PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020 - Pdf 10

BỘ CÔNG THƯƠNG
DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN
EU – VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG CB - 2A “HỖ TRỢ BỘ CÔNG THƯƠNG
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT
NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011 - 2020”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN LÀM
XUẤT KHẨU TĂNG CHẬM, NHẬP SIÊU TĂNG CAO
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO VÀ CÁC GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC ĐỂ TĂNG XUẤT KHẨU, GIẢM NHẬP SIÊU
TRONG THỜI KỲ TỚI NĂM 2020 ThS. Nguyễn Thanh Bình

khẩu đến thị trường đích và nhập khẩu được từ thị trường nguồn. Một số mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã có tiếng và chiếm thị phần khá lớn trên
thị trường thế giới.
Trong thời kỳ chiến lược 2001 -2010, sau khi ký hiệp định thương mại
song phương với Hoa Kỳ (BTA) năm 2001, tháng 11 năm 2006 nước ta đã gia
nhập WTO và tháng 10/2007 nước ta chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại Thế giới. Đồng thời, Việt Nam đã tiếp tục hội nhập thương
mại khu vực sâu hơn trong khung khổ của 6 FTA khu vực (AFTA, ACFTA,
AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA). Tỷ trọng thương mại hai chiều giữa
Việt Nam với 15 đối tác đã ký FTA chiếm gần 60% tổng giá trị kim ngạch ngoại
thương cùa Việt Nam, trong đó chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu và gần
70% kim ngạch nhập khẩu. Nhờ hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, các rào cản
2
thương mại đã giảm đáng kể nên hàng Việt Nam đã mở rộng được thị phần sang
các thị trường lớn, tăng kim ngạch xuất khẩu. Từ năm 2007, nhờ hiệu ứng tích
cực của việc gia nhập WTO, lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam được cải thiện, dòng chảy FDI và FII vào Việt Nam tăng mạnh, sản lượng
các ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu cũng tăng, góp phần quan trọng
vào tăng trưởng xuất khẩu, tăng trưởng GDP.
Tuy nhiên, ngay sau khi gia nhập WTO, nhập khẩu và nhập siêu của Việt
Nam tăng cao, tăng trưởng xuất khẩu chậm lại tác động mạnh đến các cân đối
kinh tế vĩ mô, làm gia tăng tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai Năm 2006, tỷ
lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 12,7%, năm 2007 tăng vọt
lên 29,1%, năm 2008 giảm nhẹ còn 28,7%, năm 2008 vẫn ở mức 21,36% và
năm 2010 còn khoảng 16,8%. Nhập siêu đồng hành với thâm hụt cán cân thu –
chi dịch vụ tạo ra thâm hụt “kép” cán cân thương mại và là thành tố chính gây ra
thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai. Sau khi gia nhập WTO, cán cân thanh
toán vãng lai của Việt Nam bị thâm hụt trầm trọng, từ 164 triệu USD năm 2006
lên xấp xỉ 7 tỷ USD năm 2007, vọt lên 12,1 tỷ USD năm 2008 (bằng 11,8%
GDP) và năm 2009 thâm hụt khoảng 8 tỷ USD (bằng 7,8%GDP). Đây là mức

siêu của Việt Nam. (Xem bảng 1)
Bảng 1: Tăng trưởng xuất nhập khẩu và tình trạng nhập siêu
của Việt Nam 2006-2010
Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009 Ứớc
2010
1.Xuất khẩu (FOB)

Tăng trưởng
Tr. USD
%
39.826

22,74

48.561

21,33

62.685

29,1

57.096

- 8,91

71.000

24,3


12,71

-14.204

29,24

-18.029

28,76

-12.853

22,51

-12.000

16,9

4.Nhập siêu từ
ASEAN
Tỷ lệ 4/3
Tr. USD

%
-5.913116,74

-7.950


-
22.938
163,5
25.478141,0

-16.567128,9

(8T)

