ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ GẤM
TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ
CHO NGƢỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG
VIÊN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI HUYỆN ĐÔNG
TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ GẤM
TÌM HIỂU MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ
CHO NGƢỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG
VIÊN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI HUYỆN ĐÔNG
TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Nguyên Anh
MỤC LỤC
MỤC LỤC ------------------------------------------------------------------------------------ 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ----------------------------------------------------- i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU --------------------------------------------------------- ii
MỞ ĐẦU -------------------------------------------------------------------------------------- 1
1.
Lý do lựa chọn đề tài ------------------------------------------------------------- 1
2.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu -------------------------------------------------- 3
2.1
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ------------------------------------------- 3
2.2
Tình hình nghiên cứu trong nước ---------------------------------------------- 7
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ------------------------------------------- 10
3.1.
Mục đích nghiên cứu ------------------------------------------------------------ 10
3.2.
6.1.
Giới hạn về không gian: --------------------------------------------------------- 12
6.2.
Giới hạn về thời gian ------------------------------------------------------------- 12
6.3.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu ---------------------------------------------------- 12
7.
Câu hỏi nghiên cứu -------------------------------------------------------------- 12
8.
Giả thuyết nghiên cứu ---------------------------------------------------------- 13
9.
Phƣơng pháp nghiên cứu ------------------------------------------------------ 13
10.
Bố cục luận văn. ------------------------------------------------------------------ 15
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU ------ 16
30
2.2.1. Nhu cầu của người có HIV/AIDS trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà ------------- 30
2.2.2. Kết quả hoạt động và tồn tại về chăm sóc tại nhà cho người có HIV/AIDS tại
huyện Đông Triều. --------------------------------------------------------------------------- 34
2.3. Tình hình hoạt động của các nhóm đồng đẳng viên về chăm sóc, hỗ trợ tại
nhà cho ngƣời có HIV/AIDS tại huyện Đông Triều. -------------------------------- 35
2.3.1. Tổ chức và phương thức hoạt động ------------------------------------------------ 35
2.3.2. Năng lực chăm sóc, hỗ trợ tại nhà tại cộng đồng-------------------------------- 38
2.3.3. Thuận lợi và thách thức ------------------------------------------------------------- 40
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH CHĂM SÓC, HỖ TRỢ TẠI NHÀ CHO
NGƢỜI CÓ HIV/AIDS THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒNG ĐẲNG VIÊN -
--------------------------------------------------------------------------------------- 45
3.1. Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất -------------------------------------- 45
3.1.1. Chăm sóc triệu chứng và hướng dẫn vệ sinh ------------------------------------- 47
3.1.2. Hướng dẫn, hỗ trợ tuân thủ, điều trị thuốc kháng Retro vi rút ARV ---------- 53
3.1.3. Tư vấn dinh dưỡng (Hỗ trợ/hướng dẫn về thực phẩm và dinh dưỡng: cung cấp
thực phẩm bổ xung, tư vấn dinh dưỡng hợp lý …) ------------------------------------- 57
3.1.4. Giới thiệu khách hàng chuyển tuyến, tiếp cận điều trị ARV khi cần thiết ---- 62
3.2. Trong hoạt động dự phòng lây nhiễm --------------------------------------------- 66
3.2.1. Hướng dẫn và khuyến khích tình dục an toàn, tiêm chích an toàn. ----------- 67
