ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------------NGUYỄN THỊ LỆ QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI TÙY – ĐƯỜNG
Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tài Đông
Hà Nội-2015
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 3
1. Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................. 3
2. Lịch sử nghiên cứu ..................................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 8
6. Đóng góp của đề tài .................................................................................... 8
7. Bố cục luận văn .......................................................................................... 9
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁOTRUNG QUỐC
THỜI TÙY - ĐƯỜNG................................................................................ 10
1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc ............................................. 10
1.1.1 Bức tranh tổng quát về đất nước Trung Quốc thời kỳ trước khi Phật giáo
Phật giáo ra đời từ thế kỷVI TCN ởẤn Độ với người sáng lập là Thích
Ca Mâu Ni. Vào thời kỳ thống trị của vương triều Khổng Tước vua A Dục
(khoảng thế kỷ III TCN), Phật giáo trở thành quốc giáo và bắt đầu phát triển
lan rộng ra khỏi biên giới quốc gia Ấn Độ. Đến thế kỷ XIII SCN, Phật giáo về
cơ bản bị tiêu vong ở chính quê hương phát sinh ra nó, nhưng lại được phát
triển ở các nước khác trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Quốc.
Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không ngừng hòa nhập với xã
hội, tư tưởng, văn hóa truyền thống Trung Quốc để cuối cùng hình thành một
nền Phật giáo bản địa với nhiều đặc điểm riêng. Phật giáo tại Trung Quốc đã
phát triển và mở rộng thành cái gọi là “vùng văn hóa Phật giáo Trung Quốc”,
có ảnh hưởng đến cả Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ,… hình
thành nên “Phật giáo Bắc truyền”, độc lập với “Phật giáo Nam truyền” trong
xu thế phát triển ngoài Ấn Độ của Phật giáo. Vì vậy có thể khẳng định rằng,
tuy Phật giáo sinh ra ởẤn Độ nhưng Trung Quốc cũng là mảnh đất màu mỡ
để Phật giáo sinh sôi, phát triển.
Nhắc đến nền văn minh, văn hóa Trung Quốc, chúng ta không thể không
nhắc đến Phật giáo, bởi Phật giáo thực sự là một bộ phận, một viên đá quý
của văn hóa, tư tưởng Trung Hoa. Quả đúng như vậy, đạo Phật đã từng bước
ảnh hưởng đến mọi nếp sống sinh hoạt của người dân Trung Quốc từ triết lý,
tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán… Điều đó được thể
hiện rõ nét nhất khi chúng ta nghiên cứu về vai trò của Phật giáo trong thời
Tùy - Đường, thời kỳ phát triển rực rỡ của Phật giáo Trung Quốc.
Ngày nay, những hào nhoáng của một nền văn minh vật chất đã lôi cuốn
một số đông người, nhưng cơ bản nền văn hóa dân tộc đang còn bền chặt,
khiến người Trung Hoa dẫu có bị xao nhãng phần nào trong một thời gian, rồi
3
cũng lần hồi trở lại với cội nguồn yêu dấu ngàn xưa. Phật giáo như một thực
Không những thế, sự giao thoa, tương tác kéo dài hàng chục thế kỷ giữa
hai nền văn minh Trung Hoa và Việt Nam đã tạo nên mối quan hệ khăng khít
giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Trung Hoa trong nhiều lĩnh vực: triết
học, văn học, nghệ thuật… Do vậy, hiểu Phật giáo Trung Quốc không chỉ
hiểu văn hóa Trung Quốc mà quan trọng hơn, đây còn là điều cần thiết để góp
phần nhận diện và nắm bắt bản sắc văn hóa dân tộc mình. Những yếu tố tích
cực của Phật giáo là một phần tư tưởng văn hóa Việt, sẽ cùng với văn hóa dân
tộc Việt Nam nhận định, chắt lọc và cũng là “liều thuốc tốt” chống lại những
cặn bã văn hóa ngoại nhập hoặc văn hóa mê tín phát sinh từ bản địa để có nền
văn hóa lành mạnh, đậm đà bản sắc.