-13.340

111,16

6.Nhập siêu từ
Trung Quốc
Tỷ lệ 6/3
Tr. USD

%
-4.36186,1

trưởng xuất nhập khẩu đều không phù hợp (cao hơn) so với mục tiêu Chiến lược
đã đề ra.
Để phù hợp với bối cảnh mới khi Việt Nam gia nhập WTO, ký kết các
FTA khu vực, kinh tế thế giới và Việt Nam đang ở kỳ tăng trưởng cao ,
ngày30/6/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 156/2006/QĐ-
TTg phê duyệt Đề án : “Phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010”. Trong đó,
đã điều chỉnh một số chỉ tiêu cụ thể theo hướng nâng qui mô, tốc độ và chất
lượng tăng trưởng cao hơn so với các chỉ tiêu đã xác định trong chiến lược,
nhưng lại không phù hợp với trạng thái kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam sau
khi đạt ngưỡng tăng trưởng cao trong các năm 2007 -2008 đã bước vào kỳ suy
giảm mạnh trong các năm 2009 -2010. Vì thế, phần lớn các chỉ tiêu về qui mô
và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu đã xác định trong Đề án đều cao hơn kết
quả thực hiện.
5
(2) Hội nhập WTO và hội nhập các FTA chưa thu được lợi ích quốc gia
như kỳ vọng, có những hiệu ứng bất lợi không mong muốn. Quá trình hội nhập
các FTA chưa phù hợp với định hướng điều chỉnh chiến lược thị trường. Hệ
thống luật pháp và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp
liên quan đến hội nhập WTO và các FTA còn bất cập. Kết cấu hạ tầng, nhất là
hạ tầng phát triển thương mại và dịch vụ logistics còn yếu kém. Chất lượng
nguồn nhân lực tham gia hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập các FTA còn nhiều
hạn chế, cả ở trong khâu đàm phán ký kết các điều ước quốc tế về thương mại
và thực hiện các cam kết. Sự thiếu đồng bộ giữa chiến lược phát triển xuất khẩu
và sự tham gia 6 FTA khu vực cũng là nguyên nhân chủ quan dẫn tới cơ cấu
xuất, nhập khẩu không chuyển dịch theo mong muốn của ta trong chiến lược và
đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010.
(3) Những hạn chế, yếu kém trong phát triển xuất nhập khẩu 10 năm qua
do những tác động bất lợi của bối cảnh kinh tế thế giới và tình hình kinh tế trong
nước. Nổi cộm là sự biến động mạnh của thị trường nguyên, nhiên vật liệu thế
giới các năm 2007 – 2008, tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

