Bảo hiểm xã hội của Nhật Bản và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế chính trị: 60 31 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ HẠNH

BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA NHẬT BẢN
VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ HẠNH

BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA NHẬT BẢN
VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP

Hà Nội – 2014


CHƢƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ
HỘI Ở NHẬT BẢN HIỆN NAY .................................................................. 34
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của BHXH Nhật Bản ..................... 34
2.2. Các chế độ cơ bản của bảo hiểm xã hội Nhật Bản ............................... 36
2.2.1. Chế độ hưu trí ................................................................................. 36
2.2.2. Chế độ bảo hiểm việc làm ............................................................... 40
2.2.3. Chế độ bảo hiểm y tế....................................................................... 43
2.2.4. Chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu dài ................................................. 46
2.3. Những vấn đề tồn tại và xu hướng cải cách trong thực hiện các chế độ
bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản hiện nay .......................................................... 48


2.3.1 Trong thực hiện chế độ hưu trí ........................................................ 48
2.3.2. Trong thực hiện chế độ bảo hiểm việc làm ..................................... 53
2.3.3. Trong thực hiện chế độ bảo hiểm y tế............................................. 60
2.3.4. Trong thực hiện chế độ bảo hiểm chăm sóc lâu dài ....................... 62
2.4. Một số nhận xét về các chế độ BHXH của Nhật Bản..........................65
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH CHO BẢO HIỂM XÃ
HỘI VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN ................................. 68
3.1. Một vài nét về thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt
Nam hiện nay ............................................................................................... 68
3.1.1. Những thành tựu đạt được của BHXH Việt Nam .......................... 68
3.1.2. Những tồn tại và hạn chế ................................................................ 71
3.1.3. Những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam hiện nay ................. 72
3.2. Sự tương đồng và khác biệt giữa BHXH Việt Nam với BHXH Nhật
Bản......................................................................................................76
3.3. Một số kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc xây dựng và thực hiện
các chế độ BHXH................................................................................77
3.4. Một số gợi ý về chính sách để hoàn thiện các chế độ BHXH cơ bản của
Việt Nam ...................................................................................................... 80

Nhật Bản được đánh giá là một cường quốc về kinh tế kể từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai, là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ,
có nền kinh tế đứng thứ ba toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa chỉ sau
Hoa Kỳ và Trung Quốc. Với tiềm lực kinh tế đó, Nhật Bản có điều kiện phát
triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện với mức độ bao phủ rộng khắp đến các
thành viên trong xã hội. Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành
từ việc ban hành Quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1874, sau đó lần lượt
các luật liên quan đến vấn đề an sinh xã hội ra đời như: Luật Hưu trí, Luật
Bảo hiểm y tế, Luật Phúc lợi xã hội, Luật Vô gia cư…Hiện nay, hệ thống an
sinh xã hội ở Nhật Bản bao gồm các hệ thống cứu trợ xã hội nhằm bảo đảm
mức sống tối thiểu cho tất cả những người gặp khó khăn trong cuộc sống
1


