VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
Tên Dự án: “Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và
kiểm dịch động thực vật (SPS) cho thương mại”
NỘI DUNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUÁT RAU AN TOÀN
THEO HƯỚNG VIETGAP
Bộ môn Rau-gia vị
Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2012
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
NỘI DUNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUÁT RAU AN TOÀN THEO
HƯỚNG VIETGAP
-------------o0o-----------THÔNG TIN CHUNG
1. Tên Dự án: “Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch
động thực vật (SPS) cho thương mại”
2. Đơn vị thực hiện: Viện Nghiên cứu Rau quả
3. Đơn vị phối hợp thực hiện:
- Sở Nông nghiệp & PTNT Hưng Yên
Công ty Cp chế biến thực phẩm chất lượng cao Hải Hưng (HAVECO)
- Sở Nông nghiệp & PTNT Lâm Đồng
- HTX Thạnh Nghĩa - huyện Đơn Dương - tỉnh Lâm Đồng
- Sở Nông nghiệp & PTNT Sơn La
- HTX dịch vụ nông nghiệp 19/5- TT Nông trường - Sơn La
4. Địa điểm thực hiện:
- Xã Hiệp Cường - huyện Kim Động - tỉnh Hưng Yên
vậy mới đủ tiêu chuẩn qui định cần để đăng kí chứng nhận VietGap. Giá thành sản
xuất RAT theo VietGAP bao giờ cũng cao hơn giá rau sản xuất bằng phương pháp
truyền thống, nhờ đó giá trị thu được trên cùng một diện tích canh tác rau được
nâng lên đáng kể góp phần tăng thu nhập cho bà con nông dân. Nếu rau, quả sản
xuất theo phương thức truyền thống bình quân chỉ bán được với giá 2.000 đến 3.000
đồng/kg, thì rau sản xuất theo VietGAP sẽ bán được giá cao gấp đôi…
Xác định được tầm quan trọng của việc sản xuất rau theo tiêu chuẩn
VietGap để thí điểm triển khai xây dựng vùng sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn
VietGAP, các hoạt động về tập huấn và xây dựng mô hình nằm trong dự án “Tăng
cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) cho
thương mại” do dự án FAO triển khai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Sơn La và Lâm
Đồng.
Viện Nghiên cứu Rau quả đã phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp &
PTNT tỉnh Hưng Yên, Sơn La và Lâm Đồng và các đơn vị hưởng lợi như Công ty
Cổ phần chế biến thực phẩm chất lượng cao Hải Hưng (HAVECO), HTX Thạnh
Nghĩa - huyện Đơn Dương - tỉnh Lâm Đồng, HTX dịch vụ nông nghiệp 19/5 - TT
Nông trường - Sơn La, Bản Tự Nhiên - xã Đông Sang - huyện Mộc Châu - Sơn La
triển khai các hoạt động: đào tạo cán bộ và nông dân; thành lập hệ thống khuyến
nông. Và cho đến nay, sau một thời gian thực hiện, tình hình sản xuất và tiêu thụ
rau an toàn của dự án tại tỉnh Hưng Yên, Sơn La và Lâm Đồng cho kết quả tốt và
được đánh giá cao.
Mục tiêu của dự án
Nhằm áp dụng các thực hành sản xuất tốt, thực hành nông nghiệp tốt, thực
hành chế biến tốt và các quy trình thực hành chuẩn tương ứng nhằm tìm ra phương
thức phù hợp để đảm bảo tính khả thi, tính thực tế và khả năng đem lại hiệu quả
kinh tế, từ đó nhân rộng việc áp dụng thực hành sản xuất tốt tại các vùng trồng rau
khác của tỉnh.
Mục tiêu cụ thể
phát triển tích cực trên cơ sở chú trọng khai thác và phát huy các lợi thế sinh thái
nông nghiệp của một địa bàn nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng và vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Sự chuyển dịch trong sản xuất nông nghiệp thời gian qua theo hướng phát
triển sản xuất hàng hóa: diện tích gieo trồng các cây ngắn ngày như cây công
nghiệp, rau đậu thực phẩm và cây hàng hóa khác (hoa, cây cảnh, dược liệu,…), diện
tích cây ăn quả lâu năm, quy mô đàn gia súc-gia cầm, thủy sản đã có sự tăng trưởng
đáng kể.