3.2.2. Tư vấn và hỗ trợ tiết lộ tình trạng HIV, giới thiệu dịch vụ xét nghiệm VCT-- 71
3.2.3. Giáo dục thông tin về dự phòng lây truyền từ mẹ sang con -------------------- 75
3.3. Trong hoạt động hỗ trợ về tâm lý, tâm linh tinh thần ------------------------- 77
3.3.1. Gần gũi, chia sẻ, động viên người có HIV+ -------------------------------------- 77
3.3.2. Vận động các nhà sư tham gia thực hiện chăm sóc về tinh thần, niềm tin, tín
ngưỡng và tôn giáo cho người có HIV+ -------------------------------------------------- 81
: Can thiệp giảm tác hại
ĐĐV
: Đồng đẳng viên
GDĐĐ
: Giáo dục đồng đẳng
GDVĐĐ
: Giáo dục viên đồng đẳng
NCH
: Người có HIV
NTCH
: Nhiễm trùng cơ hội
OPC
: Phòng khám ngoại trú
PLHIV
: Người sống chung với HIV/AIDS
dân cư trong cộng đồng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự
và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Đến nay, hơn 20 năm
đã qua kể từ khi Việt Nam đương đầu và ứng phó với HIV/AIDS, đến cuối năm
2013 cả nước có 216.254 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có 66.533
người ở giai đoạn AIDS và kể từ đầu vụ dịch đến nay đã có 68.977 người tử vong
do HIV/AIDS. So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm
HIV 11 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012: số trường hợp nhiễm HIV
giảm 15% (2062 trường hợp), số bệnh nhân AIDS giảm 16% (1064 trường hợp), tử
vong do AIDS giảm 2% (40 trường hợp), 16 tỉnh có số người nhiễm HIV được mới
xét nghiệm phát hiện tăng hơn so với cùng kỳ năm 2012 và 47 tỉnh có số người
nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiện giảm. Trung bình mỗi tháng trong năm 2013
có 1.100 người nhiễm HIV phát hiện mới. Qua các số liệu giám sát cho thấy dịch
HIV/AIDS đã xuất hiện ở 100% tỉnh, thành phố từ năm 1998 đến nay, 97,9% số
quận, huyện và trên 75,23%, số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS được báo
cáo [3, tr.4,5].
Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện nguyên tắc 03 thống nhất
do Liên Hợp Quốc khởi xướng phát động. Năm 2013, Việt Nam đã khống chế tỷ lệ
nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồng dân cư. Chương trình can thiệp giảm tác hại
1
và phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS được duy trì từ nhiều năm nay và đã đạt được
những kết quả đáng kể. Để có được những kết quả đó, không thể không nhắc tới vai
trò tích cực đội ngũ tuyên truyền viên đồng đẳng đã góp phần nâng cao nhận thức
xã hội trong việc tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng trước căn bệnh thế kỷ
HIV/AIDS [1].
Quảng Ninh là tỉnh đứng trong tốp đầu của cả nước về tỷ lệ nhiễm HIV
(chiếm khoảng 1% dân số toàn tỉnh). Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, toàn
tỉnh có 5.079 người nhiễm HIV/AIDS còn sống và 4.864 trường hợp tử vong do
chiến dịch xóa bỏ “tệ nạn xã hội” ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam có xu hướng
làm cho người tiêm chích và người bán dâm sợ hãi, xa lánh các chương trình tiếp
cận cộng đồng và có thể vô hình chung làm tăng các hành vi nguy cơ [28].
Hoạt động chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS đang
được coi là một hướng tiếp cận mới, trọng tâm của chương trình phòng, chống
AIDS. Chăm sóc, hỗ trợ, điều trị làm giảm đau đớn về thể chất, tinh thần, giúp kéo
dài cuộc sống và tăng cường chất lượng cuộc sống cho người nhiễm HIV/AIDS.
Zawmbia là một trong những nước Châu Phi đầu tiên thực hiện dịch vụ chăm sóc
HIV tại nhà. Dịch vụ này đã được quốc tế công nhận vì đạt chất lượng cao. Kinh
nghiệm phòng, chống AIDS tại một số nước như Braxi, Ấn Độ, Thái Lan và nhiều
nước khác cũng cho thấy: Tăng cường chăm sóc, hỗ trợ, điều trị cho người nhiễm
HIV/AIDS là biện pháp tốt nhất để khống chế, đẩy lùi dại dịch HIV/AIDS thông
qua giảm bớt sự sợ hãi, kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS, góp
phần làm tăng số người đến xét nghiệm tự nguyện, tư vấn và tiếp cận với điều trị
HIV [2], [13], [15], [30], [31].
