ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ TÂM
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở HÀ TÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ TÂM
ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở HÀ TÂY
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:
5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHAN THANH PHỐ
1
CNH, HĐH ở Hà Tây. Tôi chọn đề tài: “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Hà Tây” nghiên cứu làm
luận văn thạc sĩ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề NNL đối với CNH, HĐH cho đến nay đã có nhiều công trình
khoa học, nhiều cuốn sách, bài báo nghiên cứu và đăng tải, dưới đây là một số
công trình tiêu biểu:
- Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của Phan Xuân Dũng, Tạp chí Cộng sản, tháng 9/1997.
- Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
giáo sư, tiến sĩ Phạm Minh Hạc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế của tiến sĩ
Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lý luận chính trị, 8/2002.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước của tác giả Mai Quốc Chánh, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1999.
- Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của tác
giả Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991.
Tuy nhiên, do nội hàm của vấn đề quá rộng và phức tạp nên chưa thể
coi những công trình nghiên cứu nói trên là đầy đủ và hoàn thiện, các giải
pháp đưa ra còn rất chung chưa thể coi là hoàn toàn thích hợp khi vận dụng ở
Hà Tây. Xung quanh vấn đề đào tạo và sử dụng NNL ở Hà Tây tuy đã được
nghiên cứu và được thể hiện trong một số công trình và bài báo nhưng chưa
Lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam và các lý thuyết kinh tế hiện đại về NNL, về đào tạo và sử
dụng NNL.
* Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng việc sử dụng phương pháp
biện chứng duy vật, phương pháp trìu tượng hoá, phương pháp phân tích và
tổng hợp. Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng phương pháp
thống kê định lượng so sánh v.v.
6. Đóng góp và ý nghĩa của luận văn.
* Đóng góp của luận văn:
- Góp phần làm rõ thêm những cơ sở lý luận và thực tiễn về việc đào
tạo và sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản thúc đẩy đào tạo
và sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
* Ý nghĩa của luận văn:
- Kết quả của luận văn góp thêm cơ sở khoa học cho việc hoạch định
sự phát triển NNL trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
môn Kinh tế chính trị trong các trường Đại học và Cao đẳng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương 7 tiết.
4
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
biện chứng với nhau. Quá trình kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện vật chất cho
việc thực hiện nội dung của quá trình KT - XH và đến lượt mình quá trình KT
- XH lại góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện quá trình kinh tế kỹ
thuật. Sự phát triển CNH hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn còn là quá trình xây
dựng và phát triển văn hoá trong đó phát triển con người và nguồn lực con
người là nội dung cốt lõi.
Ở nước ta, một nước tiến hành CNH sau, nên CNH phải gắn liền với
HĐH, bởi lẽ trong thời đại ngày nay nhân loại đã trải qua hai cuộc cách mạng
kỹ thuật: cuộc cách mạng công nghiệp và hiện nay là cuộc cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại này đã
dẫn tới sự thay đổi về chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Là nước tiến hành
công nghiệp sau nên chúng ta không thể thực hiện theo mô hình CNH phát
triển theo kiểu tuần tự như các nước đi trước, nghĩa là tiến hành với nội dung
căn bản là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế rồi mới tiến hành HĐH. Vả
lại khi thực hiện cơ khí hoá cũng không thể sử dụng máy móc được sản xuất
trước đây mà phải sử dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến. Với ý
nghĩa trên Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
và Đại hội Đảng lần thứ IX, nhấn mạnh về con đường CNH rút ngắn đáng kể
về thời gian, vừa có bước đi tuần tự vừa có bước nhảy vọt, muốn vậy CNH
phải gắn liền với HĐH. Đảng ta quan niệm CNH, HĐH là: "Quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý
KT - XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ và phương tiện, phương pháp tiên tiến
hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [14, tr. 80].
6
Thực chất CNH, HĐH ở nước ta là quá trình xây dựng cơ sở vật chất
con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác
như: vốn bằng tiền, công nghệ, tài nguyên. Việc đầu tư cho con người giữ vị
trí trung tâm trong các loại đầu tư và là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền
vững. Do đó NNL là nguồn vốn đặc biệt, nhất là trong giai đoạn phát triển của
kinh tế tri thức gắn với đặc trưng của lao động trí tuệ.
- Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong
Chương trình cấp nhà nước KX - 07, NNL được hiểu là "số dân và chất lượng
con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực
phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc" [24, tr.28].
Như vậy, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất
lượng.
- Về số lượng: nguồn nhân lực phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể
có được của cá nhân và qui định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Ở Việt
Nam hiện nay, Luật Lao động qui định độ tuổi lao động đối với nam từ 15 60, đối với nữ từ 15 - 55. Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự
phát triển KT - XH. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa
hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình CNH, HĐH. Nếu thừa sẽ
dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu
thì không có đủ lực lượng nhân lực cho quá trình CNH, HĐH và phát triển
kinh tế đất nước.