Đất nông nghiệp được sử dụng đúng hướng và hiệu quả hơn: Hệ số sử dụng
đất tăng từ 1,87 lần (năm 1997) lên 2,2 lần (năm 2001) và đến nay lên trên 2,3 lần.
Năm 2003 diện tích gieo trồng cây rau đậu thực phẩm tăng 5,5% (thời kỳ 19972001 bình quân tăng 7,75%/năm); cây công nghiệp ngắn ngày và các cây hàng hóa
khác như dược liệu, hoa, cây cảnh, cây giống,... giữ ổn định và tăng dần. Riêng diện
tích gieo trồng cây lương thực đã có xu hướng giảm (bình quân hàng năm giảm
khoảng gần 1%, trong đó cây lương thực có hạt giảm trên 1,1%/năm). Đất có mặt
nước nuôi trồng thuỷ sản tăng bình quân trên 8%/năm. Việc “dồn thửa đổi
ruộng” đã cơ bản hoàn thành ở 98% số xã với 93,2% số hộ nông dân, bước đầu
đang phát huy tác dụng trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Đất đai được khai thác
theo hướng mở rộng thâm canh và phát huy các đặc điểm sinh thái phù hợp với điều
kiện sản xuất và với từng loại sản phẩm thế mạnh của từng tiểu vùng. Giá trị thu
nhập mang lại từ 1 ha canh tác đạt 35,2 triệu đồng/năm (năm 2003), ở nhiều mô
hình sản xuất đã đạt từ 50 đến trên 100 triệu đồng/năm.
Công tác khuyến nông phát triển. Những năm qua nhiều loại sản phẩm mới,
nhiều giống cây trồng, vật nuôi tiến bộ kỹ thuật có năng suất, chất lượng, giá trị
kinh tế cao đã được chuyển giao cho nông dân đưa vào sản xuất có hiệu quả ở diện
rộng, tăng nhanh năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản, thúc đẩy nhanh tiến
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Thời gian qua, các ngành chức năng đã tích cực đầu tư xây dựng mô hình trồng
rau an toàn; tập huấn, hướng dẫn nông dân trồng rau. Điển hình như sở Khoa họccông nghệ phối hợp với Viện nghiên cứu rau quả Trung ương hỗ trợ nông dân trong
thói quen, sợ rủi ro nên nông dân chỉ sử dụng một số loại thuốc quen thuộc, thậm
chí còn sử dụng những loại thuốc nhập lậu có độc tố cao như Monitor, Wofatox.
Thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới thu hoạch không được tuân thủ
nghiêm ngặt, nhất là các loại rau cho thu hoạch liên tục như dưa chuột, cà chua, đậu
cove. Theo điều tra, khoảng 60% số người được hỏi khẳng định sản phẩm rau của
họ bán trên thị trường được thu hoạch với thời gian cách ly phổ biến là 3 ngày. Tại
một số vùng rau chuyên canh ở các huyện Yên Mỹ, Khoái Châu, trong một chu kỳ
trồng cải bắp, nông dân phun từ 7-15 lần với lượng thuốc 4-5 kg/ha. Ngoài ra, bà
con còn sử dụng thuốc trừ sâu để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu, mọt.
Nhiều nông dân vẫn còn tập quán bón và tưới phân tươi cho rau, thường bón nhiều
phân đạm, không bảo đảm thời gian cách ly, dẫn đến lượng nitrat trong rau tăng
cao.
Nguồn nước tưới ở không ít vùng trồng rau đang bị ô nhiễm bởi hoá chất công
nghiệp, nước thải sinh hoạt. Ngay tại một số vùng trồng rau an toàn, nguồn nước ô
nhiễm cũng đáng lo ngại. Tại vùng rau xanh xã Trung Nghĩa (thị xã Hưng Yên)
khâu gieo trồng, bón phân, tưới nước đến khi thu hoạch đều đạt yêu cầu kỹ thuật
theo quy trình trồng rau an toàn. Tuy nhiên khi sơ chế, các hộ đem rửa rau tại bể
chứa nước tồn từ lâu, nhiễm vi khuẩn, mất an toàn.
