguyên nhân của lạm phát:
- Lạm phát do cầu kéo: Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn
tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Trong khi đó, chủ
nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền
mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát. Nhiều
người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay
dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ
kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng
theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường.
Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về
một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên
mức cao hơn.các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là "quá nhiều tiền
đuổi theo quá ít hàng hóa”
- Lạm phát do cầu thay đổi: Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong
khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp
độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể
giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng

- Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua
ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay
chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước)
khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
- Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính
duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng
hiện tại. Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát.
1.5. Tác động của lạm phát:
- Các hiệu ứng tích cực:
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 11


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC










Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ
tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ
"dầu bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa
phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động
giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm


NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 12


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa
các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được
lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được
hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người
cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại. lạm phát không dự kiến
thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác dụng của nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu
cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây
ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và
ở mức vừa phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông
qua việc phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là
rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm
phát này.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008
-2011:
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011


Năm 2008


-Giá lương thực tháng 6 giảm 0,37% so với tháng 6, vì đang được mùa lúa
gạo.
-Theo Tổng cục Thống kê, các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, đồ uống và
thuốc lá, may mặc, mũ nón, giầy dép… đều tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước.
- Giá tiêu dùng tháng 9 tăng chậm lại một mặt do giá trên thị trường thế giới
của một số hàng hóa nước ta nhập khẩu đã giảm và sản xuất nông nghiệp trong
nước được mùa, nhưng yếu tố quan trọng nhất là do những nổ lực của các cấp các
ngành trong việc thực hiện 8 nhóm giải pháp của chính phủ. Giá tiêu dùng tháng
12/2008 so với tháng 11 giảm 0.68%.
-Lạm phát thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm
2008. Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2008 khi lên tới trên 30% (YoY). Kết
thúc năm 2008, lạm phát lùi về còn 19.89%, đây là mức cao nhất trong vòng 17
năm qua. Trong đó CPI của lương thực tăng cao nhất và đạt 49.16%.
-Tháng 5/2008, CPI một tháng tăng gần 4%, đó là thời điểm tăng đột biến của
giá lương thực (CPI lương thực tăng 22.19%). Trước đó tháng 3/2008 lạm phát
cũng tăng 3.56% so với tháng trước. Tính trung bình 6 tháng đầu năm 2008 lạm
phát lên tới 2.86% cho mỗi tháng.
-Các chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, các biện pháp kìm chế lạm phát
của chính phủ đồng thời từ tháng 9/2008 khủng hoảng tài chính từ Mỹ bắt đầu lan
rộng ra toàn cầu làm giá cả nhiều mặt hàng giảm mạnh, nhờ đó lạm phát kể từ
tháng 9 đã giảm mạnh so với những tháng trước đó. Liên tiếp 3 tháng 10, 11 và
12/2008 CPI tăng trưởng âm.


Năm 2009

-Những tháng đầu năm 2009 lạm phát không còn là một vấn đề đáng lo
ngại.Trung bình 7 tháng đầu năm lạm phát chỉ tăng 0.45%/tháng, so với tháng

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

-Theo quy luật, giá cả một số mặt hàng thiết yếu thường tăng giá trước Tết
nguyên đán. Mức tăng này đã đẩy chỉ số giá mặt hàng lương thực tháng 12 tăng
6,88% so với tháng trước và tăng 4.57% so với năm 2008.
-Mặt hàng thực phẩm so với tháng trước không tăng mạnh nhưng so với năm
2008 lại có mức tăng cao 8,39%.
-Sức tăng của 2 mặt hàng này đã đưa chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn
uống trong tháng 12 tăng mạnh ở mức 2,06%. So với năm ngoái mức tăng này
chênh cao 8,71%.
-Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng bao gồm: tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất
đốt và vật liệu xây dựng tháng 12 cũng tăng ở mức 1,4%. So với năm 2008, mức
tăng này thấp hơn so với một số nhóm hàng khác.
-Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0,97%, nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng
0,81%. Một số nhóm khác có mức tăng không cao, đạt ở mức từ 0,07 đến 0,25%
như nhóm văn hoá, giải trí, thiết bị và đồ dùng gia đình.
-Trong 11 nhóm hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, trong tháng 12 và cả
năm 2009 nhóm Bưu chính viễn thông lại giảm 0,11%.
-Riêng chỉ số giá vàng trong tháng qua đã tăng cao 10,49%, đưa cả năm tăng
19,16% so với năm 2008. Chỉ số đô la Mỹ tháng 12 tăng 3,19% đưa con số cả năm
2009 lên 9,17% so với năm 2008. Mức tăng này cũng đã được các chuyên gia dự
báo ngay từ đầu năm. Tuy nhiên với những chính sách bình ổn hiện nay, dự báo
chỉ số giá vàng sẽ nằm trong vòng ổn định hơn trong những tháng tới.
-Một số chuyên gia nhận định, chỉ số giá năm 2009 đang nằm trong mức như
mong đợi, tuy nhiên vẫn còn một số lo ngại bởi, so với cùng kỳ năm ngoái một số
mặt hàng thiết yếu vẫn đang có xu hướng tăng cao, từ 8,53 đến 9,56%.