bằng các hỗ trợ về chăm sóc y tế, chi phí giáo dục, nhà ở, đào tạo nghề,
xây dựng cơ sở phục hồi chức năng, ký túc xá cho người nghèo…; hệ
thống phúc lợi xã hội cung cấp cho những người người tàn tật, người già,
trẻ em…; bảo hiểm xã hội với hệ thống lương hưu công cộng đảm bảo an
ninh thu nhập cho người già; bảo hiểm y tế với hệ thống y tế công cộng
chăm sóc sức khỏe nhân dân và phòng bệnh vì mục tiêu sống khỏe mạnh
cho người dân Nhật Bản... Một thành công của Nhật Bản là đã xây dựng
và duy trì được mô hình hợp tác công tư trong thực hiện an sinh xã hội.
Trong đó, một phần chi tiêu cho an sinh xã hội lấy từ ngân sách nhà nước,
còn lại nguồn cung cấp chính là các công ty và tập đoàn kinh tế. Nhờ đó,
nguồn lực cho thực hiện an sinh xã hội ở Nhật Bản hết sức to lớn, tạo điều
kiện cho mở rộng mức độ bao phủ của lưới an sinh. Những thành tựu của
Nhật Bản trong lĩnh vực an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói
riêng đã cung cấp cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm quý báu đối với
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vậy hệ thống bảo hiểm
xã hội Nhật bản được thực hiện như thế nào? Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Việt Nam. Đề tài đã phân tích hệ thống phúc lợi của Nhật Bản và rút ra
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển các
chính sách phúc lợi xã hội.
Mới đây, một cuộc hội thảo với chủ đề “Bảo đảm an sinh xã hội – Kinh
nghiệm Nhật Bản” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) và Cơ quan
Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp tổ chức tại Hà Nội đã cung cấp
nhiều kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản trong thực hiện các chính sách bảo
hiểm xã hội làm cơ sở thực tiễn cho việc vận dụng vào Việt Nam.
Nhật Bản cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống
về an sinh xã hội của đất nước, điển hình là: Shuzo Nishimura (2011), “An
sinh xã hội ở Nhật Bản”, Viện Dân số và An sinh xã hội Nhật Bản; Toshiaki
Tachibanaki (2006), “Cải cách an sinh xã hội Nhật Bản trong thế kỷ 21”, Đại
học Kyoto. Tuy vậy, việc nghiên cứu một cách chuyên biệt về bảo hiểm xã
3


hội của Nhật Bản để làm cơ sở thực tiễn cho xây dựng và phát triển hệ thống
bảo hiểm xã hội ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề chưa được đề cập. Do vậy,
vẫn còn câu hỏi đặt ra đối với việc nghiên cứu vấn đề này, đó là:
Thứ nhất: Nhật Bản đã xây dựng và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội
như thế nào? Việc thực hiện các chế độ BHXH cơ bản của Nhật Bản có
những ưu, nhược điểm gì?
Thứ hai: Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm gì từ Nhật Bản trong
việc xây dựng hệ thống BHXH nói chung, và hoạch định chính sách đối với
từng chế độ BHXH nói riêng?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá hệ thống bảo hiểm xã hội Nhật Bản, chỉ rõ những
ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội của
Nhật Bản. Trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm có thể học tập trong xây

hiện chính sách bảo hiểm xã hội làm cơ sở cho sự vận dụng vào Việt Nam.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Quá trình nhận thức là quá trình
sử dụng kết hợp, xen kẽ giữa phân tích và tổng hợp. Phân tích cho ta nhận
thức cụ thể về các mặt riêng lẻ của vấn đề nghiên cứu. Tổng hợp cho ta nhận
thức về sự hoàn chỉnh, thống nhất của vấn đề trên cơ sở kết hợp một cách
biện chứng các kết quả nghiên cứu của phân tích. Đây cũng là một trong
những phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn. Trên cơ sở phân tích các
đặc điểm của hệ thống bảo hiểm xã hội Nhật Bản, luận văn tổng hợp các kết
quả nghiên cứu đó để đưa ra một số gợi ý về chính sách cho bảo hiểm xã hội
Việt Nam.
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê: luận văn sử dụng các
phương pháp của khoa học thống kê để phân tích các số liệu có được về việc
thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội của Nhật Bản.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các chế độ cơ bản của bảo
hiểm xã hội Nhật Bản giai đoạn 2000 – 2011.
5


- Chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa Bảo hiểm xã hội Việt
Nam và Bảo hiểm xã hội Nhật Bản.
- Đề xuất một số gợi ý về chính sách cho bảo hiểm xã hội Việt Nam từ
những kết quả nghiên cứu bảo hiểm xã hội Nhật Bản.
7. Bố cục luận văn
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội
Chƣơng 2. Hệ thống bảo hiểm xã hội Nhật Bản
Chƣơng 3. Một số gợi ý về chính sách cho bảo hiểm xã hội Việt Nam
từ kinh nghiệm Nhật Bản

