MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU……………………………………………………………..
1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP
ĐỐI KHÁNG……………………………………................................
4
1.1 . TRỢ CẤP ………………………………………………………………
4
1.1.1. Khái niệm ……………………………………………………….........
4
1.1.2. Phân loại trợ cấp ……………………………………………………..
6
1.1.3. Các hình thức trợ cấp trong thương mại quốc tế ……………………..
16
Chương 2: HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP, CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI
KHÁNG CỦA WTO VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC….
31
2.1. HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA WTO
31
2.1.1. Tổng quan chung về Hiệp định SCM ………………………………...
31
2.1.2. Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp đối kháng ……….……………
33
2.1.3. Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các Thành viên………………
45
2.2. PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CỦA
MỘT SỐ NƯỚC ………………………………………..………………
50
2.2.1. Khái niệm trợ cấp của một số nước……………………………………
50
3.1.3. Trợ cấp ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO ………………………….
81
3.2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG
Ở VIỆT NAM…………………………………………………………..
85
3.2.1. Tổng quan về tình hình áp dụng biện pháp đối kháng ở Việt Nam…...
85
3.2.2. Một số quy định của pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp ……….....
87
3.2.3. Vụ kiện chống trợ cấp của Việt Nam …………………………………
94
3.2.4. Kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam………………………..
98
3.3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRỢ CẤP ………….....
104
Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc
giải quyết tranh chấp
EC
Ủy Ban Châu Âu
EU
Liên minh Châu Âu
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
ITC
Ủy ban Thương mại quốc tế của Hoa Kỳ
MOFTEC
Bộ Ngoại thương và hợp tác kinh tế Trung Quốc
SCM
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
SETC
Ủy ban Kinh tế và Thương mại nhà nước Trung Quốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các
thách thức to lớn cho các quốc gia. Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
trên thị trường thế giới và ngay chính trên thị trường nội địa, các quốc gia đã
tăng cường sử dụng các công cụ bảo hộ ngày càng tinh vi thông qua các biện
pháp bảo đảm công bằng thương mại của WTO, trong đó có trợ cấp và các
biện pháp đối kháng. Vì vậy, xu hướng quốc tế cho thấy các vụ kiện chống trợ
cấp ngày càng gia tăng.
Từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tận dụng được nhiều cơ hội để
phát triển, tuy nhiên cũng đang gặp phải rất nhiều thách thức. Từ năm 2009,
Việt Nam phải đối phó với 4 vụ kiện chống trợ cấp liên tiếp của Hoa Kỳ đối
với mặt hàng túi nhựa PE, ống thép, mắc áo thép và tuabin điện gió. Kết quả
bước đầu của các vụ kiện này đều gây bất lợi cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Mặt khác, Việt Nam đã có Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên
cho đến nay, mặc dù thực tế có một số mặt hàng nước ngoài có khả năng
được trợ cấp, gây bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước, nhưng Việt Nam
chưa khởi xướng một vụ đối kháng nào.
Như vậy, hiểu như thế nào cho đúng về trợ cấp và biện pháp đối
kháng? Cơ chế điều chỉnh của WTO như thế nào? Pháp luật của các nước và
của Việt Nam quy định ra sao? Thực tiễn trợ cấp và chống trợ cấp trên thế
giới và ở Việt Nam? Kinh nghiệm gì cho Việt Nam để hoàn hiện chính sách
trợ cấp, chống trợ cấp nhằm tăng cường xuất khẩu và bảo vệ nền sản xuất
trong nước? Các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để phòng chống một vụ
kiện đối kháng?...