Chúng tôi cũng nghĩ, khi đi sâu tìm hiểu về đề tài, rồi liên hệ, mở rộng,
so sánh, đối chiếu với các giai đoạn lịch sử trước - sau, các quốc gia lân cận…
người viết sẽ trang bị được cho bản thân một vốn hiểu biết nhất định về văn
hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Trung Quốc nói riêng, thế giới nói chung, thấy được
mối quan hệ giữa các yếu tố này với nhau để phục vụ tốt hơn nữa cho công
tác nghiên cứu khoa học.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Phật
giáo trong đời sống xã hội Trung Quốc thời Tùy - Đường” làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
Là một tôn giáo lớn, Phật giáo đã trở thành đề tài nghiên cứu thu hút sự
quan tâm của các nhà khoa học xã hội. Rất nhiều quốc gia có trung tâm
nghiên cứu về đạo Phật. Chẳng hạn ở Việt Nam, trong Giáo hội có Học viện
Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Cần Thơ, các
tổ chức nghiên cứu, truyền bá thuộc Ban Hoằng pháp,… các tạp chí Nghiên
cứu Phật học, tạp chí Khuông Việt, tạp chí Liễu Quán,… Ngoài ra còn nhiều
đơn vị nghiên cứu công lập có nghiên cứu về Phật giáo như: Ban Tôn giáo
5
Có những cuốn sách chuyên sâu từng mảng, từng lĩnh vực trong văn hóa
Phật giáo như: về mỹ thuật Phật giáo có “Tượng Phật Trung Quốc” của Lý
Lược Tam, Huỳnh Ngọc Trảng (Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội, 1996); “Giải thích về
tranh tượng Phật giáo Trung Quốc” do Trương Đức Bảo, Từ Hữu Vũ,
Nghiệp Lộ Hoa viết (Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2004) giới thiệu khái quát lý
luận, quan điểm mỹ học tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng. Nguyễn Bá
Hoàn có “Thư pháp và thiền” (Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2002) phân tích sâu sắc
mối liên hệ giữa nghệ thuật viết chữ và quan điểm, phong cách Thiền tông…
Nhưng những tác phẩm trên không đề cập đến một giai đoạn lịch sử cụ thể
nào trong thời kỳ phong kiến Trung Quốc.
Tuy nhiên, như ở phần lý do chọn đề tài chúng tôi đã nêu, đó là trong
vốn tư liệu hạn hẹp mà người viết có được thì chưa có một cuốn sách nào viết
riêng về Phật giáo thời Tùy - Đường, chưa có tác phẩm nào đánh giá vai trò
Phật giáo đối với lịch sử văn hóa xã hội Trung Quốc, cũng như chưa xuất hiện
tư liệu nào đánh giá đầy đủ, toàn diện những vai trò, ảnh hưởng trên tất cả các
mặt của tôn giáo này trong thời kỳ phát triển hoàng kim nhất của phong kiến
Trung Quốc.
Do đó, với cơ sở là những cuốn sách nói trên, chúng tôi đã tham khảo
một số tài liệu có liên quan đến tôn giáo và Trung Quốc để tổng hợp, hệ thống
lại. Từ đó, hy vọng đưa ra một số nhận định đúng đắn, phù hợp.
Có thể nói, ở Việt Nam, khi nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử thế giới, nhất
là lĩnh vực lịch sử thế giới cổ trung đại thì Phật giáo Trung Quốc nói chung,
Phật giáo thời Tùy - Đường nói riêng luôn là mảng đề tài mở, còn nhiều
“khoảng trống” rất hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về tôn giáo này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn này là làm rõ sựảnh hưởng của Phật giáo
trong đời sống xã hội Trung Quốc thời Tùy - Đường.
