tóm tắt luận án thực trạng chăm sóc sau sinh của bà mẹ đến sinh con tại hai bệnh viện ở hà nội và đánh giá hiệu quả mô hình chăm sóc sau sinh tại nhà - Pdf 19



TểM TT LUN N TIN S Y T CễNG CNG H Ni, 2014 
Công trình được hoàn thành tại

Cơ sở đào tạo sau đại học - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Người hướng dẫn khoa học:

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Phạm Phương Lan, Vương Tiến Hòa, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Tuấn
Hưng (2011), “ Kiến thức, thực hành, và nhu cầu chăm sóc sau sinh
của các bà mẹ đến sinh con tại Bệnh viện Phụ sản trung ương và
Bệnh viện đa khoa Ba Vì”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXI, số 7
(125), Tr.165-174.

2. Phạm Phương Lan, Vương Tiến Hòa, Nguyễn Thị
Thùy Dương, Lê
Anh Tuấn (2012), “Hiệu quả mô hình chăm sóc sau sinh tại nhà cho
các bà mẹ đến sinh con tại Bệnh viện Phụ sản trung ương và Bệnh
viện Ba Vì”, Tạp chí Y học dự phòng, tập XXII, số 6 (133), Tr.124-
132.

3. Phạm Phương Lan, Nguyễn Thị Thùy Dương, Vương Tiến Hòa
(2013), “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành
chăm sóc sau sinh của các bà mẹ đến sinh con tại bệnh viện tại
Bệnh viện Phụ sản trung ương và Bệnh viện Ba Vì năm 2011”, Tạp
chí Y học dự phòng, tập XXIII, số 7 (143), Tr.110-116.



1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời kỳ sau sinh là một giai đoạn vô cùng quan trọng do có sự thay đổi
mạnh mẽ về thể chất, sinh lý, cảm xúc cùng với sự nảy sinh các mối quan
hệ mới và là bước chuyển vai trò từ "người phụ nữ" trở thành "người
mẹ". Đây cũng là giai đoạn mà sức khỏe của người mẹ và trẻ
sơ sinh cần
được quan tâm nhiều nhất. Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) cho biết
khoảng 13% và 4% tỷ lệ tử vong mẹ; 5% và 15% tử vong sơ sinh xảy ra
vào tuần thứ nhất và tuần thứ 2 sau sinh. Kiến thức về chăm sóc sau sinh
có ý nghĩa rất cơ bản đối với bà mẹ vì có thể giúp phát hiện sớm và xử trí
kịp thời các bất thường của bà mẹ và trẻ sơ sinh giai đo
ạn này, góp phần
làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong mẹ-con. Bổ sung và nâng cao kiến
thức còn giúp các bà mẹ có thực hành chăm sóc bản thân và con một cách
khoa học. Trong khi nhu cầu về chăm sóc sau sinh của các bà mẹ ngày
càng nhiều thì gánh nặng chăm sóc sau sinh tại các cơ sở y tế công cần
được chia sẻ theo những hình thức khác mà chăm sóc tại nhà là một mô
hình đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới. Hiệu quả c
ủa mô
hình này như thế nào, có những khó khăn thuận lợi gì, liệu có được cộng
đồng chấp nhận, khả năng đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sau sinh của bà
mẹ như thế nào, việc áp dụng hình thức CSSS tại nhà khác nhau ra sao ở
thành thị và nông thôn, hình thức này có thể được thực hiện ở bệnh viện
cấp nào, đó là những giả thuyết để chúng tôi tiến hành đề tài : “Thực

3. Cấu trúc luận án:
Luận án gồm 131 trang, 4 chương gồm: Đặt vấn đề: 2 trang, Chương 1-
Tổng quan: 27 trang, Chương 2-Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu:
19 trang, Chương 3-Kết quả: 51 trang, Chương 4-Bàn luận 29 trang, Kết
luận: 2 trang, Kiến nghị: 1 trang. Luận án có 45 bảng, 6 biểu đồ, 4 hình
và 1 sơ đồ, 113 tài liệu tham khảo trong đó có 44 tài liệu ti
ếng Việt và 67
tài liệu Tiếng Anh, phụ lục là bộ phiếu phỏng vấn.

Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. Chăm sóc sau sinh cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tại cộng đồng
1.1.1. Một số khái niệm:
- Giai đoạn sau sinh bao gồm thời kỳ hậu sản (postpartum) trong 6 tuần
lễ và thời kỳ sơ sinh (newborn period) trong 4 tuần lễ sau khi trẻ ra đời.
- TCYTTG định nghĩa CSSS bao gồm việc theo dõi và chuyển tuyến
đi
ều trị cho bà mẹ nếu có biến chứng như băng huyết, đau, nhiễm khuẩn,
ngoài ra còn bao gồm cả tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, dinh dưỡng thời
kỳ nuôi con, các tư vấn về chăm sóc sơ sinh và KHHGĐ. Nội dung chăm
sóc sơ sinh bao gồm cho bú sớm và bú hoàn toàn, giữ ấm, chăm sóc và
giữ gìn vệ sinh rốn và phát hiện kịp thời các dấu hiệu đưa trẻ đi khám và
điề
u trị.
1.1.2. Sinh lý hậu sản thường và sơ sinh đủ tháng
Ngay sau khi sinh, cơ thể bà mẹ đã xuất hiện những thay đổi của một
số bộ phận như tử cung, phần phụ, tiết niệu, vú. Một số hiện tượng lâm
sàng như co hồi tử cung, sản dịch, tiết sữa …cũng xảy ra. Ở trẻ sơ sinh,
cần chú ý theo dõi đến tình trạng hô hấp, bài tiết ở trẻ

1.2. Kiến thức, thực hành của bà mẹ về chăm sóc sau sinh
Trên thế giới, kiến thức và thực hành về CSSS của bà mẹ còn thiếu và
yếu, một số nơi, đặc biệt là ở các nước đang phát triển mang đậm ảnh
hưởng của yếu tố tập quán, thói quen. Bà mẹ có thể không được chăm
sóc đầy đủ, khoa học. Số ít có thể bị bạo hành mà hậu quả có thể ảnh
hưởng lâu dài đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức, thực hành CSSS của
bà mẹ thấp, đặc biệt các bà mẹ ở miền núi. Nhiều bà mẹ thiếu kiến thức
về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh-lao động, nghỉ ngơi, các dấu hiệu nguy
hiểm thời kỳ sau sinh, cũng như thời điểm có thể sinh hoạ
t tình dục trở
lại.
1.3. Mô hình chăm sóc sau sinh tại nhà do cán bộ y tế thực hiện
Chăm sóc tại nhà sau sinh do các cán bộ y tế thực hiện đã triển khai ở
tất cả các nước khu vực Bắc Âu, Tây Âu và một số nước châu Á. CSSS
tại nhà giúp nâng cao kiến thức và thực hành CSSS cho bà mẹ, tăng tỷ lệ
trẻ được bú mẹ và trẻ được ủ ấm. Ở Việt Nam dịch vụ CSSS tại nhà đã
được một số cơ sở y tế trong và ngoài công lập tiến hành từ một vài năm
trở lại đây ở các thành phố lớn. Giá dịch vụ khoảng từ 150.000 đến

4
700.000 đồng/buổi. Hiện chưa có nghiên cứu nào phân tích sự thay đổi
về kiến thức và thực hành CSSS của bà mẹ khi sử dụng các dịch vụ CSSS
tại nhà.

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản trung ương, Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì
và tại nhà các sản phụ tham gia nghiên cứu.

Tại mỗi địa bàn 10 mẫu đại diện để phỏng vấn sâu.
2.2.1.4. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Z
2
1-
α
/2
p(1-p)

d
2

n=

5
Sử dụng 02 phương pháp thu thập số liệu: phương pháp định lượng:
bảng kiểm và bảng câu hỏi có sẵn; phương pháp định tính: sử dụng
hướng dẫn phỏng vấn sâu.
2.2.2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng
2.2.2.1.Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2011
2.2.2.2. Đối tượng nghiên cứu: Bà mẹ sinh con trong thời gian nghiên
cứu tại 2 bệnh viện
- Nhóm can thiệp:Bà mẹ
sinh tại 2 bệnh viện được chọn trong thời gian
nghiên cứu, sống tại Hà Nội và các vùng lân cận, có sử dụng dịch vụ
chăm sóc tại nhà và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Nhóm chứng: Bà mẹ sinh tại 2 bệnh viện trong thời gian nghiên cứu,
sống tại Hà nội, không sử dụng bất kỳ hình thức chăm sóc tại nhà nào (kể
cả nhờ cán bộ y tế đến khám) và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các đối tượ