- Về chất lượng, nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh
thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm
chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu CNXH. Trong ba mặt:
thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là
phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần
đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí
lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL
8
biến thành hiện thực. Từ đó có thể đóng góp vào sự nghiệp CNH, HĐH và sự
phát triển KT - XH. Tuy nhiên, khi nói NNL tức là nói sức lao động, do vậy
nó còn ở trạng thái khả năng, ở trạng thái tĩnh, nó phải được chuyển sang
trạng thái động tức là phải được đem phân bố sử dụng nó một cách có hiệu
quả, phải làm thế nào để NNL dưới dạng khả năng đó thành hiện thực, thành
vốn nhân lực.
Sử dụng NNL tức là tiêu dùng sức lao động của con người trong quá
trình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu
cầu sản xuất và nhu cầu con người trong xã hội. Quá trình lao động sản xuất
đó là quá trình kết hợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản
xuất nên việc khai thác và phát huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền
sản xuất cùng những cách thức của sự phát triển KT - XH. Bởi vậy sử dụng
NNL được hiểu: là việc khơi dậy và phát huy tất cả các khả năng của con
người thành hiện thực, biến sức lao động thành lao động trong quá trình phát
triển KT - XH.
Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nó
phụ thuộc vào những đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất, những
cải tiến về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáo dục đào
tạo (đặc biệt là đào tạo nghề).
Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta, việc khai thác sử dụng NNL có
thể được xem xét trên các khía cạnh sau:
Một là, nguồn nhân lực được biểu hiện ra là nguồn lao động nó bao
gồm toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và
các thế hệ nối tiếp, vì vậy sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao
động sản xuất. Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có là yêu
cầu cơ bản và chủ yếu của sử dụng NNL.
12
giờ cũng giữ vị trí quyết định. Điều này thể hiện ở chỗ: Con người là chủ thể
của quá trình CNH, HĐH. Con người là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân
loại, có khả năng biến các nguồn lực khác thành động lực phát triển. Con
người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình là động lực cơ bản của sự
nghiệp CNH, HĐH. Mối quan hệ này thể hiện:
1.1.2.1. Sự tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến đào tạo và sử
dụng nguồn nguồn nhân lực
Thứ nhất: Đối với đào tạo nguồn nhân lực
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã và đang mở ra cơ hội lớn đồng thời
đòi hỏi rất nhiều ở Giáo dục đào tạo NNL. Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác
định chỉ có thể thực hiện bằng con đường "phát triển rút ngắn" mới thu hẹp
được khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển của nước ta so với các
nước khác trên thế giới. Tiến trình đó đòi hỏi hoạt động giáo dục đào tạo phải
có NNL đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cơ cấu trình độ, đặc biệt
phải có NNL trình độ cao.
- Trong suốt tiến trình CNH, HĐH một mặt bao giờ cũng kéo theo và
đặt ra yêu cầu mới cho đào tạo NNL. Với tư cách là người sử dụng NNL qua
đào tạo, nó đòi hỏi phải tuyển chọn để thu hút được một đội ngũ lao động có
trình độ học vấn cao, tay nghề giỏi để thực hiện vai trò quyết định của NNL.
Ăng ghen nhấn mạnh "Muốn nâng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lên
một mức độ cao mà chỉ có phương tiện cơ giới và hoá học phù trợ thì không
đủ, còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử
dụng những phương tiện đó nữa” [32, tr. 474].
- Mặt khác, CNH, HĐH còn là điều kiện vật chất cần thiết để cho định
hướng đào tạo và phát triển NNL. Điều đó thể hiện ở chỗ:
+ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện vật chất tồn tại cần thiết để
cải biến nếp nghĩ, nếp làm, vốn còn mang nặng dấu ấn tiểu nông, sản xuất nhỏ
chuyên môn, do vậy việc xuất khẩu lao động là một lĩnh vực hoạt động kinh
tế quan trọng cần được chú ý tới trong việc khai thác sử dụng lao động. Xuất
17
khẩu lao động - một mặt nhằm giải quyết việc làm, giảm bớt những căng
thẳng về lao động dư thừa trong nước, tăng thu nhập cho người lao động và
tăng nguồn thu ngoại tệ cho nhà nước và mặt khác, đây còn là con đường để
đào tạo nguồn lao động cho quốc gia. Nên nhà nước cần có chính sách và sự
quan tâm thích đáng cho hoạt động xuất khẩu lao động để khai thác lợi thế
nguồn lao động dồi dào phục vụ quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Như vậy khai thác sử dụng, phát huy tối đa và hiệu quả NNL là điều kiện
quan trọng trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy quá trình CNH, HĐH ở nước ta nói
chung và quá trình CNH, HĐH ở Hà Tây nói riêng hiện nay đòi hỏi phải đào
tạo NNL chất lượng cao và khai thác sử dụng một cách hiệu quả NNL đó mà
CNH, HĐH với tư cách thuộc phía cầu của NNL trên thị trường lao động ở
nước ta.