vốn đóng góp khoảng 50% và yếu tố lao động đóng góp khoảng 20%. Chỉ số
tăng năng suất lao động tổng hợp (TFP) của nền kinh tế vẫn đang có xu
hướng giảm từ 2,56%/năm trong giai đoạn 1996 – 2000, còn khoảng 1,7%/năm
trong giai đoạn 2001 -2009. Chỉ số MVA/GO (giá trị gia tăng công nghiệp so
với giá trị tổng sản lượng công nghiệp) tiếp tục giảm từ 38,4% trong năm 2000
xuống 24,8% trong năm 2008 và 21,2% trong năm 2009. Chỉ số giá trị gia tăng
so với doanh thu của thương mại trong nước thời kỳ 2001 – 2009 không có xu
hướng tăng mà chỉ dao động ở mức 24 – 29%. Tỷ lệ khai thác năng lượng so với
thu nhập quốc dân vẫn đang có xu hướng tăng nhanh từ 9 – 12% trong giai đoạn
2000 -2004 lên 15 – 22% trong giai đoạn 2005 – 2009. Mức tiết kiệm năng
lượng của công nghiệp Việt Nam thấp hơn mức tiết kiệm điện trung bình của thế
giới, của khu vực (thời kỳ 1990-2005, mức tiết kiệm điện bình quân của Việt
Nam là – 3,4% của Trung Quốc là + 3,3%).
(5) Nhóm hàng công nghiệp chế biến tuy đang có lợi thế cạnh tranh về giá
nhân công rẻ, phát triển theo định hướng xuất khẩu, chiếm tới 43 – 45% tổng giá
trị sản phẩm công nghiệp nhưng chỉ chiếm dưới 30% tổng MVA toàn ngành
công nghiệp và đã có xu hướng giảm từ 30% trong năm 2000 xuống 23.5%
trong năm 2007 và còn 20% trong năm 2009, hoạt động gia công lằp ráp là chủ
yếu, phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nước ngoài và thích ứng chậm với
7
những biến động của thị trường thế giới. Nhóm hàng thô và sơ chế còn chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu (45 – 50%), độ co giãn về cung với thị trường
thế giới rất nhỏ, sản xuất trong nước chậm thích ứng với những biến động của
thị trường thế giới.
(6) Khu vực FDI là nhóm chủ thể chính đáng góp cho tăng trưởng xuất
khẩu, nhất là nhóm hàng chế biến xuất khẩu. Nhưng tỷ trọng vốn FDI đăng ký
vào công nghiệp chế biến trong tổng FDI đăng ký vào Việt Nam đã có xu hướng
giảm liên tục từ 70,4% trong năm 2005 xuống 68,9% trong năm 2006, 51,0%
trong năm 2007, 36% trong năm 2008 và còn 30% trong năm 2009, đã làm
giảm nguồn hàng chế biến xuất khẩu trong các năm cuối của thời kỳ chiến

từ mức 57,9% trong năm 2006 xuống 57,5% trong năm 2007, 42,35 trong năm
2009 và khoảng 47% trong năm 2010.
(7) Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và chưa có nhiều tập đoàn đa quốc
gia thiết lập cơ sở sản xuất cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương ở Việt Nam.
Đây là điểm khác biệt giữa Việt Nam với các nước ASESN 6, các nước này đã
thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở sản xuất cho khu vực tại nước
họ nên kim ngạch xuất khẩu linh kiện điện tử, máy móc thiết bị điện và cơ khí
chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này
sang Trung Quốc (được mệnh danh là công xưởng thế giới). Trong giai đoạn
2001 – 2007, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm sản phẩm này của Việt
Nam chỉ đạt 8,7% trong kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc, chỉ số tương
ứng của Philippin là 88,75, của Malaysia là 70%, của Thái Lan là 52,5%. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân khách quan của việc nước ta chưa thể
cân bằng được cán cân thương mại với Trung Quốc, điều mà các nước ASEAN
đã làm được.
(8) Trong cấu trúc nhập khẩu giai đoạn 2000 – 2005, chúng ta đã có bước
thụt lùi về công nghệ : giảm nhập khẩu công nghệ Trung – cao (- 6,5%) để tăng
nhập khẩu công nghệ trung - thấp (+ 7,4%) đã tác động làm giảm sức cạnh tranh
của sản phẩm xuất khẩu trong giai đoạn 2006 – 2010 và các năm tiếp theo.
(9) Nhập khẩu và nhập siêu tăng cao có nguyên nhân chủ yếu từ các yếu
tố nội tại của nền kinh tế, mở cửa thị trường nội địa sau khi hội nhập WTO và
hội nhập các FTA, biến động của thị trường nguyên nhiên vật liệu thế giới Do
mong muốn đạt được mức tăng trưởng GDPcao trong khi hiệu quả đầu tư thấp
đã tạo ra vòng xoáy đầu tư tăng cao làm tăng nhu cầu nhập khẩu, nhưng hiệu
quả đầu tư thấp nên giảm nguồn hàng xuất khẩu, mất cân bằng xuất -nhập và
9
nhập siêu tăng cao. Trong giai đoạn 2006 -2007, tính theo giá so sánh 1994, tốc
độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội luôn ở mức cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP
(năm 2005 là 13%, năm 2006 là 13,7% và năm 2007 là 25,8%, gấp trên 4 lần tốc
độ tăng GDP). Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đã tăng từ 29,6% trong