6



nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật,
thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp
của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp
luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng
thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [17].
Theo Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam: “BHXH là sự đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp,
hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [16].
Như vậy, có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là phương pháp
san sẻ rủi ro được thực hiện thông qua việc tạo lập quỹ tài chính BHXH,
nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết.
1.1.1.2. Phân loại Bảo hiểm xã hội
BHXH là một vấn đề kinh tế xã hội tổng hợp có thể tiếp cận, nghiên
cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Từ đó có nhiều cách, nhiều tiêu chí phân loại,
tạo ra những kết quả phân loại khác nhau. Trong lý luận cũng như trong thực
tế, BHXH thường được phân loại theo các tiêu thức cơ bản sau:
Thứ nhất, phân loại theo loại hình BHXH của người tham gia BHXH.
Theo cách phân loại này, BHXH được chia thành hai loại: BHXH bắt buộc và
BHXH tự nguyện. Cách phân loại này nhằm xác định đối tượng tham gia và
điều kiện tổ chức, mở rộng các loại hình BHXH một cách hợp lý. Trong đó,
BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm mà người lao động, người sử dụng lao
động bắt buộc phải tham gia theo quy định của pháp luật. Loại BHXH này
được hình thành khi Nhà nước đã đứng ra lo liệu với tư cách là người tổ chức,
quản lý BHXH. Việc tổ chức BHXH bắt buộc chủ yếu để thực hiện mục đích
8



lao động. Từ đó, nhu cầu tham gia bảo hiểm của các đối tượng này cũng
không ổn định. Nếu không có các biện pháp quản lý hữu hiệu thì quỹ bảo
hiểm tự nguyện khó có điều kiện duy trì bền vững. Đối với những nước mà
khu vực phi chính thức và các lao động tự tạo việc làm chiếm tỉ trọng lớn thì
việc quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện cực kỳ khó khăn. Cơ
quan bảo hiểm thường ít có thông tin về các đối tượng này để kiểm soát thu
sao cho đủ và xác định căn cứ chi trả sao cho quỹ không bị lạm dụng.
Thứ hai, phân loại theo thời gian cân đối và hạch toán quỹ BHXH.
Theo cách này, BHXH được phân loại thành BHXH ngắn hạn và BHXH dài
hạn. Cách phân loại này chủ yếu giúp các tổ chức BHXH lựa chọn phương
thức quản lý quỹ BHXH cho cả hệ thống hay cho từng loại chế độ, thống kê
xác suất rủi ro trong phạm vi bao phủ của quỹ, làm cơ sở để xác định công
thức đóng hưởng và thời hạn chi trả bảo hiểm. Trong đó, BHXH ngắn hạn
thường dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH có thời hạn ngắn, trong khoảng
một năm, chủ yếu trên cơ sở tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia
bảo hiểm. Đối tượng hưởng BHXH ngắn hạn thường là những người lao động
trong độ tuổi lao động. Việc hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn chủ yếu là trợ
cấp một lần hoặc trong một thời gian ngắn.
BHXH dài hạn thường được dùng để chỉ nhóm các chế độ BHXH dài
hạn, từ khi người lao động bắt đầu tham gia cho đến khi quan hệ BHXH kết
thúc, theo hình thức lập quỹ tiết kiệm bắt buộc, có kết hợp với tương trợ cộng
đồng. Như vậy, yếu tố thời gian đóng BHXH được coi là một trong các điều
kiện cơ bản để xác định để xác định quyền hưởng bảo hiểm và mức hưởng
của loại chế độ bảo hiểm xã hội. Đối tượng hưởng BHXH dài hạn chủ yếu là
người lao động đã kết thúc quan hệ lao động, nghỉ việc hưởng BHXH sau một
thời gian dài đóng góp hoặc để lại phần đóng góp cho thân nhân như một
khoản thừa kế, hoặc cần phải tương trợ nuôi thân nhân… Do đó, bên cạnh
10