1
chúng. Ngoài ra, luận văn tìm hiểu các quy định cơ bản của Hiệp định trợ cấp
và biện pháp đối kháng của WTO (Hiệp định SCM) về các loại trợ cấp, chế
tài tương ứng, thủ tục điều tra và áp dụng thuế chống trợ cấp, quy định đối xử
đặc biệt và khác biệt với các Thành viên đang phát triển, Thành viên có nền
kinh tế chuyển đổi. Luận văn cũng tìm hiểu sự khác nhau của pháp luật một
số nước về trợ cấp và biện pháp đối kháng, trên cơ sở so sánh một số tiêu chí
nhất định như khái niệm trợ cấp, xác định thiệt hại và thủ tục chống trợ cấp…
Về thực tiễn: luận văn tìm hiểu thực tiễn về trợ cấp và biện pháp đối
kháng trên thế giới và của Việt Nam, rà soát các quy định của Việt Nam với
các quy định của WTO. Luận văn đưa ra những luận giải để chứng minh cần
sửa đổi và hoàn thiện pháp luật chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt
Nam.Theo đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm áp dụng hiệu quả các
biện pháp trợ cấp và chống trợ cấp.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Chương 2: Hiệp định về trợ cấp, các biện pháp đối kháng của WTO và
thực tiễn pháp luật ở một số nước
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ cấp và
biện pháp đối kháng ở Việt Nam
3
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN
PHÁP ĐỐI KHÁNG
1.1. TRỢ CẤP
1.1.1. Khái niệm
Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng hầu hết ở các nước để
phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay)
- Các khoản thu phải nộp cho Chính phủ đã được bỏ qua hay không thu
(ví dụ: ưu đãi tài chính như miễn thuế)
- Chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở
chung, hoặc mua hàng
- Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một
tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu trên, là những chức
năng thông thường được trao cho Chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân
này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thường của Chính
phủ.
- Bất kỳ một hình thức thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều
XVI của Hiệp định GATT 1994.
(2). Do Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một
thành viên thực hiện.
Hiệp định SCM không chỉ áp dụng với các cơ quan công quyền Trung
ương mà cả chính quyền địa phương cũng như các biện pháp do một tổ chức
nhà nước công, như công ty thuộc sở hữu nhà nước tiến hành. Trợ cấp có thể
do các cơ quan này trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác hoặc có thể chỉ đạo cho
một đơn vị khác thực hiện. Ví dụ: Nếu một tổ chức phi Chính phủ tư hỗ trợ tài
chính cho một doanh nghiệp thì đây chỉ là trợ giúp tư nhân, không được coi là
trợ cấp, trừ khi có sự chỉ đạo của một Chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước
công.
5
(3). Đem lại lợi ích cho đối tượng được áp dụng.
Mặc dù Hiệp định SCM không định nghĩa khái niệm lợi ích nhưng theo
nội dung của Điều 14, sự tồn tại của lợi ích có thể được đánh giá bằng cách
tham chiếu đến các tiêu chí thương mại thông thường trên thị trường. Chẳng
Trợ cấp riêng theo luật là trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp có quy định rõ
trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng
nhất định được hưởng. Trợ cấp riêng trên thực tế là trợ cấp mà mặc dù cơ
quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc trợ cấp) không đặt ra
điều kiện nào về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng
chương trình trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối
tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ích hơn một cách đáng kể
so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp. Ví dụ: trợ cấp cho một
vùng nhất định tuy có mục đích là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là
chỉ trợ cấp cho các nhà xuất khẩu tại vùng đó.
1.1.2.2. Trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp
Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia thành trợ cấp nông nghiệp
và trợ cấp phi nông nghiệp.
Trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và
cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu
giống cây, giống con; trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp…
Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và
cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi
cho các sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa.
Ngoài ra, còn có các trợ cấp cho các hoạt động dịch vụ.
1.1.2.3. Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: trợ cấp
trong nước và trợ cấp xuất khẩu.
7
Trợ cấp trong nước là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh
nghiệp sản xuất hàng hóa trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường
trong nước, hay nói cách khác, hàng hóa được trợ cấp phải là hàng hóa được
Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 loại dựa trên mức độ ảnh hưởng
đến thương mại của chúng.
Thứ nhất, là những loại trợ cấp bị cấm sử dụng (trợ cấp đèn đỏ).
Trợ cấp bị cấm áp dụng (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và
trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu. Hai
dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh
hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác.
Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần, dù
theo luật hay trên thực tế dựa vào việc thực hiện hoạt động xuất khẩu. Trợ cấp
xuất khẩu được thể hiện trong các phương diện sau (được quy định trong phụ
lục 1 của Hiệp định SCM):
- Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một công ty hay một ngành sản xuất
trong nước tính theo kết quả xuất khẩu
- Các biện pháp giữ lại ngoại tệ hoặc các biện pháp tương tự để thưởng
khuyến khích xuất khẩu
- Chính phủ cung cấp những điều kiện ưu đãi hơn trong vận chuyển và
cước phí vận chuyển hàng xuất khẩu so với hàng trong nước.