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 16



ngay trước ngày các viên chức trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết kéo dài, trưa 21/2,
giá xăng đột ngột được điều chỉnh tăng khoảng 3,6%.
+Tiếp theo các diễn biến này, gas, xi măng, sắt thép… cũng kéo nhau tăng
giá.
+ Ngay sau đó, từ ngày 15/3 những thông tin về khả năng CPI tháng sau Tết
tăng cao đã được một số nguồn tin dự báo sớm. Con số chính thức sau đó chốt lại
mức tăng 0,75%, chỉ kém năm 2008 đột biến nhưng tương đương năm 2004 và
1996.
-Mục tiêu được Chính phủ đặt ra lúc này là ổn định nền kinh tế, đặc biệt là
kiềm chế lạm phát, tăng trưởng cung tiền cả năm giới hạn ở 20% so với cuối năm
2009; tăng trưởng tín dụng 25%.
- Trái với suy luận trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá
tiêu dùng liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với
tháng 6). Xét về cao độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004.
+ Sức mua tăng đột ngột thể hiện ở tổng mức bán lẻ đi lên trong tháng 4 và
đến tháng 5 đạt mức tăng gần 27% so với cung kỳ.
+ Mức tăng trưởng đi xuống dầnvà đến tháng 10/2010, giá trị sản xuất công
nghiệp đã giảm 3,4% so với tháng 9.
- Trong 4 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao. Có
tới 3 tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát đã ở gần.
+ Ngày 9/8, giá xăng dầu sau một thời gian dài được giữ cố định đã điều
chỉnh tăng lên khoảng 2,5%, đẩy CPI tháng 9 vào vòng thử thách mới.
+ ngày 18/8, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tỷ giá bình quân liên
ngân hàng giữa VND với USD lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%) và giữ
nguyên biên độ tỷ giá +/-3%.
+ Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội kéo dài 10 ngày cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10. Lại thêm lũ lụt diễn ra liên miên tại
miền Trung kéo dài thêm chuỗi tác động đến chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn cuối
năm.



PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chính phủ điều chỉnh là không quá 8%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn
uống tăng 16,18%, với quyền số 39,93%, nhóm này đã đóng góp vào mức tăng
chung của chỉ số CPI khoảng 6,46%, hơn một nửa mức tăng CPI của cả năm. Tiếp
đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt, VLXD, tăng 15,74%, với quyền số
10,01%, nhóm này góp phần làm tăng chỉ số chung khoảng 1,57%. Nhóm giáo dục
có mức tăng cao nhất 19,38%, với quyền số không lớn là 5,72%, nhưng nhóm này
đã đóng góp mức tăng khoảng 1,1% vào mức tăng chung của chỉ số CPI.

Diễn biến chỉ số CPI theo tháng giai đoạn 2008 – 2010
Nguồn: Tổng cục Thống kê
-Nhìn chung trong cả năm 2010, diễn biến CPI gần như song hành cùng
những thay đổi chính sách vĩ mô và can thiệp thị trường từ cơ quan chức năng.
Những ngày năm mới đang đến cũng đọng lại một năm lạm phát không đạt chỉ
tiêu, nhưng còn neo lại những đoán định về hướng điều chỉnh chính sách có thể
xuất hiện trong đầu năm tới.