Trong bối cảnh đó, quyền tham gia của những người sống chung với HIV
được tôn trọng có ý nghĩa rất lớn. Điều này không chỉ tạo điều kiện cho họ tiếp cận
tốt hơn các dịch vụ chăm sóc và điều trị, mà còn còn giúp họ có nhận thức đầy đủ
hơn về quyền và nghĩa vụ; có thể bày tỏ những mong muốn với tư cách là nhóm xã
hội dễ bị tổn thương; đồng thời đề xuất những chính sách liên quan đến lợi ích của
họ và cộng đồng, vì chính họ là người hiểu rõ hơn ai hết những nhu cầu, lợi ích và
hiệu quả của các nỗ lực. Lợi ích của việc thu hút sự tham gia của người có HIV
trong cuộc chiến chống căn bệnh thế kỷ ngày càng được nhận thức rõ và trở thành
cam kết chính trị và đạo đức trên quy mô toàn cầu [34].
Thuật ngữ GIPA là cụm từ viết tắt tiếng Anh - Greater Involvement of
People Living with HIV/AIDS (Tăng cường/ thúc đẩy sự tham gia của người nhiễm
HIV/AIDS) là một nguyên tắc cốt lõi của tất cả các chương trình quốc tế nhằm ứng
4
5
trình bày kết quả về một dự án được thiết kế để xác định các thành phần và nguyên
tắc ảnh hưởng của giáo dục đồng đẳng trong HIV/AIDS đến chất lượng và hiệu quả
chương trình, cũng như xác định các khoảng cách và các cưu tiên cho hoạt động
nghiên cứu. Dự án nhằm phân tích những điểm mạnh và hạn chế của giáo dục đồng
đẳng. Báo cáo kết luận rằng quá trình tiến hành đánh giá nhu cầu để xác định chủ đề
quan tâm đối với các nhà quản lý chương trình và đồng đẳng viên là cần thiết cho
việc phát triển các chương trình tư vấn về giáo dục đồng đẳng HIV/AIDS. Giáo dục
đồng đẳng là rất cần thiết trong việc kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS cũng như
giảm nhẹ tác động của nó [29].
Một số báo cáo về kết quả hoạt động phòng chống, giảm tác hại của
HIV/AIDS ở châu Á cũng chỉ ra rằng giáo dục đồng đẳng là quan trọng và cần thiết.
Ở hầu hết các quốc gia, các ứng phó với AIDS đều bắt rễ trong cộng đồng, do chính
những người sống chung với HIV, những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (bà
con bạn bè thân thích của họ, những người chăm sóc họ) và những nhà hoạt động xã
hội khởi xướng. Giờ đây, sự tham gia của ĐĐV cộng đồng được công nhận rộng rãi
như là một phần quan trọng trong việc thực thi các chương trình và cung cấp các
dịch vụ về HIV/AIDS. Đáng tiếc là ở châu Á, sự tham gia này không đồng đều và ở
nhiều nơi chỉ mang tính hình thức. Mặc dù vậy, một số quốc gia châu Á đã chú ý
đến cách tiếp cận GDĐĐ thông qua những sáng kiến thử nghiệm trong cộng đồng.
Trong một cuộc nghiên cứu 6.000 người hành nghề mại dâm ở bang Andhra
Pradesh của Ấn Độ, những người tham gia vào nhóm hỗ trợ người hành nghề mại
dâm có xu hướng dùng bao cao. Dường như quy mô nhỏ hơn khiến các tổ chức dân
sự linh hoạt hơn và ít quan liêu hơn so với các đối tác trong Chính phủ trong việc
đối phó với những phát sinh. Các chương trình thí điểm do các tổ chức xã hội dân
sự thực hiện có thể được xem xét và mở rộng ra phạm vi toàn quốc. Ví dụ, ở Trung
Quốc, những người có quan hệ đồng giới đã thiết lập các đường dây nóng để hỗ trợ,
tiếp cận cộng đồng này, các ĐĐV sẽ thuận lợi hơn rất nhiều trong việc tiếp cận, hỗ
trợ những người cùng cảnh ngộ. Còn về phía những đối tượng hưởng lợi sẽ an tâm
hơn trong việc tìm đến các dịch vụ, nguồn lực trợ giúp tại cộng đồng.