2.2. Tình hình sản xuất rau và rau an toàn tại tỉnh Sơn La
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Sơn La là một tỉnh miền núi, có diện tích tự nhiên 14.174,44km2. Điều kiện
thiên nhiên ưu đãi đã tạo cho Sơn La tiềm năng để phát triển nền nông nghiệp hàng
hóa, đa dạng.
Sơn La nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc Việt Nam, tỉnh lỵ là thành phố Sơn
La, cách thủ đô Hà Nội khoảng 320 km. Toạ độ địa lý:
Từ 20039’đến 220020 độ vĩ bắc;
Từ 1030110 đến 1050020 độ kinh đông.
- Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu và Yên Bái.
- Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước CHDCND Lào.
- Phía Đông giáp tỉnh Hoà Bình và tỉnh Phú Thọ.
có đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng, tuy nhiên tiềm năng đất có khả năng phát
triển các loại rau tập trung chủ yếu trên các loại đất: Đất phù sa ngòi suối (Py), Đất
Đất đen trên sản phẩm bồi tụ cacbonnat (Rdv), Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv), Đất đỏ
nâu trên đá vôi ( Fv), Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl), và Đất thung
lũng dốc tụ (D).
Hiện trạng sử dụng đất
Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 như sau:
Tổng diện tích tự nhiên: 1.417.444 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 888.412 ha, chiếm 62,68% diện tích tự nhiên, trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 261.439 ha.
+ Đất lâm nghiệp: 624.381 ha.
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 2.452 ha.
+ Đất nông nghiệp khác 140 ha.
- Đất phi nông nghiệp: 63.600 ha, chiếm 4,49% diện tích tự nhiên.
- Đất chưa sử dụng : 465.431 ha, chiếm 32,84% tổng diện tích tự nhiên (trong đó
đất đồi chưa sử dụng còn 420.160 ha).
Bảng 1. Hiện trạng và biến động sử dụng đất tỉnh Sơn La năm 2010
SỐ TT
CHỈ TIÊU
MÃ
TỔNG DT TỰ NHIÊN
Tổng diện
tích (ha)
1.1.1.1
Đất trồng lúa
LUA
37.270
1.1.1.2
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
COC
1.771
1.1.1.3
Đất trồng cây hàng năm khác
HNK
186.970
1.1.2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
LNP
624.381
1.2.1
Đất rừng sản xuất
RSX
178.920
1.2.2
Đất rừng phòng hộ
RPH
397.345
1.2.3
Đất rừng đặc dụng
RDD
48.115
1.3
465.431
32,84
3.1
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
-
3.2
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
420.160
3.3
Núi đá không có rừng cây
NCS
45.271
62,68
(tr đồng)
(%)
(tr đồng)
(%)
(giá HH)
2.447.443,00
100,00
7.191.588,00
100,00
Trong đó trồng trọt
1.957.859,00
80,00
5.095.550,00
70,85
Rau đậu các loại
15,70
Cải các loại
28.610,00
1,50
86.641,80
1,70
Rau muống
8.125,50
3,00
26.133,10
6,10
Cải bắp
13.386,50
12,90
33.948,10
Rau ăn quả
5.736,10
5,51
16.656,00
17,70
Cà chua
4.992,10
4,80
9.617,70
2,20
TT Hạng mục
GTSX ngành nông nghiệp
2
3
Rau ăn thân, củ
171.103,00
36,90
II
Đậu các loại
12.172,50
0,12
32.971,20
0,65
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Sơn La
Năm 2010, giá trị sản xuất rau đậu các loại trên địa bàn toàn tỉnh đạt 463,642
tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm 9,1% trong tổng giá trị sản xuất của ngành trồng
trọt; trong khi đó tỷ trọng này ở năm 2005 là 5,9%.
Biều đồ 2: Cơ cấu GTSX rau, đậu trong
ngành trồng trọt năm 2010
Biểu đồ 1: Cơ cấu GTSX rau, đậu trong
ngành trồng trọt năm 2005
0.12%
5.32%
0.65%
2005
2010
Tốc độ tăng
(tr đồng)
(tr đồng)
trưởng (%/năm)
GTSX ngành nông nghiệp 1.346.301,00 2.209.500,00 10,42
Trong đó trồng trọt
1.118.824,00 1.709.661,00 8,85
I
Rau các loại
42.722,40
70.635,80
10,58
1
6.693,30
7.991,90
3,61
8.982,20
6.449,80
-6,41
Su hào
5.602,20
4.952,30
-2,44
Khoai tây
3.380,00
1.497,50
-15,03
Rau ăn quả
8.088,50
14,24
5
Rau khác
5.397,00
28.017,00
39,01
II
Đậu các loại
7.079,40
8.158,50
2,88
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Sơn La
Sản xuất rau đậu các loại không chỉ cung cấp rau, giải quyết công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho nông dân, mà còn góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở
ngành trồng trọt.