sinh đạt yêu cầu theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Vân là 40%, P
2
: ước
tính tỷ lệ sau can thiệp là 50 %, p: (p
1
+ p
2
)/2, Z
1-
α
/2
: độ tin cậy lấy
ngưỡng xác suất 95% ), Z
1-β
: lực mẫu (= 80%). Cỡ mẫu tính được là: n
1
= n
2
= 468. Lấy thêm 10% đề phòng một số bà mẹ không tham gia được
đến khi kết thúc nghiên cứu, được cỡ mẫu là n
nhóm can thiệp
= n
nhóm chứng
=
519 bà mẹ. Tổng mẫu: 1038 bà mẹ
Để tránh sai số do chọn mẫu không ngẫu nhiên, các bà mẹ trong nhóm
chứng được chọn ghép cặp theo độ tuổi, số con sống và mức thu nhập
trung bình/tháng
- Phần nghiên cứu định tính: bao gồm 10 bà mẹ, 10 đại diện gia đình, cán
bộ y tế: 06

thiệp (HQCT)
- Số liệu định tính: phỏng vấn sâu, ghi âm, gỡ băng và viết thông tin dưới
dạng văn bản. Sử dụng để trích dẫn trong phần kết quả và bàn luận.

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng kiến thức, thực hành và nhu cầu về chăm sóc sau
sinh của các bà mẹ đến sinh con tại Bệnh viện Phụ sản trung ương và
Bệnh viện huyện Ba Vì
3.1.1. Thự
c trạng chăm sóc sau sinh tại gia đình
3.1.1.1. Đặc điểm của các bà mẹ tham gia nghiên cứu
Tổng số có 762 bà mẹ tham gia nghiên cứu tại hai bệnh viện, trong đó
nông thôn chiếm 49%, thành thị chiếm 51%. Hầu hết các bà mẹ nằm

7
trong độ tuổi dưới 30 (57,5%), trình độ học vấn khá cao từ cao đẳng trở
lên (71,5% trong nhóm thành thị, 53,5% trong nhóm nông thôn). Có sự
khác biệt giữa hai nhóm về trình độ học vấn và nghề nghiệp. Có hơn 1/2
số bà mẹ tham gia nghiên cứu có tổng thu nhập hàng tháng 1-3 triệu
đồng. Số con trung bình là 1,5.
Có 60,9% các bà mẹ tham gia nghiên cứu chọn phương pháp sinh mổ.
Đặc điểm mang thai bình thường là 90,8%, tỷ lệ trẻ sinh non và bệnh lý
thấp: 8,2%. Cân nặng trẻ sơ sinh trên 2.500g chiếm đ
a số.
3.1.1.2.Điều kiện sinh hoạt và chăm sóc sau sinh của bà mẹ
Có sự khác biệt về điều kiện sinh hoạt ở nông thôn và thành thị về hình
thái nhà ở, nguồn nước sạch sinh hoạt (4,6% bà mẹ thành thị sử dụng
nước giếng khoan, tỷ lệ này trong nhóm các bà mẹ nông thôn là 26,2%,
p<0,001). Người giúp đỡ chủ yếu cho phụ nữ sau sinh lần lượt là mẹ

33,80%
66,20%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Các dấu hiệu
bệnh
Lao động, vệ
sinh
Dinh dưỡng KHHG Đ
Đạt Không đạt

Biểu đồ 3.1. Kiến thức của bà mẹ trên một số tiêu chí chăm sóc sau sinh
Về các nhóm kiến thức chuyên biệt, kết quả cho thấy các bà mẹ có tỷ lệ
đạt cao nhất về dấu hiệu bệnh (38%), tiếp đến là KHHGĐ (33,8%), lao
động- vệ sinh (21,7%) và dinh dưỡng đạt thấp nhất (13%).
Bà mẹ cho rằng thời kỳ sau sinh khá an toàn với mẹ và con. Họ tỏ ra
khá thụ động trong việc chăm sóc bản thân và con cái trong thời gian này
vì đã có thành viên khác của gia đình giúp đỡ.
“…Em chỉ mong sao mẹ tròn, con vuông là được rồi, chứ những việc
chăm sóc cho mẹ con trong thời gian này thì đã có bà nội, bà ngoại lo hết
hộ rồi. Yên tâm lắm chị ạ…” (BM03PSTƯ).