7
người viết đã cố gắng hệ thống hóa kiến thức để đưa ra được những hiểu biết
vềsựphát triển của Phật giáo thời Tùy - Đường. Từ đó, đánh giá vai trò Phật
giáo thời này đối với đời sống xã hội Trung Quốc thời kỳ này. Đồng thời, có
kết hợp tìm hiểu và liên hệ để nêu lên một số nhận xét, đánh giá nhất định về
vị trí của tôn giáo này ở các mặt chính trị, văn hóa, tư tưởng thời Tùy - Đường
cũng như sự lan tỏa,ảnh hưởng của nó đối với những nước xung quanh. Do
vậy, có thể nói, thông qua đề tài, một bức tranh cụ thể sinh động về vài trò,
ảnh hưởng của Phật giáo thời Tùy – Đường đối với đời sống xã hội Trung
Quốc đã được hiện ra, giúp người đọc có cái nhìn rõ nét về xã hội Trung
Quốc trong thời kỳ này.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc thời Tùy - Đường.
Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo trên một số khía cạnh xã hội Trung
Quốc thời Tùy - Đường.
Chương 3: Ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc thời Tùy - Đường đối
với Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO
TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG
1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc
1.1.1 Bức tranh tổng quát về đất nước Trung Quốc thời kỳ trước khi
Phật giáo du nhập
quyền không cần tư cách, vì nếu pháp luật nghiêm khắc, thưởng phạt công
minh thì một người không có tài đức cũng có thể trị nước được. Hai phái này
còn được gọi là Nho gia và Pháp gia. Vào thế kỷ thứ III TCN, nhà Tần bảo trợ
Pháp gia và ngược đãi Nho gia. Tuy vậy, sau một thời gian do dự, Hán triều
đã ưu đãi giới Nho học. Sự bành trướng của Nho giáo có thể được xem như là
hệ quả từ cuộc tranh luận kéo dài hơn hai thế kỷ giữa hai phái Nho gia và
Pháp gia, không chỉ trên bình diện triết học mà còn bao gồm mục tiêu chính
trị. Chính cuộc tranh luận ấy đã đưa Nho học lên bục danh vọng gắn liền với
cái tên bất tử của Khổng Tử.
Sự phá sản của giai cấp quý tộc phong kiến được nhà Tần thống nhất
lại; rồi sự sụp đổ của nhà Tần bằng cuộc nội chiến lâu dài đưa đến việc ra đời
của nhà Hán. Trật tự xã hội của triều đại nhà Hán về cơ bản được xây dựng
trên hai tầng lớp xã hội.Tầng lớp thống trị nhà Hán đa số xuất thân từ tầng lớp
bình dân, là quyến thuộc của lực lượng nông dân và số tướng lĩnh trung thành
với họ. Đặc biệt, quan lại trong bộ máy chính quyền của nhà Hán khắp Trung
Hoa thời ấy bao gồm giai cấp địa chủ của các thời đại trước, hoặc số người
nhờ ân huệ của triều đại mới qua việc buôn bán đất đai, nổi lên như là lớp
người được ưu đãi nhất. Vì giàu có, lại có nhiều quyền lực và biết tập trung
vào lĩnh vực giáo dục, số người ấy trở thành tầng lớp ưu tú của thời đại. Họ
làm việc và củng cố địa vị của mình bằng việc đào tạo những chuyên ngành
như học sĩ, quan chức của triều đình... Họ tự biến mình thành lớp người bảo
hộ quốc gia từ trung ương đến địa phương. Tầng lớp bị trị là nhân dân lao
11
động, bao gồm nông dân và thợ thủ công, mà kế sinh nhai là nghề nông, buôn
bán hoặc làm thuê v.v...