Thực trạng sản xuất rau
313
144
4.500
569
120
6.830
2
Phù Yên
511
85
4.324
475
140
6.659
3
5
Mai Sơn
569
116
6.587
594
80
4.757
1
Quỳnh Nhai
252
20
491
261
27
166
9.936
4
Bắc Yên
193
83
1.596
231
102
2.356
5
Sông Mã
227
63
1.422
138,0 67.869
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Sơn La
Năng suất rau trung bình toàn tỉnh năm 2010 đạt 138 tạ/ha, một số huyện có
năng suất khá như Mộc Châu (184,3 tạ/ha), Thuận Châu (187,7 tạ/ha), Yên Châu
(177,6 ha), Mường La (165,6 tạ/ha),…; Nếu so với năm 2005, năng suất rau toàn
tỉnh tăng với tốc độ tăng đạt 3,3%/năm. Nguyên nhân năng suất rau trung bình tăng
trong giai đoạn 2005 – 2010 chủ yếu do thâm canh, áp dụng tiến bộ kỹ thuật về
giống, kỹ thuật canh tác,... cộng với kinh nghiệm của nông dân đã được tích luỹ
những kiến thức trong sản xuất.
Sản lượng rau toàn tỉnh năm 2010 đạt trên 67,8 nghìn tấn, tăng 26,2 nghìn
tấn so với năm 2005, đạt tốc độ tăng trưởng 10,3%/năm. Bình quân sản lượng rau
đầu người tăng; năm 2005 là 40 kg/người/năm, đến năm 2010 đã đạt
62kg/người/năm. Như vậy sản lượng rau bình quân đầu người ở Sơn La thấp so
bình quân của cả nước (Bình quân cả nước 130kg/người/năm).
25000
200
180
20000
160
140
15000
10000
Phù
Yên
Mộc
Châu
Yên
Châu
Mai
Sơn
Sông
Mã
Sốp
Cộp
Biểu đồ 2: Diện tích, năng suất sản lượng rau tỉnh Sơn la năm 2010
Thực trạng sản xuất rau các huyện tỉnh Sơn La
Bảng 5. Quy mô diện tích rau các loại phân theo huyện
(giai đoạn 2005-2010 )
Đơn vị tính: Ha
TT
Hạng Mục
2
Huyện Mai Sơn
569
594
0,9
3
Huyện Yên Châu
290
453
9,3
4
Huyện Mộc Châu
373
1034
22,6
126,2
145,1
2,8
1
TP Sơn La
143,8
120,0
-3,5
2
Huyện Mai Sơn
115,8
80,1
-7,1
3
Huyện Yên Châu
cao hơn năng suất bình quân chung của tỉnh 7 tạ/ha (năm 2010 năng suất toàn tỉnh
đạt 138 tạ/ha). Huyện có năng suất khá như Mộc Châu (184,3 tạ/ha), Yên Châu
(177,6 ha). Nguyên nhân năng suất rau trung bình tăng trong giai đoạn 2005 – 2010
chủ yếu do thâm canh, áp dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác,... cộng
với kinh nghiệm của nông dân đã được tích luỹ những kiến thức trong sản xuất.
- Sản lượng rau các loại năm 2005 là 25,9 nghìn tấn; năm 2010 là 45,3 nghìn
tấn, đạt tốc độ tăng trưởng 11,8%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010.
Sản xuất rau vùng dự án ở Sơn La đã từng bước hình thành một số vùng sản
xuất rau chuyên canh có quy mô tương đối lớn gần các đô thị, thành phố, thị trấn,
khu công nghiệp tập trung như ở Chiềng Cơi, Chiềng An, Chiềng Sinh,….(TP Sơn
La), Chiềng Pằn, Chiềng Đông (Huyện Yên Châu), Thị trấn Nông Trường Mộc
Châu, xã Mường Sang, Đông Sang, Chiềng Hắc, Phiềng Luông, Vân Hồ.....