(11) Mức tiết kiệm thấp so với nhu cầu đầu tư trong nước, hiệu ứng tài
sản do tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán và tăng giá bất động sản
làm cho tiêu dùng, nhất là tiêu dùng của khu vực tư nhân tăng cao đột biến trong
các năm 2006 -2008, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ tăng cao.
Mức tiết kiệm trung bình của nước ta chỉ tăng từ 8,5% trong giai đoạn 1995 -
2000 lên 8,6% trong giai đoạn 2001 – 2008, trong khi đó tổng chi tiêu quốc gia
đã tăng từ 9% lên 12% trong cùng thời kỳ, và nguồn vốn cố định cho đầu tư
cũng gia tăng trung bình từ 1,7% lên 2,3% trong thời gian tương ứng. Tiêu dùng
của dân cư tăng đột biến đã làm cho nhu cầu nhập khẩu và nhập siêu tăng cao.
Năm 2007 so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng
171,8%, riêng xe dưới 12 chỗ ngồi tăng 408%; 6 tháng đầu năm 2008 so với
cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng 375%, xe
dưới 12 chỗ tăng 556%, linh kiện ô tô tăng 271%.
(12) Qui mô sản xuất trong nước một số ngành hàng còn nhỏ, năng lực
sản xuất chưa đạt qui mô thay thế hoàn toàn hàng nhập khẩu, cung trong nước
không đủ đáp ứng nhu cầu nội địa (ngành hàng giày dép: 83%, dầu mỡ động
thực vật : 68%, sản phẩm sữa: 78%, phương tiện vận tải: 50%, phân bón các
loại: 60% ) nên vẫn phải nhập khẩu số lượng lớn.
(13) Nhập khẩu tăng cao còn do nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng
cao năng lực sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp để đáp ứng
yêu cầu hội nhập quốc tế. Các ngành công nghiệp hỗ trợ, ngành công nghiệp dệt
của Việt Nam chưa phát triển nên ta vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn
vải, sắt thép, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện để phục vụ sản xuất trong nước, tạo
nguồn hàng xuất khẩu Dịch vụ logistics và dịch vụ bảo hiểm hàng hoá XNK
chậm phát triển, nhất là dịch vụ vận tải biển mới chiếm khoảng 22 -24% thị
phần hàng hoá xuất khẩu và chiếm khoảng 18-20% thị phần hàng hoá nhập
khẩu của Việt Nam, nên chi phí bảo hiểm và vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu
cao, chiếm gần 40% kim ngạch nhập dịch vụ, cũng tác động làm tăng nhập siêu
và thâm hụt cán cân vãng lai. Trong 3 năm 2005-2007, nước ta phải chi trả 6 tỷ
USD cho nước ngoài về chi phí bảo hiểm và vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu,