11


BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập của các thành viên trong xã
hội theo chiều dọc và chiều ngang (hay theo không gian và thời gian).
Phân phối theo chiều dọc và sự phân phối giữa những người khỏe mạnh
cho những người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa
những người không sinh đẻ và người sinh đẻ; giữa những người có thu nhập
cao và người có thu nhập thấp… Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu
nhập theo không gian. Thực hiện nguyên tắc phân phối theo chiều dọc này,
quỹ BHXH ngoài việc được hình thành từ sự đóng góp của người lao động,
còn hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và có thể còn
được bù dắp sự thiếu hụt bằng Ngân sách Nhà nước. Đến lượt mình, quỹ
BHXH lại được sử dụng để thay thế hoặc bù đắp thu nhập cho người lao động
bị mất, giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm…
Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người
lao động theo thời gian, là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và
quá trình không làm việc. Khi thực thi chính sách BHXH cũng tức là sử dụng
nguồn tài chính chung của một bên là những người đóng góp đều đặn vào quỹ
BHXH, còn bên kia là những người được hưởng theo quy định.
Mục tiêu cơ bản của BHXH là nhằm đảm bảo an toàn – hiệu quả xã hội.
BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm
trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao động và an
toàn xã hội. BHXH thực hiện nhằm các mục tiêu: thay thế hoặc bù đắp cho
người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống
thiết yếu của họ và gia đình; chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật; bảo
đảm điều kiện sống tối thiểu để người lao động không lâm và cảnh túng quẫn,
góp phần bảo đảm hạnh phúc gia đình và an toàn xã hội.
BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc có đóng, có hưởng.
Quỹ BHXH hình thành các nguồn tài chính từ các khoản đóng góp của

hệ quả năng suất lao động giảm.

13


BHXH góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định,
sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả, các bên trong quan hệ lao động
gắn bó với nhau hơn. BHXH tạo điều kiện để người tổ chức sử dụng có trách
nhiệm với người lao động, không chỉ khi người lao động còn đang tham gia
lao động mà ngay cả khi người lao động đã già yếu, không còn khả năng tham
gia lao động nữa. Qua đó, người lao động gắn kết bền chặt hơn với người sử
dụng lao động và chất lượng lao động cũng được đảm bảo. Mặt khác, BHXH
giúp các tổ chức sử dụng lao động ổn định nguồn chi, ngay cả khi các rủi ro
lớn xảy ra cho người lao động.
1.1.3.3. Đối với nền kinh tế - xã hội
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước, BHXH giải quyết những “trục trặc”, “rủi ro” xảy ra đối với những
người lao động, đảm bảo cho việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng
tạo của sức lao động. Sự bảo đảm này tác động trực tiếp đến việc nâng cao
năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần vào việc nâng cao năng suất
lao động xã hội. BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng, làm
tăng sự tiêu dùng cho xã hội, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh quốc gia.
Mặt khác, với vị trí là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động tới hệ
thống tài chính thông qua hoạt động đầu tư, bảo tồn và phát triển quỹ. Hoạt
động đầu tư của quỹ BHXH tác động không nhỏ tới quá trình phát triển kinh
tế - xã hội, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm
mới, góp phần quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao
động, từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nước, tăng thu
nhập cá nhân cho người lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc dân
nói chung. Ngoài ra, vai trò đối với xã hội của BHXH còn được thể hiện qua

Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham
gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro
15


nghề nghiệp, tuổi già, tàn tật. Đến cuối những năm 1880, BHXH đã mở ra
hướng mới với cơ chế ba bên: người lao động, giới chủ và Nhà nước. Mô hình
này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, Bắc Mỹ,
Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và
vùng Caribê. BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống An
sinh xã hội, được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền cơ bản
của của con người.
Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề
của giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế - xã
hội, trình độ chuyên môn và nhận thức về BHXH của người lao động ngày
càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những sự kiện
hoặc không may gặp phải những rủi ro của người lao động ngày càng hoàn
thiện. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp
cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thỏa và có hiệu
quả nhất. Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi
thành viên trong xã hội đều cảm thấy cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH
và sự cần thiết được BHXH. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi
của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một
trong những quyền cơ bản của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền
của Đại Hội động Liên hợp quốc đã nêu. [3, tr. 35-38].
1.2.2. Lịch sử bảo hiểm xã hội Việt Nam
BHXH Việt Nam ra đời, phát triển gắn liền với lịch sử ra đời và phát
triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945). BHXH được coi là
lĩnh vực có quá trình phát triển lâu đời nhất trong hệ thống An sinh xã hội ở