Về kinh tế, thời kỳ nhà Hán có một sự phát triển vượt trội. Hán Cao Tổ
khuyến khích nông nghiệp. Về nông nghiệp, nhà Hán tiếp tục chính sách của nhà
sang trọng với nghệ thuật điêu khắc, trang trí vô cùng công phu, phản ánh một
cuộc sống có tổ chức và văn hóa cao.
* Bối cảnh tôn giáo
Từ thời nguyên thủy cho đến ngày nay, Trung Hoa luôn là một quốc gia
có nhiều tôn giáo. Trong xã hội nguyên thủy, Trung Quốc là một quốc gia
theo tư tưởng đa thần, vì lúc ấy chưa có một loại thần nào được quan niệm là
chủ tể, lãnh đạo tối cao toàn thể thiên nhiên và xã hội. Lúc này con người cho
rằng, mỗi hiện tượng trong vũ trụ này đều do một vị thần chủ trương: thần
gió, thần mưa, thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông…
Khi xã hội đi vào tổ chức, phân loại giai cấp cùng với sự ra đời của chế
độ lãnh chúa và xã hội phong kiến, tư tưởng nhất thần cũng dần dần hình
thành thông qua quyền lực tối cao của người lãnh đạo. Hình ảnh độc tôn và
đầy uy quyền của vị vua như là hiện thân của thượng đế được phác họa vào
triết lý tôn giáo, vì vua là con trời hay còn gọi là thiên tử. Tư tưởng tôn giáo
nhất thần này xuất hiện từ triều đại nhà Hạ, sau đó được hầu hết các chế độ
phong kiến duy trì và phát triển cho đến khi sụp đổ.
Đến triều đại nhà Chu, hoạt động tâm linh dần dần đi vào tổ chức và
phát triển thành những hệ thống tư tưởng và triết lý, tạo thành nhiều trường
phái khác nhau. Trong số đó, hai dòng tư tưởng nổi bật vào thời kỳ nhà Hán là
Khổng giáo và Lão giáo. Theo giới nghiên cứu, Khổng giáo là một hệ thống
tư tưởng chính trị - đạo đức, trong khi ấy Lão giáo bao gồm triết học huyền bí
và khổ hạnh.
13
Nho giáo, còn gọi Khổng giáo, là học thuyết do Khổng Tử, tên Khâu tự
Trọng Ni, sinh tại nước Lỗ thuộc phía Nam tỉnh Sơn Đông ở miền Đông
Trung Quốc ngày nay, khai sáng.
Hạt nhân của triết học Nho gia là Nhân, Lễ và Trung Thứ. Trên nền tảng
trời, do vậy nhân cách của vua là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Đến khi
nào vua làm trái với những điều luật, đức hạnh được quy định và không thể
cai trị đất nước vì lợi ích của nhân dân, vị vua ấy được xem như đã mất đi
thiên mệnh, ông ta không còn thích hợp - chính danh - với ngai vàng. Nhân
dân sẽ phán xét, lật đổ ông và sẽ tôn xưng một người khác lên làm vua. Người
ta tin rằng ý dân là ý trời và nếu một vị lãnh đạo của phe làm phản thành công
trong việc truất phế vua vô đạo, người ấy có quyền kế vị ngôi vàng, được xem
là do ân điển của trời đất và nắm được thiên mệnh.
Theo Khổng giáo, để phụ tá cho nhà vua cai trị nước và để cố vấn nhà
vua sống mẫu mực và đức hạnh, triều đình cần có một đội ngũ quan chức am
hiểu Ngũ Kinh, được tuyển chọn từ hệ thống thi cử có nền tảng từ các kinh
điển ấy. Số quan chức trí thức này cùng với nhà vua tạo thành tầng lớp cai trị
đất nước, thu nắm tất cả quyền lực, danh dự, giáo dục và văn hóa của đất
nước họ.