xuống 0% trong vòng 10 năm, có một số ít tỷ lệ dòng thuế được kéo dài thêm 2 -
6 năm (cam kết trong FTA có 99% số dòng thuế, trong AJCEP có 88,6% số
dòng thuế). Mức độ bảo hộ thuế quan đối với nhóm hàng nhạy cảm thường được
12
giảm thuế suất xuống mức 5% chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch
nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác (trong ACFTA: 17,45%, trong AKFTA:
15,81%, trong AJCEP: 2,2%, AANZFTA: 4,7%, trong AIFTA: 10,25%). nhóm
hàng bảo hộ cao giảm thuế suất xuống mức khoảng 40 – 50% hoặc được phép
loại trừ cũng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ các đối tác
FTA (trong ACFTA: 9,1%, trong AKFTA: 5,71%, trong AJCEP: 5,495, trong
AANZFTA: 2,2%, trong AIFTA: 6,61%). Việt Nam bắt đầu lộ trình cắt giảm
thuế quan theo cam kết CEPT/AFTA từ năm 1999 đến 1/1/2006 đã hoàn thành
giảm 99% dòng thuế thuộc danh mục thông thường xuống dưới 5%. Bắt đầu lộ
trình giảm thuế theo cam kết ACFTA từ 01/07/2005, theo cam kết AKFTA từ
01/06/2007, theo cam kết AJCEP từ năm 2008, theo VJEPA từ 01/01/2009, theo
AANZFTA từ 01/01/2010 và theo AIFTA từ 01/06/2010.
Việc cắt giảm thuế, dỡ bỏ các rào cản phi thuế, thuận lợi hoá thương mại
theo các cam kết gia nhập WTO, các cam kết trong 6 FTA khu vực đã tác động
làm tăng nhập khẩu, nhất là tăng nhập khẩu từ khu vực thị trường các đối tác đã
ký FTA (trong giai đoạn 2007 -2010, giá trị nhập khẩu từ ASEAN +6 chiếm
khoảng 67% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam). Tỷ trọng của khu vực
thị trường châu Á trong tổng kim ngạch nhập khẩu của ta đã không giảm xuống
như mong muốn trong định hướng chiến lược thị trường mà ngược lại, đã có xu
hướng tăng lên trên 80% ở cuối thời kỳ chiến lược 2001 – 2010.
(16) Trung Quốc đã trỗi dậy nhanh, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên
thế giới, điều chỉnh chiến lược thị trường từ Tây sang Đông, thực hiện chiến
lược “Một trục hai cánh” và chính sách hướng Nam, tận dụng tốt các cơ hội từ
thuận lợi hoá thương mại trong ACFTA để đẩy mạnh xuất khẩu và tăng thị phần
ở Việt Nam, làm cho nhập siêu của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc tăng
cao.

trưởng cao trong giai đoạn 2001 -2007, tăng trưởng bình quân 7,7%/năm (theo
giá cố định 1994), đỉnh là năm 2007 tăng trưởng 8,5% so với năm 2007, sau đó
đã bước vào kỳ suy giảm từ năm 2008 đến nay và có thể sẽ kéo dài đến năm
2012 mới chuyển sang kỳ tăng trưởng mới (năm 2009 tăng trưởng 5,3%, năm
2010 tăng trưởng khoảng 6,7%, năm 2011 dự ước chỉ khoảng 7%).
Xuất khẩu toàn cầu và xuất khẩu của Việt Nam có quan hệ hữu cơ với
tính chu kỳ kinh tế. Xem bảng sau
14
Bảng 2: Quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu với tăng trưởng
kinh tế theo tính chu kỳ kinh tế

I. Thế giới 1991-1995 1996-2001 2002-2008 2009-2010

1. Tăng trư
ởng kinh
tế. BQ %/năm
(giá thực tế)
7,6 1,23 9,7 1,5% (ước
2010 tăng
2,5%)
2. Tăng trưởng XK
BQ %/năm
8,1 3,0 14,6 - 8,5 (ước
2010 tăng
7%)
3. Tỷ lệ 2/1 (l ần) 1,065 2,44 1,505 - 5,66
II. Việt Nam
1991-1995 1996-2001 2002-2008 2008-2010

1. Tăng trưởng kinh

2. Tăng trưởng NK
BQ %/năm
7,8 3,45 13,7 - 7,5 (ước
năm 2010
tăng 7%)
3. Tỷ lệ 2/1 (lần) 1,02 2,8 1,41 - 5,0
II. Việt Nam 1991-1995 1996-2000 2001-2007

2008-2010

1. Tăng trưởng kinh
tế (giá SS 1994)
BQ %/năm
8,2 6,9 7,75 5,8
2. Tăng trưởng NK
BQ %/năm
26,0 14,0 22,25 9,8
3. Tỷ lệ 2/1 (lần) 3,17 2,02 2,87 1,68
Nguồn: - Số liệu thống kê trong các Niên giám thống kê của Tổng cục
thống kê Việt Nam, công bố hàng năm
- Cục công nghệ thông tin và thống kê hải quan
- IMF, WB. ADB.
Mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu so với tốc
độ tăng GDP theo tính chu kỳ kinh tế qua hai bảng số liệu trên cho thấy, ở vào
kỳ tăng trưởng của nền kinh tế, nhập khẩu tăng cao hơn để đáp ứng nhu cầu
nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị cho đầu tư tăng cao (điều này tể hiện rõ
nét đối với trường hợp mô hình Việt Nam). Ngược lại, ở kỳ suy thoái do đầu tư
sụt giảm mạnh nên nhu cầu nhập khẩu cũng giảm xuống nhiều hơn so với xuất
16
khẩu. Điều này càng phù hợp với trường hợp mô hình tăng trưởng kinh tế dựa