Nghị định 218/CP, quỹ BHXH là quỹ độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước.
Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) được
giao nhiệm vụ quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH. Tiền quỹ
BHXH gửi Ngân hàng Nhà nước, chịu sự quản lý tiền mặt của Ngân hàng.
17


Cùng với sự đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước, ngày 23/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định
tạm thời chế độ BHXH thay thế cho Nghị định 218/CP. Nội dung của Nghị
định đã bao hàm những cải cách lớn về BHXH như: Mở rộng đối tượng và
phạm vi áp dụng chế độ BHXH, làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp xây
dựng quỹ BHXH của người sử dụng lao động và người lao động. Nâng mức
thu quỹ BHXH lên 20% quỹ lương, trong đó người lao động đóng 5%; người
sử dụng lao động đóng 15%, quỹ hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.
Có thể nói Nghị định 43/CP là bước đệm cho một cuộc cải cách thực sự của
hệ thống BHXH ở nước ta. Trong tiến trình cải cách kinh tế - xã hội, hệ thống
chính sách, chế độ BHXH trước đây không còn phù hợp nữa, nó đã và đang
được đổi mới cơ bản về chất cho phù hợp với bản chất của BHXH trong nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 223/6/1994 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoa IX đã thông qua Bộ
Luật lao động (có hiệu lực thi hành từ 01/01/1995), xác lập và bảo vệ quyền
lợi hợp pháp và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong
việc tham gia BHXH (chương XII – Bộ Luật lao động). Đây là sự kiện pháp
lý có ý nghĩa to lớn đối với lĩnh vực BHXH và đây là lần đầu tiên ở nước ta
pháp luật về BHXH được quy định ở hình thức cao nhất trong một bộ luật. Cụ
thể hóa các điều khoản của Bộ luật Lao động về BHXH, Chính phủ ban hành
Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ BHXH và Nghị định
19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam. Từ đây, quỹ
BHXH Việt Nam đã thực sự hình thành và dần đi vào quỹ đạo chung mang

Công ước số 157 được thông qua ngày 21/6/1982, gọi là Công ước về
duy trì các quyền về an toàn xã hội, tiếp tục khẳng định 9 nhánh an toàn xã
hội như trên. Sau đó, vẫn còn một số các công ước và khuyến nghị khác liên
quan đến các chế độ BHXH nhưng nội dung chủ yếu vẫn theo tinh thần của
Công ước 102.
Trong các công ước quốc tế, mỗi chế độ BHXH đều được cụ thể hóa
bằng những điều, những mục vừa cụ thể, vừa mang tính định hướng để các
nước vận dụng. Nếu nhìn nhận một cách khái quát, mỗi chế độ đều được kết
cấu bởi các nội dung sau:

19


- Mục đích thực hiện chế độ;
- Đối tượng được bảo hiểm;
- Điều kiện được trợ cấp;
- Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHXH.
Mục đích trợ cấp theo từng chế độ BHXH sẽ giúp người lao động và
người sử dụng lao động nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình khi
tham gia BHXH. Đồng thời, còn thể hiện rõ quan điểm định hướng và mục
tiêu của chính sách BHXH ở từng nước. Trên phương diện xã hội, mục đích
trợ cấp còn phản ánh vai trò của từng chế độ và tạo thêm niềm tin cho người
lao động đối với chính sách BHXH. Một khi người lao động và người sử dụng
lao động đã nhận thức được đầy đủ vấn đề này thì việc mở rộng đối tượng
tham gia BHXH sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Đối tượng được bảo hiểm thể hiện phạm vi của chính sách BHXH
trong từng chế độ. Tùy theo từng loại chế độ mà đối tượng này có thể khác
nhau. Có chế độ đối tượng được trợ cấp chính là bản thân người lao động
tham gia BHXH; có chế độ đối tượng trợ cấp lại là một số thành viên trong
gia đình của người lao động (vợ, chồng, con cái và bố mẹ của người lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status