Các vùng chuyên canh này sản xuất rau hàng hoá cung cấp cho thị trường
trong tỉnh nhưng chủ yếu cung cấp cho TP Sơn La, các thị trấn huyện lỵ lân cận.
Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hoàn toàn theo cơ chế thị trường. Do cơ cấu,
chủng loại rau và mùa vụ chưa hợp lý, nên vẫn xảy ra hiện tượng thiếu rau trong thời
kỳ giáp vụ.
Bảng 7. Sản lượng rau các loại phân theo huyện (giai đoạn 2005-2010 )
Đơn vị tính: Tấn
TT
Tăng BQ
Hạng Mục
2005
2010
Huyện Yên Châu
5071
8045
9,7
4
Huyện Mộc Châu
5463
19057
28,4
5
Huyện Phù Yên
4.324
6.659
9,0
(%)
Vụ Mùa
2005
2010
2005
2010
1
TP Sơn La
63,4
68,5
36,6
31,5
2
Mộc Châu
80,7
79,4
Phù Yên
84,0
83,5
16,0
16,5
Tổng cộng
58,2
59,6
41,8
40,4
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Sơn La
Cơ cấu mùa vụ năm 2005
58,2
41,8
Trên địa bàn vùng dự án, ở một số vùng chuyên canh đã hình thành nhiều mô
hình sản xuất rau, hoặc luân canh rau với cây trồng khác mang lại thu nhập rất cao.
Nhiều mô hình đã được ứng dụng sản xuất trong nhiều năm, đã khẳng định được
tính bền vững và đã phát triển trên quy mô tương đối lớn. Có thể kể ra một vài mô
hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao, có thể nhân rộng là:
(1). Trên đất chuyên rau, màu:
- Công thức chuyên rau su su – cải mèo ở Vân Hồ – Mộc Châu, tỏi ở Chiềng
Đông – Yên Châu có tổng thu trên 90 - 110 triệu đồng/ha, trừ chi phí còn thu nhập
thuần đạt trên 60 - 70 triệu đồng/ha/năm
- Công thức Bí xanh - Bí đỏ - Rau cải - súp lơ (bắp cải, su hào…): công thức
này được trồng phổ biến ở các huyện Phù Yên; có tổng thu trung bình 100 triệu
đồng/ha/năm; trừ đi chi phí còn thu nhập thuần trên 70-80 triệu đồng/ha/năm.
- Công thức cải xanh - cà chua - đậu đũa – cải mèo được trồng ở các huyện
Mộc Châu, Yên Châu. có tổng thu trên 120 triệu đồng/ha, trừ chi phí còn thu nhập
thuần đạt trên 80-100 triệu đồng/ha/năm
(2). Trồng rau trên đất lúa
- Mô hình : lúa Mùa - cà chua – Bí xanh.
- Mô hình: cà chua - lúa Mùa – dưa chuột.
- Mô hình: lúa Xuân – Bí đỏ (bí xanh) - 2 vụ rau cải
- Mô hình: Tỏi - lúa Mùa - dưa chuột - bắp cải
- Mô hình: Tỏi – Ngô hè thu – rau đông
- Mô hình: Rau (vụ Xuân) - lúa Mùa - rau các loại (vụ Đông) .... mô hình này
là mô hình phổ biến trên địa bàn Sơn La. Vụ Đông được trồng các loại rau tuỳ theo
tập quán, thị hiếu thị trường. Số lứa rau tuỳ loại cây và tuỳ thuộc vào trình độ thâm
canh của từng vùng, từng hộ gia đình.
Công tác bảo quản, chế biến rau
Công tác bảo quản sau thu hoạch chưa phát triển. Hầu hết rau của Sơn La sau
khi thu hoạch được mang thẳng ra thị trường tiêu thụ. Sau khi thu hoạch rau không
gấp 2 lần so với sản xuất rau thông thường.