Tất cả các yếu tố trên đan quyện thành hệ thống toàn diện của triết lý tôn
giáo chính trị dưới tên gọi Khổng giáo trong suốt thời gian dài của lịch sử
Trung Hoa, mặc dù cấu trúc đầy ấn tượng này của Nho giáo cũng có nhiều đổi
thay theo dòng thời gian để kết hợp với tri thức của quần chúng Trung Hoa
xuyên suốt chiều dài tồn tại củanó.
Tôn giáo quan trọng thứ hai có nhiều tác động đến sự du nhập của Phật
giáo từ Hán triều trở đi là Đạo giáo.
Triết thuyết chủ yếu của Đạo giáo bao hàm trong cuốn “Đạo Đức Kinh”
hay “Lão Tử Kinh”, gồm khoảng 5250 từ. Mặc dù là một tập sách triết học
ngắn gọn nhất trong kho tàng trí tuệ của Trung Hoa cổ đại, nhưng có vô số
15
sách bình giải đã ra đời trên căn bản của “Đạo Đức Kinh”. Tại Trung Quốc,
Đạo giáo ảnh hưởng rất lớn đến nhân dân Trung Hoa trên mọi lĩnh vực của
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ.
Thế kỷ VI trước Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu
nô lệ. Sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ
chia làm bốn đẳng cấp cách biệt nhau: đẳng cấp Bà La Môn (địa vị cao nhất);
đẳng cấp Sát đế lỵ (dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ Xá (gần những
người giàu có, buôn bán thủ công), đẳng cấp Thứ Đà la (nô lệ). Ngoài ra còn
có một tầng lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người
khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp
trên hết sức gay gắt được thể hiện trong những cuộc đấu tranh mang tính chất
toàn xã hội. Cùng thời điểm này, Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh
giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh
sự thống trị của đạo Bà La Môn còn có sự hiện diện của Phệ đà giáo và một
số giáo phái khác, đồng thời tư tưởng duy vật thô sơ và tư duy biện chứng đã
xuất hiện.
Hoàn cảnh xã hội và những tư tưởng quan niệm trên đã trực tiếp hoặc
gián tiếp góp phần thúc đẩy sự ra đời của đạo Phật.
Bỏ qua những truyền thuyết về Thích Ca Mâu Ni tìm đường cứu khổ cho
chúng sinh mà sáng lập ra đạo Phật thì có thể thấy rằng thực chất Phật giáo ra
đời là do kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp, đấu tranh giữa
thần quyền và thế quyền, giữa những người nắm kinh tế của xã hội và những
người nắm tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh ấy đã lôi kéo đông đảo quần
chúng nghèo khổ tham gia giành bình đẳng thật sự nơi trần gian, quần chúng
đã nhận được sự bình đẳng trong tư tưởng, nơi gọi là cõi Niết bàn của nhà
Phật.
Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là sự khổ não, hai là
sự giải thoát ra khỏi khổ não ấy. Khổ não là sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân
17
TCN), đời vua Ai Đế nhà Tiền Hán, có Y Tồn, sứ giả nước Đại Nhục Chi tới,
đem Phật giáo truyền miệng cho Trần Cảnh Hiên. - Thuyết niên hiệu Vĩnh
Bình năm thứ 10: Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10, đời vua Minh Đế nhà Hậu
Hán, có một đêm, vua nằm mộng thấy người vàng, có hào quang rực rỡ từ
phương Tây tới. Vì vậy, nhà vua đoán biết có Phật giáo ở phương Tây, vua liền
sai tướng Thái Hâm, Vương Tuân, Trần Cảnh... (18 người) qua Tây vức để
thỉnh tượng Phật. Họ vâng lệnh vua đi nửa đường thì gặp hai bậc Phạm Tăng
Ca-diếp Ma-đằng, và Trúc Pháp Lan, chở kinh tượng bằng ngựa trắng đi về
phía Đông, họ liền mời hai Ngài đến Trung Quốc. Vua Minh Đế liền sắc dựng
chùa Bạch Mã để thờ Phật và làm nơi dịch kinh điển cho hai Ngài.