Năm 2011:

-Báo chí ngoại quốc và trong nước và những cơ quan tài chánh và đầu tư
quốc tế từ đầu năm tới nay nói rất nhiều đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng ở
Việt Nam. Điểm đặc biệt là trong tất cả vùng Đông và Đông Nam Á châu, ngoại
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 20



dùng

112.17

101.74

112.31

103.87

113.89

106.12

Chỉ số
vàng

giá

133.87

99.95

136.17

99.6

141.27

104.58

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

thuốc và dịch không tăng so với tháng trước, nhưng chỉ số giá tháng Ba năm nay
cao hơn vụ y tế tăng 0,71%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%.
-Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng dần và ở mức cao trong ba tháng đầu
năm. Tháng Ba thường là tháng sau Tết Nguyên đán nên thị trường giá cả nhiều so
với mức tăng cung kỳ của 5 năm trở lại đây, và gần bằng mức 2,99% của năm
2008, năm lạm phát tăng cao ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới. Vào tháng Ba
năm nay chỉ số này tăng 13.9% so với một năm về trước và tiếp tục đi lên trong
tháng Tư với con số 17.5%. Theo Tổng Cục Thống Kê của nhà nước đây là con số
cao nhất kể từ tháng 12, 2008. Cũng theo cơ quan này sự gia tăng của chỉ số tiêu
thụ là do sự gia tăng của chi phí giáo dục, lương thực, thực phẩm, nhà ở, và vật
liệu xây cất.
-Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá
tiêudùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới 9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở
7% mà Quốc hội thông qua đầu năm.
-Tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng 5 đạt 2,21%, tuy chậm lại so với tháng
trước nhưng vẫn góp phần đẩy chỉ số giá từ đầu năm đến nay vượt mốc 2 con số.
Tổng cục Thống kê vừa cho biết chỉ số giá tiêu dùng cả nước đã tăng 2,21% trong
tháng 5. Tuy tốc độ tăng có chậm lại so với tháng 4 nhưng mặt bằng giá hiện tại,
so với đầu năm và cùng kỳ 2010, đã cao hơn lần lượt là 12,07% và 19,78%.

NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 22


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Diễn biến lạm phát 5 tháng đầu năm 2011

+Thứ nhất, giá gạo tiếp tục chịu tác động từ việc doanh nghiệp xuất khẩu
tăng mua cho các hợp đồng đã ký; các loại thịt, hải sản tăng giá do thiếu nguồn
cung trước nhu cầu vẫn lớn… đã đẩy chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm và ăn
uống ngoài gia đình tăng rất cao. Bất chấp các chương trình bình ổn lấy nhóm
hàng này làm trọng tâm, việc giá cả lương thực, thực phẩm tăng cao khiến CPI
nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 5 tăng tới 3,77%, là nguyên chính đẩy chỉ
số giá tháng này còn treo cao tại Tp.HCM.
+Thứ hai, chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất, tới 4,29% là
một đột biến khác so với những tháng trước. Áp lực lạm phát khiến nhiều loại dịch
vụ y tế tại Tp.HCM đã điều chỉnh mức phí tăng rất cao trong tháng này.
+Thứ ba, quan điểm trọng ăn, chơi của người phương Nam đã không còn
thể hiện trong tháng này, dù là trùng thời điểm nghỉ lễ dài 30/4 và 1/5. Chỉ số giá
nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chỉ tăng nhẹ 0.28%.
-Có lẽ, khó khăn trong tiêu dùng đã khiến những thói quen của người Sài
thành buộc thay đổi, khiến chi phí cơ hội đẩy cầu tiêu dùng tăng ở các nhóm hàng
tiêu dùng thiết yếu hơn.
-Ở các nhóm còn lại, chỉ số giá may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,57%;
thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,89% cũng thuộc các nhóm tăng cao mà nguyên
nhân chủ yếu do ảnh hưởng từ tăng giá thế giới và điều chỉnh tỷ giá trong
nướcTrong năm 2010, kinh tế vĩ mô của Việt Nam khá ổn định và hoàn thành được
các chỉ tiêu lớn: tăng trưởng kinh tế, GDP đảm bảo tăng trưởng trên 6,78%; nhập
siêu ở mức 17,3% so với xuất khẩu, vượt chỉ tiêu so với kế hoạch; chi tiêu ngân
sách cũng ở mức thấp so với năm trước... Tình hình tài chính tiền tệ của Việt Nam
nhìn chung ổn định nhưng lãi suất, mặt bằng tỷ giá vẫn còn cao so với nhiều nước
trên thế giới, do đó vẫn gây những khó khăn cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 24


tệ . Mức chênh lệch đó là do cơ cấu kinh tế chậm cải thiện, công nghiêp khai thác
tài nguyên gia công chiếm tỉ trọng lớn, giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp thấp,
đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước còn dàn trải, không đảm bảo tiến độ, không
hiệu quả, nhiều thất thoát…kéo dài , chậm khắc phục.
-Công tác dự báo dự kiến biện pháp, kế họach ứng phó những tác động tiêu
cực của kinh tế thế giới chưa được quan tâm đúng mức, tham mưu Đảng và Nhà
NGUYỄN THỊ KIM SỮA

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status