17
thế giới từ cuối năm 2007. Nếu như quá trình hội nhập trong những năm qua đã
có tác động tích cực vào phát triển kinh tế Việt Nam qua hai kênh chính yếu là
tăng xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, thì khi kinh tế thế giới bị khủng hoảng,
chúng ta lại chịu ảnh hưởng ngược lại của hai nhân tố này. Hai nhân tố này có
đóng góp cao cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm qua, vì vậy
khi khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến hai
nhân tố này đã tác động làm suy thoái tốc độ tăng trưởng GDP. Do đó, chúng ta
sẽ khó đạt được mục tiêu mong muốn. Bởi lẽ, trong bối cảnh kinh tế thế giới suy
thoái chung, đặc biệt là kinh tế Mỹ, hàng hoá ứ đọng chờ người mua, giá cả suy
giảm, đầu tư, sản xuất giảm làm tình trạng thất nghiệp thêm trầm trọng. Theo
đánh giá của IMF, do nhu cầu tiêu dùng của thế giới giảm, làm đầu tư giảm nên
mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm từ 3,7% năm 2008 xuống còn - 5,4%
năm 2009 và năm 2010 chỉ tăng 2,5% so với năm 2009. Khối lượng thương
mại, dịch vụ của thế giới cũng giảm từ 4,6% năm 2008 xuống còn 2,15 năm
2009, trong đó nhập khẩu vào các nền kinh tế phát triển là số âm (1,8% năm
2008 và âm - 0,1% năm 2009), và xuất khẩu của các nền kinh tế này giảm từ
4,1% năm 2008 xuống 1,2% năm 2009. Trong khi đó thị trường xuất khẩu của
Việt Nam chủ yếu vào các nền kinh tế phát triển gồm thị trường Mỹ năm 2007
là 21%, Nhật là 12,5%, các nước EU khoảng trên 15%, Úc là 7,3%, Trung Quốc
là 6,9%, Singapore là 4,6% Như vậy, việc tiêu thụ hàng hoá của các nước
này giảm mạnh trong các tháng cuối năm 2008 và kéo dài (nhập khẩu giảm mức
âm) vào năm 2009 cũng có ảnh hưởng mạnh đến kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam. Dù là qui mô kinh tế nhỏ, nhưng xuất khẩu đã đóng góp gần 34% (2009)
cho tăng trưởng GDP của Việt Nam, khi xuất khẩu giảm sẽ làm cho GDP giảm
tương ứng.
Tác động của yếu tố thứ hai là nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam qua
các kênh đầu tư trực tiếp, gián tiếp đã không giải ngân theo số đăng ký hoặc thời
gian cam kết. Tình hình thực hiện vốn FDI của Việt Nam gặp khó khăn, theo số
liệu thống kê công bố vốn FDI đăng ký năm 2008 đạt khoảng 64 tỷ USD và vốn