Mặc dù chưa có bằng chứng xác thực nhưng với hai con đường: đường
thủy và đường bộ, có thể khẳng định rằng Phật giáo được truyền vào Trung
Quốc từ rất sớm, dần dầngóp phần tạo nền những nét đặc thù trong nền văn
hóa rực rỡ của đất nước Trung Hoa rộng lớn.
1.2 Khái quát Phật giáo Trung Quốc thời Tùy - Đường
1.2.1 Sự bảo hộ của các bậc đế vương thời Tùy - Đường đối với Phật giáo
Trải qua một thời gian dài lưu truyền, hình thành và phát triển, Phật giáo
Trung Quốc đạt cực thịnh vào thời Tùy - Đường. Có thể nói, đây là thời kỳ
Phật giáo hoạt động sôi nổi, hình thành nhiều tông phái, mỗi tông phái đều có
giáo nghĩa, giáo quy khác nhau, từ đó hình thành nên một giai đoạn đặc sắc,
vô cùng thú vị trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc.
Dựa trên sức mạnh từ nền tảng vững chắc do Phật giáo ở thời kỳ Nam
Bắc triều kiến lập ra, bên cạnh đó là sự thống nhất quốc gia, sự cường thịnh
về kinh tế, việc đề xướng bảo hộ Phật giáo của các vị đế vương Trung Quốc
mà Phật giáo thời Tùy - Đường trở nên hưng thịnh, phồn vinh chưa từng có.
Thời Tùy, sau khi Cao Tổ Văn Đế lên ngôi (589 - 600), thống nhất cục
diện đối lập của hai miền Nam Bắc đã sửa đồi, phế bỏ chính sách diệt Phật của
19
20
điều kiện chăm lo đến đời sống tinh thần tâm linh. Họủng hộ tài chính, cúng
dường cho các chùa chiền, tăng ni, tự viện để tỏ lòng tôn kính, đồng thời làm
rạng danh các bậc tiên đế, hay để mãi mãi ghi nhớ người thân quá cố. Việc
làm này cũng nhằm cầu nguyện cho sự thịnh vượng của triều đại, sự trường
thọ của gia tộc, họ hàng, cho lợi ích của nhân dân. Mọi tầng lớp xã hội đều
ủng hộ Phật giáo, sinh hoạt Phật giáo đều thu hút sự chú ý của mọi người, tạo
nên sự phồn thịnh Phật pháp.
Mặt khác, như Kinh Dịch đã viết: “Cùng tắc biến, cực tắc phản”, một sự
vật, một quá trình đạt đến trình độ cao nhất của nó, tất có sự biến đổi về chất
mà thường là theo chiều hướng ngược lại. Nhà Đường cực thịnh ở thời Khai
Nguyên, Thiên Bảo của Đường Minh Hoàng (Huyền Tông), cũng thời đó
đánh dấu một bước suy thoái quan trọng của nhà Đường. Quá trình phát triển
đến cực thịnh, trong lòng xã hội đã ấp ủ quá nhiều mâu thuẫn, đằng sau vẻ
phồn vinh, thịnh trịẩn giấu bao mầm mống tai họa. Có thể nói, trong số ba triều
đại vẻ vang, văn minh nhất của Trung Quốc: Chu, Hán, Đường - Đường bề
ngoài có vẻ rực rỡ nhất, mà bề trong loạn nhất, triều đình bê bối nhất. Bọn hoạn
quan hoành hành, giết hại người hiền năng, bán quan, buôn ngục, đục khoét
dân chúng, bạo ác không kể xiết. Loạn An Lộc Sơn kéo dài chín năm, gieo tai
họa nặng nề cho Trung Quốc, tàn phá đất nước này khủng khiếp và man rợ.