- Chính phủ hoặc các cơ quan của chính phủ cung cấp những điều kiện
ưu đãi hơn cho hàng hoá hoặc dịch vụ trong nước nhằm phục vụ cho việc sản
xuất hàng xuất khẩu so với những điều kiện dành cho những sản phẩm cùng
loại hoặc có tính cạnh tranh trực tiếp được tiêu thụ trong nước, nếu những
điều kiện đó thuận lợi hơn điều kiện thương mại thông thường sẵn có trên thị
trường thế giới dành cho nhà xuất khẩu của Thành viên.
9
- Miễn hay tạm ngừng thu toàn bộ hay một phần các khoản thuế trực
thu hay các khoản đóng góp cho phúc lợi xã hội mà các khoản đóng góp này
chỉ áp dụng cho xuất khẩu.
trả nếu vay trên thị trường vốn quốc tế để có được tiền với cùng thời hạn và
các điều kiện tín dụng , và được tính bằng cùng một đồng tiền của tín dụng
xuất khẩu), hoặc các cợ sở đó trả cho toàn bộ hay một phần chi phí phát sinh
với nhà sản xuất hay với cơ quan tài chính để có được tín dụng, trong chừng
mực các khoản tín dụng đó được sử dụng để bảo đảm dành cho nhà xuất khẩu
những lợi thế đáng kể trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu.
- Bất kỳ khoản thu nào từ ngân sách được coi là sự trợ cấp theo quy
định của Điều 16 GATT 1994.
Trợ cấp thay thế nhập khẩu là những khoản trợ cấp gắn với điều kiện
phải sử dụng hàng sản xuất trong nước thay cho hàng nhập khẩu - được quy
định trong các văn bản pháp luật hoặc tồn tại trên thực tế. Điều 3.1(b) của
Hiệp định SCM cấm sử dụng các trợ cấp gắn với yêu cầu về hàm lượng nội
địa, đúng với tinh thần của Điều III GATT 1994 về nguyên tắc đối xử quốc
gia. Mặc dù Điều III.8(b) GATT 1994 nêu rõ việc chỉ dành trợ cấp cho các
nhà sản xuất trong nước không vi phạm yêu cầu về đối xử quốc gia của Điều
III nhưng nếu việc dành trợ cấp lại gắn với yêu cầu sử dụng hàng nội đia thay
thế hàng nhập khẩu thì trợ cấp đó lại vi phạm yêu cầu đối xử quốc gia. Hiệp
định TRIMS của WTO cũng cấm sử dụng một loạt biện pháp gắn với yêu cầu
về kết quả hoạt động xuất khẩu cũng như gắn với yêu cầu về hàm lượng nội
địa. Ví dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất
trong nước chiếm ít nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế.
Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị
cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù đắp lại việc
công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mỳ trong nước với giá cao hơn thông
thường để sản xuất bột mỳ. Những trợ cấp này dành cho hàng thay thế nhập
11
khẩu và hàng xuất khẩu chắc chắn sẽ dẫn đến việc bóp méo giá cả hàng xuất
xuất: Gây ra những thiệt hại về công nghệ hoặc những đe doạ đối với sản
xuất của các bên ký kết khác; Gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích
của các bên ký kết khác; Làm mất đi hoặc làm thiệt hại những lợi ích của bên
ký kết khác có được từ Hiệp định GATT và Hiệp định về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng.
Đối với các thành viên của WTO là các nước chậm phát triển thì sẽ
không áp dụng các quy định nói trên hay nói cách khác là được sử dụng các
loại trợ cấp nói trên.
Thứ ba, là những biện pháp trợ cấp không bị khởi kiện (trợ cấp đèn
xanh)
Đây là những trợ cấp không gây ra thiệt hại kinh tế cho các nước khác,
hơn nữa chúng được áp dụng phổ biến, có tính tất yếu đối với sự phát triển
kinh tế của một nước. Các loại trợ cấp này không thể bị khiếu kiện ra cơ quan
giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp. Trợ cấp dạng
này gồm các trợ cấp không riêng biệt theo cách hiểu của Điều 2 và các trợ cấp
thỏa mãn một số điều kiện và tiêu chí nhất định.