Từ tháng 11/2009 đến tháng 9/2010, tỷ giá chính thức đã được điều chỉnh
3 lần, tăng tổng cộng 11,17% lên mức 18,932 VND/USD. Tuy nhiên, dường
như sự điều chỉnh này vẫn chưa làm thoả mãn “cơn khát” của thị trường. Tỷ giá
giao dịch trên thị trường tự do vẫn luôn cao hơn thị trường chính thức. Vào ngày
02/11/2010, mức chênh lệch này đã lên tới 1.500 VND/USD, tức 7,69%, một
mức khá cao so với các đợt điều chỉnh tỷ giá trước đó. Tỷ giá thị trường tự do
19
sau hơn một tháng ổn định bỗng tăng trở lại từ ngày 27/9/2010, và bắt đầu vượt
xa mức niêm yết của ngân hàng. Diễn biến này trùng khít với đợt biến động của
thị trường vàng, giá vàng trong nước từ chỗ thấp hơn thế giới bỗng tăng mạnh
và cao hơn thế giới bắt đầu từ ngày 27/9/2010. Tỷ giá chợ đen phá đỉnh 19.900
đồng vào ngày 1/10/2010, vênh tới 400 đồng so với giá trong ngân hàng, khi
Ngân hàng Nhà nước phát đi thông điệp có thể cho nhập khẩu vàng. Bước sang
7/10, ngày các đầu mối được cấp quota nhập khẩu vàng, tỷ giá trên thị trường
liên ngân hàng cũng biến động mạnh, lên tới 19,860 đồng ăn một đô la, bỏ xa
mức trần qui định tới 360 đồng. Khi cấp quota nhập khẩu vàng với số lượng
không lớn (dưới 3 tấn)và yêu cầu thực hiện nhanh (từ 7 đến 12/10), Ngân hàng
Nhà nước muốn tạo ra liều thuốc vừa đủ giải toả tâm lý găm gữi vàng mà không
gây xáo trộn trên thị trường ngoại hối. Quả thực sau 7/10, giá vàng trong nước
đã thu hẹp đáng kể khoảng cách so với giá thế giới. Trên thị trường liên ngân
hàng, tỷ giá giảm 50 điểm về mức 19.800 đồng ngay khi các ngân hàng gom đủ
ngoại tệ nhập vàng. Nhưng từ hôm đó đến nay, tỷ giá tự do vẫn neo quanh
19,850 đồng, giữ khoảng cách khá xa mức trần 19.500 của ngân hàng mà chưa
có dấu hiệu co lại. Thậm chí có lúc tỷ giá ngoài thị trường tự do đã lên tới trên
21.000. Điều đó cho thấy, diễn biến tỷ giá những ngày đầu tháng 10 đến cuối
năm nay không phải ngắn ngày mà báo hiệu nhiều nguy cơ sẽ có những biến đổi
mạnh.
Thực tế, thị trường ngoại tệ được giữ ổn định trong vòng hơn một tháng
trước cuối tháng 9/2010 không chỉ vì quyết định tăng tỷ giá liên Ngân hàng
thêm hơn 2% vào ngày 17/8, mà chủ yếu do có nguồn ròng từ hoạt động xuất

Sở dĩ xảy ra hiện tượng này là vì đồng nội tệ của hầu hết các quốc gia
Đông Nam Á đã lên giá so với USD, khi dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ mạnh vào
khu vực này, trong khi đó VND lại mất giá so với USD.
Nguyên nhân khiến cho VND liên tục mất giá:
- Tài khoản vãng lai bị thâm hụt lớn: Việc đồng nội tệ luôn chịu áp lực
mất giá là do sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế. Bản chất là
một nền kinh tế nhập siêu lớn khiến cho cán cân tài khoản vãng lai (current
account) chênh lệch hàng chục tỷ USD.
Trong khi đó, cán cân tài khoản vốn (trong đó gồm vốn đầu tư trực tiếp
(FDI), vốn đầu tư gián tiếp (FPI), vốn vay (ODA), vay thương mại của Chính
21
phủ và doanh nghiệp) lại phụ thuộc vào diễn biến kinh tế toàn cầu và ổn định vĩ
mô trong nước.
- Vào trung tuần tháng 7 vừa qua, NHNN khẳng định tổng cán cân tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn của Việt Nam vẫn thặng dư 3,4 tỷ USD. Tuy
nhiên, theo “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2010” của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư vừa công bố, tính tổng thể, cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
trong năm 2010 có thể thâm hụt khoảng 4 tỷ USD. Và đến đầu tháng 12/2010,
Ngân hàng Nhà nước đã thông báo năm 2010 cán cân thanh toán tổng thể của
Việt Nam ước thâm hụt khoảng 4 tỷ USD.
Việc chênh lệch trong hai báo cáo nêu trên chỉ có thể giải thích là do
khoản mục sai số trong cán cân thanh toán tổng thể đã tăng lên. Điều này cũng
đồng nghĩa với thực tế gia tăng tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, do người
dân tăng cường nắm giữ USD.
Mặc dù vậy, số liệu này vẫn chưa tính troán hết được một số dòng ngoại
tệ dịch chuyển ra khỏi nền kinh tế. Có thể kể đến là những khoản nợ đáo hạn
phải thanh toán mà không vay mới, lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI chuyển
về nước mà không tiếp tục tái đầu tư, các dòng vốn gián tiếp chu chuyển sau
thông tin không thuận lợi về Vinashin, hay chỉ nhập khẩu phục vụ an ninh quốc
phòng.