n=762
Lao động
N % N % n %
Lao động bình thường 32 8,2 40 10,7 72 9,4
Nghỉ ngơi hoàn toàn 357 91.8 333 89,3 690 90,6
Ngủ

Ngủ dưới 8h/ngày 59 15,2 34 9,1 93 12,2
Ngủ ≥8h/ngày
330 84,8
339
90,9 669 87,8
Vệ sinh sau đẻ

Tắm nhanh với nước ấm 281 72,2 279 74,8 560 73,5
Tắm giặt bình thường 13 3,3 3 0,8 16 2,1
Không tắm 1 thời gian 95 24,4 91 24,4 186 24,4
Vệ sinh vú và âm hộ hàng ngày

Có 262 67,4 238 63,8 500 65,6
Không 127 32,6 135 36,2 262 34,4
Về vệ sinh, lao động, phần lớn các bà mẹ có kiến thức cần lao động
nhẹ, ngủ nhiều sau sinh. Tuy nhiên, vẫn có bà mẹ thực hiện kiêng khem,
có 1/3 các bà mẹ không vệ sinh vú và âm hộ hàng ngày (34,4%).

Bảng 3.22. Thực hành về dinh dưỡng theo địa bàn cư trú
Tiêu chí thực hành Thành thị
N=389
Nông thôn
n=373

u định tính cho thấy ít bà mẹ tìm
đến các phương pháp chữa bệnh cổ truyền cho con. Tuy nhiên, một số bà
mẹ lại có một số hành vi chữa bệnh dân gian khi chăm sóc sức khỏe cho
bản thân, chẳng hạn như dùng thuốc phiện để giảm đau do co dạ con,
dùng cơm nóng bọc vải để day bầu vú cho nhanh về sữa.

3.1.3.2.Thực hành chung của bà mẹ về CSSS Biểu đồ 3.4 Thực hành chung của bà mẹ về CSSS
Tỷ lệ đạt về thực hành của bà mẹ trong nghiên cứu này là 34,6% gần
với tỷ lệ đạt trong nghiên cứu của Lê Thị Vân là 35,4% (Biểu đồ 3.4)

11

3.1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành chăm sóc
sau sinh của bà mẹ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi mẹ, số con sống là những yếu tố
tác động đến kiến thức và thực hành về CSSS. Cụ thể, các bà mẹ trên 30
tuổi, đã sinh con lần thứ 2 trở lên có kiến thức và thực hành CSSS tốt hơn
từ 2,8 cho đến 3,3 lần các bà mẹ thuộc nhóm tuổ
i dưới 30 và có con lần
đầu (con so). Bảng 3.26. Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành CSSS
Kiến thức về
CSSS của bà mẹ
Thực hành CSSS đạt
Không đạt Đạt Tổng

Điều kiện tinh thần
Được cung cấp thông tin
301 77,0 277 74,3 578 75.9
Được quan tâm, chia sẻ 237 60,6 189 50,7 426 55.9
Không phải lo nghĩ về kinh tế 193 49,4 164 44,0 357 46.9
Khác
2 0,5 11 3,0 13 1.7
Nhu cầu được cung cấp thông tin là nhu cầu cấp thiết của các bà mẹ
được đặt lên hàng đầu chiếm 75,9%. Nhu cầu được kiểm tra sức khỏe cho
mẹ và con đứng hàng thứ hai 66,4%, tiếp theo là các nhu cầu về giúp đỡ
việc nhà và nhu cầu về tình cảm: được quan tâm, chia sẻ (bảng 3.29).

3.1.6. Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc tại nhà
Sau khi được giải thích về dịch vụ tư vấn, CSSS tại nhà, tỷ lệ các bà
m
ẹ thành thị đồng ý khá cao: 96%, trong khi các bà mẹ ở nông thôn e dè
hơn chỉ với 50,1% đồng ý sử dụng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p <0,001.
Lý do các bà mẹ không đồng ý sử dụng dịch vụ là đã mời cán bộ y tế
về nhà giúp (43,2%); giá đắt (32,4%), nhà xa (29,7%). Chỉ có 5,1% cho
rằng không cần thiết có dịch vụ này.