Chương trình hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động nghiên cứu và phát
triển tiền cạnh tranh. Theo quy định tại Điều 8.2 (a) Hiệp đinh SCM, trợ cấp
của chính phủ đối với hoạt động nghiên cứu do các doanh nghiệp thực hiện
hoặc các cơ sở đào tạo hoặc nghiên cứu căn cứ vào hợp đồng với các doanh
nghiệp là trợ cấp không bị khiếu kiện nếu sự trợ giúp:
- Chiếm không quá 75% tổng chi phí hợp lệ của hoạt động nghiên cứu
hoặc không quá 50% chi phí hợp lệ của hoạt động phát triển trong giai đoạn
trước cạnh tranh, đối với toàn bộ thời gian của một dự án, hoặc mức trung
bình của hai mức trên -62,5%- dành cho các chương trình nghiên cứu liên
quan đến hai danh mục đó; và
13
nghiệp chiếm ít nhất 110% so với mức trung bình toàn quốc và được tính
trong từng giai đoạn 5 năm.
Ví dụ, các doanh nghệp muốn đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất một
sản phẩm X nào đó ở TP.Hồ Chí Minh hoặc ở Bình Dương hay Đồng Nai.
Mục đích của các doanh nghiệp là sản xuất sản phẩm X để cung cấp cho cả
thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong khi đó Chính phủ Việt Nam muốn
nhà máy được đặt ở Miền Trung hay ở Tây Nguyên để có thể phát triển kinh
tế ở các vùng đó. Chính phủ sẵn sàng trả cho doanh nghiệp một khoản trợ cấp
tương đương với chi phí gia tăng vì phải đặt nhà máy ở miền Trung hay Tây
Nguyên thay vì tại TP.Hồ Chí Minh hay ở Bình Dương, Đồng Nai. Trong
trường hợp này khoản trợ cấp nói trên có thể làm biến dạng hoạt động kinh tế
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, và trong một chừng mực nào đó làm giảm
bớt phúc lợi xã hội chung của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên có thể lập luận
rằng, sẽ không có sự thay đổi nào về số lượng sản phẩm X được xuất khẩu và
vì vậy khoản trợ cấp nói trên không gây ra sự biến dạng thị trường ngoài lãnh
thổ Viêt Nam. Trong trường hợp này cộng đồng quốc tế không có lý do gì để
lo ngại về hành động trợ cấp khu vực này.
Hỗ trợ của nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp đáp ứng những yêu
cầu mới về môi trường. Sự trợ giúp của chính phủ cũng có thể được coi là
được phép nếu nó thúc đẩy các cơ sở đang hoạt động trong thời gian ít nhất là
hai năm thích nghi với các quy định mới vè môi trường được áp dụng theo
quy định của pháp luật. Để có thể được cho phép, các điều kiện mới phải đặt
ra nhiều hạn chế hơn và trách nhiệm tài chính nặng hơn cho các doanh
nghiệp. Ngoài ra, trợ cấp phải:
- Là biện pháp được áp dụng một lần và không lặp lại sau đó;
- Được giới hạn ở mức 20% của chi phí thích nghi;
15
nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ít
nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế.
Bù lỗ xuất khẩu là việc Chính phủ chi một số tiền đủ để đảm bảo khỏi
lỗ và một khoản lãi thích đáng cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng bị lỗ.
Ưu đãi tín dụng là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà xuất khẩu
nước sở tại đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đồng thời giúp đỡ
các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ điều kiện về tài chính để mua hàng hóa
của nước đó. Các hình thức này có thể là: vay phát triển trung và dài hạn với
lãi suất ưu đãi; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư; vay lại các
dự án đầu tư sử dụng vốn ODA; tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu.
Ưu đãi thuế là việc Chính phủ miễn hoặc giảm thuế cho các doanh
nghiệp, như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế sử dụng đất…
Trợ cấp sản xuất là việc Chính phủ trợ cấp cho doanh nghiệp sản xuất
hàng hóa, có thể là: cho phép sử dụng mặt bằng và điện năng trong các khu
chế xuất, hỗ trợ trong nghiên cứu, khai thác, các khuyến khích về tài chính
như miễn hoặc giảm thuế lợi tức… Trợ cấp sản xuất có tác dụng hỗ trợ việc
tiêu thụ sản phẩm trong nước và còn hỗ trợ cho việc xuất khẩu hàng hoá.
Ưu đãi đầu tư gồm các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
nhập khẩu, thuế đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước khi doanh nghiệp đầu tư vào
các ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn được Chính phủ ưu đãi đầu tư.
Các hình thức trợ cấp khác
Trong thương mại quốc tế, các hình thức trợ cấp được các Chính phủ
sử dụng rất đa dạng: cấp lại tiền sử dụng vồn để tái đầu tư, hỗ trợ kinh phí để
xúc tiến thương mại, nghiên cứu khoa học.