Trong báo cáo hoạt động của mình, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có những
nhận xét tích cực về sự tham gia và lợi ích của việc sử dụng các ĐĐV trong dự án
7
"Giáo dục viên đồng đẳng góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ
cao" đã đề cập tới lợi ích của việc sử dung các ĐĐV. Cụ thể là [32]:
- WB cho biết các hoạt động của GDĐĐ và đã bổ sung thêm một cấu phần
trong các dự án phòng chống HIV/AID bằng cách thành lập những nhóm GDĐĐ
bởi vì WB cho rằng việc trao đổi và tuyên truyền trực tiếp, mà đặc biệt thông qua
những đồng đẳng viên là phương pháp giáo dục hiệu quả nhất và là phương pháp
chính trong việc tuyên truyền các thông điệp liên quan tới HIV, nhất là khi tiếp cận
với nhóm nguy cơ lây nhiễm cao. Bên cạnh đó nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt
động của GDĐĐ, Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ một diễn đàn được tổ chức hai năm
một lần để các GDVĐĐ có cơ hội gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm trong việc tiếp cận
khách hàng, chuyển giao kinh nghiệm.
- Cục Phòng Chống HIV/AIDS Việt Nam cho biết: sau khi áp dụng rất nhiều
biện pháp khác nhau nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV, phương pháp GDĐĐ là một
phương pháp hiệu quả nhất. Hiện toàn quốc có hơn 5.000 GDVĐĐ đã đăng ký (có
thẻ tên đồng đẳng viên về phòng chống, can thiệp giảm tác hại của ma túy, mại
dâm, HIV/AIDS). Tất cả các GDVĐĐ này đều đã được đào tạo và hiện nay đang
tham gia tuyên truyền và phổ biến cho cộng đồng về những nguy cơ liên quan tới
mại dâm và tiêm chích ma túy. Nhờ những nỗ lực không ngừng của nhóm GDVĐĐ,
tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm những người nghiện hút ma túy đã giảm từ mức
30% trong năm 2000 xuống còn 18% trong năm trước. Con số này cho thấy hàng
nghìn đối tượng nghiện hút ma đã tránh được nguy cơ lây nhiễm HIV.
hỗ trợ tại nhà của các ĐĐV một cách cụ thể, thiết thực, khi tận dụng họ như một
nguồn lực cộng đồng trong các dự án, chương trình hành động phòng chống
HIV/AIDS.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các nhận định, đánh giá về mô hình chăm sóc, hỗ
trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên qua đó đưa ra các bài
học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy phát triển GDĐĐ, hướng đến sự phát triển bền
vững tại cộng đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát hóa những khái niệm và cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài;
- Tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của ĐĐV về chăm sóc, hỗ trợ tại
nhà cho người có HIV/AIDS;
- Tìm hiểu hoạt động chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người có HIV/AIDS
thông qua ĐĐV;
10
- Tìm hiểu hoat động dự phòng lây nhiễm cho người có HIV/AIDS thông
qua ĐĐV;
- Tìm hiểu hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tâm lý, tâm linh tinh thần cho người
có HIV/AIDS thông qua ĐĐV;
- Tìm hiểu tính bền vững về hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tại nhà của các
ĐĐV
- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp để các cấp ban ngành liên quan và nhân
viên xã hội có biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ĐĐV tại
cộng đồng.
4. Ý nghĩa của nghiên cứu
4.1. Ý nghĩa khoa học
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng
đẳng viên.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là các nhóm đối tượng hưởng lợi trong việc chăm
sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS như: PLHIV, thân nhân của họ, các
ĐĐV tại cộng đồng, các ban ngành đoàn thể liên quan.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về không gian:
Huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đây là một trong những địa bàn trọng
điểm về HIV/AIDS của tỉnh Quảng Ninh, và có các dự án, chương trình hành động
về phòng, chống, giảm tác hại của HIV/AIDS có sử dụng các ĐĐV.
6.2. Giới hạn về thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 7 năm 2014.
6.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu các nhận định, đánh giá về mô hình chăm
sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên nhằm xác
định tính bền vững của phương pháp GDĐĐ trong các dự án, chương trình hành
động tại địa phương.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Mô hình chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS thông qua đồng
đẳng viên là thiết thực và được cộng đồng nhìn nhận? Dựa vào câu hỏi chính này là
các câu hỏi cụ thể sau:
12
- Thứ nhất, nhu cầu của người dân về chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có
HIV/AIDS như thế nào?