3.2. Hiệu quả mô hình chăm sóc tại nhà cho bà mẹ và trẻ sơ sinh giai
đoạn sau sinh tại 2 bệnh viện đượ
c chọn.

3.2.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.2.1.1. Các đặc trưng nhân khẩu học
Đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi chủ yếu dưới 40. Trong đó
nhóm 20-29 tuổi có tỷ lệ cao nhất (56,9%). Bà mẹ trẻ dưới 20 tuổi và bà

Sau khi áp dụng, mô hình can thiệp CSSS tại nhà đã có tác động tích
cực đến kiến thức về CSSS của bà mẹ.

37,20%
37,80%
54,10%
40,90%
0%
20%
40%
60%
Nhóm NC Nhóm chứng
trước can
thiệp
sau can
thiệp

Biểu đồ 3.5. Sự thay đổi về kiến thức chung CSSS

Đánh giá chung sau can thiệp cho thấy về kiến thức chung về CSSS
của bà mẹ nhóm can thiệp đã tăng cao hơn nhiều so với trước can thiệp
có ý nghĩa thống kê (p<0,001) với CSHQ là 45,4%. Trong khi đó, sự thay
đổi kiến thức chung CSSS ở nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05) với CSHQ thấp: 8,2%. Sau can thiệp, kiến thức CSSS của bà mẹ
nhóm can thiệp tăng cao hơn nhiều so v
ới bà mẹ nhóm chứng có ý nghĩa
thống kê (p<0,001) với HQCT là 37,2%.

Bảng 3.37. Sự thay đổi kiến thức CSSS của bà mẹ theo dấu hiệu bệnh
Đánh

HQCT = 31,5%; p<0,001

Kết quả cho thấy sau can thiệp kiến thức về phát hiện các dấu hiệu
bệnh của các bà mẹ nhóm can thiệp tăng lên nhiều so với trước can thiệp
có ý nghĩa thống kê (p<0,001) với CSHQ là 40,3%. Kiến thức của bà mẹ
nhóm can thiệp về phát hiện dấu hiệu bệnh tăng rõ rệt so với bà mẹ thuộc
nhóm chứng với HQCT là 31,5% (p<0,001). Bảng 3.38. Sự thay đổi kiến thức CSSS của bà mẹ
theo tiêu chí vệ sinh lao động
Đánh
giá
Nhóm can thiệp Nhóm chứng
Trước
CT
Sau CT CSHQnc
t
p
Trước
CT
Sau CT CSHQn
c
p
SL % SL % SL % SL %
Đạt 13
7
26,
4
26

8
37
0
71,
3
Chỉ
số
HQCT = 60,5%, p<0,001
Sau can thiệp kiến thức của bà mẹ nhóm can thiệp về vệ sinh lao động
tăng cao hơn so với trước can thiệp với CSHQ cao 89,8%. Sự thay đổi
kiến thức của bà mẹ ở nhóm chứng với CSHQ thấp hơn là 29,3%. Kết
quả cho thấy kiến thức của bà mẹ nhóm can thiệp về vệ sinh lao động
tăng rõ rệt so với bà mẹ nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p<0,001) với
HQCT là 60,5%.
Bảng 3.39. Sự thay
đổi kiến thức CSSS của bà mẹ theo tiêu chí dinh
dưỡng
Đánh
giá
Nhóm can thiệp Nhóm chứng
Trước
CT
Sau CT CSHQnct
P
Trước
CT
Sau CT CSHQnc
p
SL % SL % SL % SL %
Đạt 104

CT
Sau CT CSHQnct
P
Trước
CT
Sau CT CSHQnc
P
SL % SL % SL % SL %
Đạt 175
33,7
260
50,1
48,7%
p<0,001

175
33,7
208
40,1
19,0%
p<0,05

Không
đạt
344 66,3 259 49,9 344 66,3 311 59,9
Chỉ số
HQCT = 29,7%; p<0,01
Kết quả cho thấy sau can thiệp tỷ lệ bà mẹ nhóm can thiệp có kiến thức
về KHHGĐ tăng lên so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
với CSHQ cao 48,7%. Sự thay đổi kiến thức của bà mẹ ở nhóm chứng

bà mẹ nhóm can thiệp tốt hơn so với trước can thiệp, có ý nghĩa thống kê

16
(p<0,001) với CSHQ là 50,8%. Trong khi đó, sự thay đổi thực hành của
bà mẹ nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) với CSHQ là
10,9%. Sau can thiệp, thực hành của các bà mẹ nhóm can thiệp tốt hơn so
với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p<0,001) với HQCT là 39,9%.