1.1.2.2. Sự tác động của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực đối với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nguồn nhân lực, nhất là NNL qua đào tạo là yếu tố vật chất quan trọng
nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất, của việc nhận thức, lĩnh hội và
sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất, thúc
đẩy CNH, HĐH và phát triển KT - XH như Lênin nói: "Nếu không có các
chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất
thì không thể nào có bước chuyển lên xã hội XHCN" [29, tr.362]. NNL, đặc
biệt là NNL chất lượng cao, một yếu tố không thể thiếu của quá trình CNH,
HĐH, được Lênin viết: "Việc điện khí hoá không phải do những người mù
chữ thực hiện được mà chỉ biết chữ thôi thì không đủ... điều đó chỉ có thể
những hướng chính của đầu tư phát triển; Giáo dục đào tạo phải thật sự trở
thành quốc sách hàng đầu, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực
con người kịp thời và phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH. Xét một cách tổng thể
việc đào tạo NNL phải đáp ứng yêu cầu giải quyết mối quan hệ cung - cầu lao
20
động cả số lượng, chất lượng, cơ cấu, hạn chế tối đa việc dư thừa bất hợp lý
về lao động đã đào tạo trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết phải tạo ra được
những con người có khả năng để đảm nhận và hoàn thành công việc ở cương
vị công tác theo sự phân công lao động xã hội. Đó là những con người vừa có
tài vừa có đức. Theo tiêu chí của tài và đức thì hệ thống các cơ sở đào tạo
NNL phải làm thế nào để người học sau khi được đào tạo phải được trang bị
kiến thức văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo thực
hành, có năng lực hợp tác trong mọi hoạt động, có năng lực nhận thức, vận
dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, hiểu và biết vận dụng đường lối chính sách
của Đảng, biết lựa chọn các giải pháp tối ưu cho các hoạt động của
mình...đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt, biết đặt lợi ích của cộng đồng
xã hội lên trên lợi ích cá nhân, có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc, ý
thức tự hào và phát huy truyền thống dân tộc, ý chí vươn lên để thoát khỏi
nghèo nàn lạc hậu.
1.2. Nội dung, nhân tố ảnh hƣởng và vai trò đào tạo và sử dụng nguồn
nhân lực
1.2.1. Nội dung của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
1.2.1.1. Nội dung đào tạo nguồn nhân lực
Nước ta bắt đầu thực hiện CNH, HĐH với một xuất phát điểm thấp. Từ
một nước nông nghiệp lạc hậu (72 % dân số làm nông nghiệp, tỷ trọng nông
nghiệp chiếm 50 % GDP) chưa có lợi thế về chỉ số phát triển con người. Tốc
độ nâng cao dân trí ở nước ta trong nhiều năm qua còn rất chậm. Với mặt
động của họ, giúp họ biết hợp tác với ai, biết làm cái gì, làm vì ai và sẽ làm
như thế nào. Nội dung của đào tạo NNL được thực hiện qua nhiều cấp bậc
học với các mức độ khác nhau. Nhưng tác giả quan tâm chú ý đến nhiều hơn
tới bậc đào tạo trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đào tạo đại học, cao đẳng
nên đã phân một cách khái quát qua các cấp bậc sau đây:
22
Thứ nhất: Đối với các cấp bậc học phổ thông đặc biệt là trung học phổ
thông.
Đối với bậc học này cần cung cấp kiến thức nền tảng khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, giáo dục ý thức công dân, định hướng giá trị: chân thiện - mỹ và giáo dục hướng nghiệp để các em có thể ra quyết định đúng đắn
cho việc lựa chọn bước đường tiếp theo cho tương lai, theo học nghề gì, chọn
trường chuyên nghiệp hoặc trường cao đẳng, đại học nào cho phù hợp với khả
năng của mình và yêu cầu của xã hội.
Thứ hai: Đối với các trường trung học chuyên nghiệp - dạy nghề - cao
đẳng - đại học đào tạo như đã nêu ở phần trên là quá trình kết hợp giữa đào
tạo ban đầu và tự đào tạo, giữa truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng nghề
nghiệp với giáo dục đạo đức nhân văn để cung cấp nhân lực cho tất cả các
lĩnh vực hoạt động KT - XH nên việc xác định nội dung đào tạo NNL trong
hệ thống các trường nêu trên cần được đề cập tới các vấn đề sau:
- Coi trọng giáo dục ý thức công dân đặc biệt hình thành niềm tin lý
tưởng Cộng sản, ý thức bảo vệ tổ quốc, rèn luyện sức khoẻ thông qua hệ
thống các môn học chung.
- Cung cấp các kiến thức thiết thực với nhu cầu thực tế của các ngành
trong nền kinh tế quốc dân như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đặc biệt
chú ý tới các ngành và lĩnh vực kinh tế mũi nhọn như công nghệ cao và du
lịch. Gắn liền với việc truyền thụ tri thức là việc hình thành năng lực và
phương pháp tư duy khoa học để người học có thể tiếp trục tự hoàn thiện về