- Thứ hai, cộng đồng đánh giá ra sao về các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại
nhà cho người có HIV/AIDS thông qua ĐĐV?
vực liên quan đến dự án, các chương trình hành động giảm tác hại tại cộng đồng có
sử dụng nhóm GDĐĐ được tham khảo. Những nguồn tài liệu này là cơ sở để xem xét
vai trò của các đồng đẳng viên trong trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có
HIV/AIDS. Bên cạnh đó, để có số liệu cụ thể gắn với địa bàn khảo sát, các báo cáo
của các cơ quan huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức chính trị - xã hội và
đoàn thể quần chúng liên quan được tham khảo sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
9.3. Phỏng vấn bán cấu trúc
Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu mô hình chăm sóc tại nhà cho
người có HIV/AIDS thông qua đồng đẳng viên. Với mục đích này, chúng tôi sử
dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích trong nghiên cứu định tính. Dựa trên
những nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phỏng vấn sâu 27 mẫu
thuộc các nhóm đối tượng khác nhau (chi tiết được thống kê tại bảng 1). Đối với
từng đối tượng cụ thể, nội dung phỏng vấn được hướng vào các chủ đề riêng biệt
nhằm khai thác các thông tin thích hợp.
Bảng 1. Các đối tượng được phỏng vấn sâu.
Nhóm đối tƣợng
Số ngƣời đƣợc
phỏng vấn
Người có HIV (khách hàng PLHIV)
11
Người thân, người sống cùng, trực tiếp chăm sóc người có HIV
4
Nhân viên chăm sóc
14
9.4. Thảo luận nhóm tập trung
Mục đích của thảo luận nhóm nhằm thu thập thông tin, ý kiến, quan điểm từ
các đồng đẳng viên, những người đóng vai trò then chốt trong khách thể nghiên cứu
về các vấn đề liên quan đến công việc của họ, mà trọng tâm là: vai trò, nhiệm vụ,
trách nhiệm, cách thức thực hiện và kết quả công việc của họ, những thuận lợi và
khó khăn mà họ gặp phải, những ý kiến đóng góp của họ. Qua đó nhằm phân tích
sâu thêm 02 chủ đề: 1/ Như thế nào là một ĐĐV tại cộng đồng?; 2/ Nhìn nhận về
các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS của các ĐĐV?.
9.5. Phương pháp quan sát không tham dự
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, phương pháp quan sát thực trạng đời
sống kinh tế xã hội; kiến thức, thái độ, hành vi của đồng đẳng viên từ đó để đánh
giá một cách khách quan về vai trò của họ trong chăm sóc tại nhà cho người có
HIV/AIDS. Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ, củng cố thêm những kết quả
nghiên cứu định tính đã thu thập được trong đề tài luận văn.
9.6. Phương pháp xử lý dữ liệu
Các file ghi âm được ghi chép lại thành dạng văn bản để thuận tiện cho việc
phân tích thông tin. Toàn bộ nội dung phỏng vấn và các bản ghi chép đều được đảm
bảo về nguyên tắc khuyết danh của người trả lời. Ngoài ra, để có thể rút ra được xu
hướng , trong quá trình xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành lượng hóa các dữ liệu định
tính bằng cách lọc các ý kiến trả lời giống nhau. Cách tổ chức thông tin này giúp
cho quá trình sử dụng thông tin vào việc phân tích kết quả nghiên cứu.
10. Bố cục luận văn.
Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị thì nội
dung nghiên cứu chính được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của ngiên cứu
Chương 2: Thực trạng HIV/AIDS và nhận diện hoạt động của các đồng đẳng viên
trong chăm sóc, hỗ trợ tại nhà cho người có HIV/AIDS tại Đông Triều, Quảng Ninh.
- Mắc phải là không do di truyền mà do bị nhiễm trong cuộc sống
- Hội chứng suy giảm hệ miễn dịch mắc phải:
Hội chứng: Nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như sốt, tiêu chảy, lao, phổi,
viêm não, các bệnh về da…do căn bệnh nào đó gây ra cho cơ thể.
16