Thực hiện biện pháp áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn
- Về các quy trình sản xuất rau an toàn
Cho đến nay; Bộ Nông nghiệp & PTNT đã ban hành 7 quy trình sản xuất
RAT đối với cải bắp, dưa chuột, đậu cô-ve, cà chua, đậu đũa, ngô rau; 01 Quy trình
quản lý dịch hại tổng hợp trong sản xuất rau họ hoa thập tự an toàn và 01 Tiêu
chuẩn về sản xuất Nông nghiêp hữu cơ và chế biến. VietGAP “Thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt” cho rau quả tươi an toàn tại Việt Nam đã được ban hành theo
Quyết định số 379/QĐ-BNN-KNCN ngày 28/1/2008.
- Thực hiện áp dụng quy trình sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh
- Quy trình sản xuất truyền thống, chưa có nhiều hộ gia đình sử dụng phương pháp
phòng trừ tổng hợp IPM trong sản xuất.
+ Phân bón không đảm bảo an toàn : Nhiều hộ gia đình vẫn sử dụng phân
chuồng tươi, chưa qua ủ hoai mục; bón không cân đối và bón nhiều các loại phân
hoá học, nhất là phân Ure …
+ Còn lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, chưa đủ thời gian cách ly.
- Người sản xuất còn chưa quan tâm nhiều đến việc giữ gìn đảm bảo chất lượng
nguồn nước. Qua khảo sát ở một số vùng người dân đổ bừa bãi rác, chất thải xung
quanh hồ chứa nước, đồng thời dùng ngay nước trong hồ chứa làm nước rửa rau,…
dẫn đến chất lượng nước bị ảnh hưởng.
- Việc thu gom các vỏ bao bì đựng thuốc BVTV cũng chưa được người dân thực
hiện nghiêm túc, ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh.
Để chuyển sang sản xuất rau an toàn nông dân cần phải thực hiện đầu đủ quy trình
sản xuất rau an toàn. Từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho quy trình sản
xuất và tiến tới sản xuất theo công nghệ tiên tiến hiện đại nhằm cung cấp cho xã hội
sản phẩm rau an toàn, hạ giá thành, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng cả về chất lượng và thị hiếu.
Các hình thức tổ chức sản xuất.
- Hình thức hợp tác xã, doanh nghiệp
Về cơ bản việc sản xuất vẫn do hộ nông dân thực hiện, song việc tiêu thụ do
hợp tác xã ký hợp đồng với phía thu mua và với tư cách đại diện hộ sản xuất thoả
thuận về chất lượng, giá cả và thời gian giao nộp sản phẩm. Các loại rau sau khi thu
hoạch thường được xử lý sơ chế ở mức độ cao hơn so với quy mô hộ. Hiện nay ở
Mộc Châu có một số doanh nghiệp hợp đồng mua rau (đặc biệt rau trái vụ), về tiêu
thụ ở các cửa hàng rau sạch ở Hà Nội, như hệ thống cửa hàng của F-Mart của Công
ty Cổ phần công nghệ FDC tại 5 siêu thị: Linh Đàm, Định Công, Trung Hòa – Nhân
Chính, Mỹ Đình. Hình thức này có nhiều ưu điểm hơn vì giữa người sản xuất với
HTX đã liên kết với nhau thông qua hình thức hợp đồng sản xuất.
HTX, Doanh
nghiệp
Người
sản
xuất
Siêu thị
Bán buôn tại
chợ đầu mối
Người
thu gom
Người
bán lẻ
Người bán
VIETGAP: Năm 2012 dự kiến xây dựng mô hình rau tập trung tại Lóng Luông Mộc Châu diện tích khoảng 10 ha với cây trồng chủ yếu là su su và cải mèo...
* ĐÁNH GIÁ CHUNG
- Tuy diện tích, sản lượng rau của tỉnh thời gian qua có tăng nhưng năng
suất, chất lượng rau còn thấp, diện tích manh mún, tự phát, chủng loại không ổn
định.
Những giống rau thực phẩm có năng suất chất lượng cao chưa nhiều, quy trình canh
tác chưa hợp lí, năng suất thấp, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao.
Công tác phát triển rau thực phẩm mới quan tâm chủ yếu đến năng suất và sản
lượng, chưa có nhiều thông tin về các yêu cầu của thị trường tiêu thụ và vệ sinh an
toàn thực phẩm.