17
với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn yếu kém về năng lực
cạnh tranh thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần khởi
động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành. Đối với những công ty mới gia
nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chi phí trong thời gian đầu, khó cạnh
tranh nổi với những công ty đã trụ vững trên thị trường thì hỗ trợ của Chính
phủ có thể bù đắp cho những khoản thua lỗ phát sinh trong những năm đầu,
đưa công ty vào quỹ đạo phát triển ổn định.
Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu
được trợ cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác
vào thị trường thứ ba và ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị
trường này
- Trợ cấp có tác động tích cực dây truyền:
Nếu Chính phủ chọn đúng ngành cần được trợ cấp, theo nguyên lý hiệu
ứng lan truyền tích cực, trợ cấp sẽ có khả năng tạo ra hiệu ứng tích cực theo
dây chuyền. Chẳng hạn khi Chính phủ trợ cấp cho ngành xi măng thì các
ngành xây dựng cơ sở hạ tầng cũng có điều kiện phát triển. Như vậy, lợi ích
của trợ cấp có thể lan rộng sang các ngành khác ngoài ngành được trợ cấp.
- Tác động tới người tiêu dùng hay các ngành công nghiệp hạ nguồn
Ngành công nghiệp hạ nguồn là những ngành sử dụng hàng hóa làm
đầu vào trong quá trình sản xuất. Người tiêu dùng hay các ngành công nghiệp
hạ nguồn ở nước nhập khẩu sản phẩm được trợ cấp sẽ có lợi do mua được
hàng hóa cần thiết với giá rẻ hơn.
1.1.4.2 Tác động tiêu cực
- Xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, trợ cấp ngăn cản sự phân bổ
tối ưu hiệu quả các nguồn lực quốc gia.
Trợ cấp cho một hoặc một số ngành nhất định sẽ hạn chế khả năng
được hỗ trợ của các ngành, đối tượng khác vì ngân sách nhà nước có giới hạn.
19
20
giảm sản lượng, doanh số bán, lợi nhuận, năng suất, tỷ suất thu hồi vốn đầu
tư, sự thu hẹp thị phần, hay giảm khai thác sử dụng công suất, giảm luồng tiền
mặt, lưu kho, công ăn việc làm, lương bổng, tốc độ tăng trưởng, khả năng thu
hút vốn, v.v... Đối với những ngành tuy chưa thực sự đi vào sản xuất hàng
hóa tương tự với hàng nhập khẩu được trợ cấp nhưng Chính phủ đã có kế
hoạch phát triển ngành thì trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài khiến cho ngành
đó gặp quá nhiều trở ngại, bị trì hoãn, thậm chí không thể xuất hiện.
- Người tiêu dùng trong nước phải chấp nhận mua hàng hóa được trợ
cấp tại nội địa với giá cao và lượng hàng hóa tiêu thụ ở trong nước cũng
giảm sút.
1.2. BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG
1.2.1. Các biện pháp đối kháng
1.2.1.1. Biện pháp đối kháng
Khi phát hiện có trợ cấp và thiệt hại xảy ra, Chính phủ nước nhập khẩu
có thể áp dụng các biện pháp đối kháng như đưa ra một cơ quan giải quyết
tranh chấp quốc tế hoặc tiến hành điều tra đánh thuế chống trợ cấp với hàng
nhập khẩu được trợ cấp. Kết quả của việc điều tra có thể đi đến quyết định:
đánh thuế chống trợ cấp nếu các điều kiện và thủ tục quy định được đáp ứng;
không đánh thuế chống trợ cấp trong trường hợp không hội đủ các điều kiện;
hoặc nước nhập khẩu chấp nhận các cam kết tự nguyện do nhà xuất khẩu
nước ngoài hoặc chính quyền nước xuất khẩu đưa ra (chẳng hạn như Chính
phủ nước xuất khẩu đồng ý loại bỏ trợ cấp hoặc tiến hành các biện pháp khác
để loại bỏ ảnh hưởng bất lợi của trợ cấp hay nhà xuất khẩu đồng ý điều chỉnh
lại giá hàng ở mức phù hợp).
Như vậy, biện pháp đối kháng (hay còn gọi là biện pháp chống trợ cấp)
là những biện pháp của một nước có thể áp dụng khi có cơ sở cho rằng hàng
22