3.2.4. Đánh giá của bà mẹ về chất lượng dịch vụ
Các bà mẹ trong nhóm can thiệp có sử dụng mô hình CSSS tại nhà cho
thấy 100% các bà mẹ đánh giá mô hình có hiệu quả và thái độ của cán bộ
y tế ân cầ
n khi cung cấp dịch vụ.
Nghiên cứu định tính cũng cho thấy các bà mẹ và ông bố rất yên tâm
khi có cán bộ y tế đến chăm sóc thời kỳ sau đẻ [13].
“Mô hình này nên được áp dụng rộng rãi vì bây giờ đẻ ít nên ai cũng
sẵn sàng chi trả cho cán bộ y tế đến khám” (BM16PSTW)
Về giá cả của dịch vụ, đa số bà mẹ cho rằng giá dịch vụ vừa phải và
hợp lý. Có ý kiến của bà mẹ cho rằng thời
điểm chăm sóc trong ngày
chưa hợp lý vì phải phục vụ nhiều ca trong ngày làm cho các bà mẹ bị
động. Điều này cũng ảnh hưởng đến sự thuận tiện của mô hình khi xuất
hiện dưới hình thức dịch vụ trả tiền.

3.2.5. Đánh giá dịch vụ về phía người cung cấp
Đánh giá dịch vụ chăm sóc tại nhà, các cán bộ y tế tham gia trực tiếp
đều cho rằng dịch vụ
có tầm quan trọng đối với công tác CSSS, là một
biện pháp gíup bệnh viện giảm tải và có thể triển khai thành công tại
cộng đồng. Về chuyên môn, do những chăm sóc, thăm khám này đơn

có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
4.1.1.3. Người chăm sóc chính bà mẹ sau đẻ
Những người thân trong gia đình như mẹ đẻ, mẹ chồng, chị em gái, họ
hàng, người giúp việc tham gia trực tiếp vào quá trình chăm sóc. Tỷ lệ
các bà mẹ không có người giúp rất ít: 0,5%, Vai trò của người chồng lại
khá mờ nhạt: chưa đến ½ số người tham gia (44,3%). Điều này cũng có
thể được giải thích vì quan niệm từ xưa cho rằng công việc CSSS là của
đàn bà, con gái, không phải việc của đàn ông.
4.1.1.4. Tiếp cận thông tin về CSSS của bà mẹ
Do địa bàn đều thuận lợi, gần thành phố lớn nên các bà mẹ thuộc hai
địa điểm nghiên cứu
đều tiếp cận dễ dàng với các nguồn thông tin. Sự
khác biệt ở chỗ, các bà mẹ thành thị lấy thông tin từ hai nguồn chính là
cán bộ y tế (46,5%) và Internet (46,2%) còn các bà mẹ ở nông thôn thì
lấy từ nguồn mẹ đẻ (43,3%) và mẹ chồng (42,5%). Về mặt lý thuyết, dịch
vụ CSSS tại nhà trong hai tuần đầu tiên sau sinh hoàn toàn có đủ điều
kiện để triển khai tại hai địa bàn nghiên cứu.
4.1.1.5. Tình trạng sức khỏe củ
a bà mẹ và trẻ sơ sinh
Có khoảng 10%-20% các bà mẹ gặp những vấn đề sức khỏe sau sinh.
Các vấn đề về sức khỏe mà bà mẹ gặp phải trong thời kỳ sau sinh là đau,
ra máu, nhiễm khuẩn và các vấn đề về tuyến vú. Tỷ lệ các bà mẹ nông
thôn gặp nhiều vấn đề sức khỏe sau sinh hơn các bà mẹ thành thị (bảng
3.7). Lý do có thể giải thích cho sự khác biệt này là các bà mẹ nông thôn
tiếp c
ận với thông tin về CSSS, hoặc các dịch vụ về thăm khám sau sinh
hạn chế hơn các bà mẹ ở thành thị.