- Trong bảo quản chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Trên địa bàn chưa có 1 cơ sở chế biến rau quả tại Mộc Châu. Việc hình thành mạng
lưới tiêu thụ rau quả thực phẩm tươi trong tỉnh còn mang tính tự phát, chưa có quy
hoạch, hệ thống vận chuyển xử lí, phân loại, đóng gói, tiêu thụ và tiếp thị mở rộng
thị trường còn lúng túng.
Việc kiểm tra, kiểm định chất lượng vệ sinh an toàn rau quả chưa hình thành
hệ thống, còn thiếu thể chế và cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị hiện đại về giám
định chất lượng và cán bộ có chuyên môn có trình độ.
Công nghệ bảo quản, an toàn như sử dụng ôzôn, các chế phẩm sinh học, bảo quản
trong kho lạnh chưa được phổ biến rộng, chưa hình thành hệ thống từ khâu thu hái
đến các điểm bán lẻ.
- Về cơ chế chính sách và tổ chức điều hành
Việc thực hiện Quyết định 80/CP về khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp
đồng còn nhiều bất cập. Liên kết 4 nhà trong ngành rau quả còn lỏng lẻo, chưa có sự
ràng buộc một cách thích hợp lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân.
Sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương, giữa địa phương với doanh nghiệp
chưa nhịp nhàng trong qui hoạch phát triển nguyên liệu rau và chế biến.
Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng còn thiếu. Ngân sách của tỉnh còn hạn chế không đủ hỗ trợ
Năm
Năm
Năm
2005
1.
Diện
tích 29.378
2006
2007
2008
2009
2010
35.197
35.055
39.789
10.515
14.406
12.500
USD)
Nguồn: Niên giám thống kê Lâm Đồng 2006-2010 và ước thực hiện kế hoạch 2010
của Ngành NN&PTNT.
Lâm Đồng là một tỉnh có những vùng chuyên canh rau rất đặc thù so với cả
nước. Diện tích rau ở Lâm Đồng ngày càng được mở rộng, đặc biệt ở các huyện phụ
cận thành phố Đà Lạt (Bảng 2, bẳng 3). Hiện nay có hơn 20 chủng loại rau cao cấp
khác nhau được trồng ở Lâm Đồng mà hầu hết được nhập nội từ: Mỹ, Nhật, Pháp.
Sự đa dạng, chuyên canh hoá cây trồng cùng với việc sử dụng thuốc hoá học với
lượng cao làm cho thành phần dịch hại rau cũng đa dạng hơn, hàng năm thường
phát sinh gây thiệt hại lớn cho nông dân.
Do có đất đai và khí hậu thích hợp nên quanh năm có thể trồng nhiều chủng
loại rau cao cấp phục vụ cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Thị trường
trong nước tiêu thụ rau của Lâm Đồng chủ yếu là Tp Hồ Chí Minh chiếm khoảng
60-70%, các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ chiếm 30-40%. Thị trường xuất khẩu
chủ yếu là các nước: Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan,…hàng năm đạt
8.042 – 15.240 tấn.
Bảng 10: Diện tích rau các loại phân theo huyện, thị xã, thành phố của tỉnh
Lâm Đồng qua các năm
Địa danh
2000
2005
37
42
42
45
49
3. Huyện Đam Rông
-
104
110
141
142
4. Huyện Lạc Dương
321
863
2.103
7. Huyện Đức Trọng
3.666
7.865
9.403
9.849
10.224
8. Huyện Di Linh
60
130
135
137
168
9. Huyện Bảo Lâm
54
459
12. Huyện Cát Tiên
122
265
276
234
332
Nguồn: Cục thống kê Lâm Đồng
Bảng 11: Sản lượng rau các loại phân theo huyện, thị xã, thành phố của tỉnh
Lâm Đồng qua các năm
Địa danh
2000
Tổng số
2005
2006
2007
2008
4. Huyện Lạc Dương
3.873
17.154
44.599
45.217
60.724
5. Huyện Lâm Hà
5.863
7.277
8.901
10.380
11.746
6. Huyện Đơn Dương
171.488 298.404 355.750 368.928 508.167
7. Huyện Đức Trọng
664
691
2.248
2.124
2.818
11. Huyện Đạ Tẻh
1.618
6.889
6.398
7.242
11.610
12. Huyện Cát Tiên
874
2.152
2.015
1.296.424
Cà chua
5.000
70
350.000