Điều này đặt Phật giáo đứng trước hiện thực khắc nghiệt, khó khăn, đòi hỏi
phải biến đổi thích ứng, phù hợp. Đó cũng có thể xem như một động lực thúc
đẩy tôn giáo này tự hoàn thiện. Hơn nữa, đang thái bình bỗng loạn lạc, quảng
đại nhân dân không nhìn thấy đường ra thì cõi Phật bình an, tinh thần từ bi, hỉ
xả, chúng sinh đều được bình đẳng và được cứu độ siêu thoát đã như một cứu
cánh, nâng đỡ, xoa dịu tâm hồn, tư tưởng “đốn ngộ thành Phật” mê hoặc lòng
người càng dễ dàng tiến sâu vào tinh thần quần chúng như một lối thoát, một
sự đền bù hư ảo.
quân địch xâm lược, triệu Sa Môn tụng “Nhơn Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La
22
Mật Đa Kinh”, vì dân vì nước làm lễ tiêu tai. Ngoài ra, ông còn hạ chiếu quan
sứ không được chèn ép tăng ni, tăng ni phạm pháp cũng không phải chịu hình
phạt. Khi đó, những ruộng đất màu mỡ phần lớn đều do nhà chùa sở hữu. Vua
Hiến Tông nghinh xá lợi Phật ở Phụng Tường Pháp Môn tự, lại mở ra một
phong trào sùng Phật sôi nổi trong xã hội.
Nhưng từ thời Trung Diệp, lao dịch càng nặng nề, nhân dân bị bóc lột
(“Tự Trị Thông Giám” quyển 211 “Đường Ký – Huyền Tôn Khai Nguyên năm
thứ hai”) [7; tr.58], nhiều người lấy tự viện làm nơi ẩn trốn. Tự viện nhân cơ
hội chế độ quân điền bị phá hủy, chiếm dân điền, mở mang trang viện. Tự
viện còn trốn thuế và lợi dụng kinh doanh công thương nghiệp, mở tiệm cầm
đồ, cho vay kiếm lời. Như vậy, tuy Phật giáo có tác dụng giúp người ta an
phận thủ thường, nhưng do sự mâu thuẫn giữa kinh tế tự viện và lợi ích nhà
nước ngày càng sâu sắc gay gắt, dẫn đến vào đời Đường Kinh Tông, Văn
Tông sau này chính quyền đã có ý đồ hủy diệt Phật giáo. Cuối cùng người kế
tự của Văn Tông là Võ Tông đã hạ lệnh khắp nơi hủy diệt tự miếu, lệnh cho
tăng ni hoàn tục. “Từ Hội Xương năm thứ hai đến năm thứ năm (842 - 845),
tổng cộng phá hủy hơn 4.600 ngôi chùa, 26 ngàn tăng ni phải hoàn tục, 15
ngàn nô lệ được giải phóng, tịch thu một số lượng lớn ruộng đất chùa
chiền”[7; tr.58]. Tất cả những nô tỳ được giải phóng, mỗi người được chia
ruộng trăm mẫu, ghi tên vào hộ tịch quốc gia, lấy các tượng đồng trong các
chùa để đúc tiền, tượng thép để làm nông cụ, tượng vàng bạc thu vào quốc
khố. Những tượng Phật trong dân gian hạn trong một tháng phải giao nộp cho
quan phủ, nếu vi phạm phải xử phạt. Theo lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Hội
Xương diệt Phật và loạn An Sử Chi vào thời Đường là hai cơ hội khiến Phật
giáo phát sinh sự thay đổi lớn. Sau loạn An Sử Chi, Thiền Tông Tuệ Năng và
tham ô, cơ hàn đói khổ” gây ra (Tư Trị Thông Giám-quyển 192-Đường ký
bát-Cao Tổ Võ Đức năm thứ 9) [62, tr.511]. Tổng kết khá chính xác này đã
dẫn đến việc Đường Thái Tông vô cùng coi trọng thái độ của nhân dân, vì thế
24