ngân và vốn vay mới. Ngoài ra, và việc đang kỳ vọng dòng vốn đầu tư gián tiếp
(FPI) có thể chảy mạnh vào Việt Nam trong thời gian tới, khi giá cổ phiếu đang
rất hấp dẫn so với các nước trong khu vực có thể xảy ra.
Áp lực về việc thu gom ngoại tệ để nhập khẩu vàng không quá lớn vì
nhập khẩu chính ngạch được NHNN kiểm soát. Lượng nhập khẩu lậu vàng
không nhiều do giá vàng trong nước và trên thế giới chênh lệch không đáng kể
khi qui đổi theo tỷ giá thị trường.
Một lý do nữa cho thấy tiền Đồng khó giảm mạnh là do hiện nay VND đã
mất giá hơn 15% so với hầu hết các đồng tiền của các nước trong khu vực Đông
Nam Á. Điều này khiến VND không còn được định giá cao như trước. Tính tỷ
giá hối đoái thực hiệu dụng dựa trên tỷ giá trên thị trường tự do thì tiền Đồng
đang được định giá thấp hơn nhiều so với nhiều đồng tiền của các đối tác thương
mại.
23
Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
Về xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 62,7 tỷ USD, năm
2009 đạt 57,1 tỷ USD, giảm 9,0% so với năm 2008. Tình hình xuất khẩu như
vậy không đến nỗi quá xấu nếu chúng ta nhìn vào nguyên nhân của nó. Kim
ngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế giới giảm (riêng yếu tố giảm giá trong 9
tháng đầu năm 2009 làm kim ngạch xuất khẩu giảm trên 6 tỷ USD) - một yếu tố
ngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng hàng hoá xuất khẩu
có sự tăng đáng kể giúp chúng ta giảm thiểu được đáng kể đến tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu và xa hơn là giảm thiểu được tác động tiêu cực đến việc làm và
thu nhập của người lao động.
Từ quí II/2009 đến quí IV/2009, thâm hụt thương mại tiếp tục gia tăng, và
đến quí I/2010 bắt đầu có chiều hướng giảm dần và xu hướng này vẫn tiếp tục
duy trì trong cả 3 quí của năm 2010.
3. Tác động của việc gia nhập WTO đến tăng trưởng xuất khẩu của
Việt Nam
Trong hai năm 2007 và 2008, hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tích


2009
Tăng
trưởng
BQ hàng
năm
2004-
2006
Tăng
trưởng
BQ
hàng
năm
2007-
2008
Tăng
trưởng
BQ
hàng
năm
2007 –
2009
ASEAN

37,3

41,6

15,5


14,8

Nh
ật Bản

21,8

22,5

20,7

16,2

39,0

-
25,7

21,7

27,1

6,3

Hoa K


27,6

17,9

14,6

22,6

24,4

9,8

T
ổng số

31,4

22,5

22,7

21,9

29,1

-
8,9

24,4

27,1

13,7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status