4.1.2. Thực trạng về kiến thức CSSS
4.1.2.1. Kiến thức của các bà mẹ theo các tiêu chí chuyên biệt:

có 13,3% các bà mẹ có
kiến thức đạt. Kiến thức CSSS của các bà mẹ thành thị nhìn chung là tốt
hơn các bà mẹ ở nông thôn. Các yếu tố tác động như cơ hội nhận thông
tin, người giúp đỡ, điều kiện kinh tế… tạo nên sự khác biệt này sẽ được
phân tích sâu hơn ở phần sau.

4.1.3. Thực hành về chăm sóc sau sinh của bà mẹ
4.1.3.1. Thực hành theo các tiêu chí chuyên biệt
Phần lớn các bà mẹ đã được h
ưởng chế độ nghỉ ngơi sau đẻ với 90,6%
bà mẹ không phải lao động, 87,8% ngủ đủ 8 giờ hoặc nhiều hơn/ngày.
Không thấy có sự khác biệt giữa các bà mẹ ở hai khu vực về vấn đề thực
hành ăn, ngủ nghỉ trong thời gian sau đẻ. Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh sau
đẻ còn khá nhiều bà mẹ thực hiện chế độ kiêng khem. Kết quả cho thấy
24,4% các bà mẹ kiêng không tắm trong một thờ
i gian và 34,4% các bà
mẹ không vệ sinh vú và âm hộ hàng ngày. Đây có thể là nguyên nhân dẫn
đến các nhiễm khuẩn hoặc các vấn đề về tuyến vú.

19
Về dinh dưỡng, thực hành của bà mẹ về uống bổ sung vitamin A và
viên sắt rất thấp. Chỉ có 0,4% các bà mẹ có sử dụng Vitamin A sau sinh
và 15,8% các bà mẹ uống đủ viên Sắt. Điều này cho thấy có sự thiếu hụt
trong tư vấn sau sinh cho các bà mẹ về bổ sung Sắt và Vitamin A cho bà
mẹ sau sinh. Việc nuôi con bằng sữa trong 6 tháng đầu là một mục tiêu
của chương trình Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM).Tỷ lệ BPTT thấp
(26,1%) có thể
do thời điểm khảo sát khá sớm nên nhiều bà mẹ chưa có
sinh hoạt tình dục trở lại. Cũng không tìm thấy sự khác biệt trong thực
hành về KHHGĐ giữa hai nhóm bà mẹ tại hai địa bàn nghiên cứu.

không đạt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,0001.
Nghiên cứ
u này không tìm thấy mối liên quan của nghề nghiệp, trình
độ học vấn, đến kiến thức, thực hành CSSS của bà mẹ. Điều này có thể

20
giải thích bởi kiến thức và thực hành CSSS của bà mẹ chủ yếu dựa trên
“tích lũy- trải nghiệm- rút kinh nghiệm”. Nghĩa là không liên quan nhiều
đến giáo dục, đào tạo một cách chính thống. Các cụm từ: “lần trước”,
“em nhớ lần đẻ đứa trước”…được lặp lại khá nhiều khi đề cập đến chế
độ ăn uống, nghỉ ngơi sau sinh của các bà mẹ
.
Về tình trạng kinh tế và các điều kiện sinh hoạt khác như nguồn nước,
phòng riêng, điều kiện nhà ở, nghiên cứu cũng không tìm thấy mối liên
hệ nào với kiến thức và thực hành của bà mẹ về CSSS.

4.1.5. Nhu cầu của bà mẹ về dịch vụ chăm sóc sau sinh
Khảo sát nhu cầu của các bà mẹ cho thấy có sự thay đổi về thứ tự ưu
tiên các nhóm nhu cầu. Các nhu cầu thiế
t yếu về ăn uống, ngủ nghỉ, chế
độ sinh hoạt không đứng ở vị trị hàng đầu nữa mà thay vào đó là nhóm
nhu cầu ở mức cao hơn: được cung cấp thông tin, được chia sẻ thông tin.
Có 75,9% các bà mẹ muốn được cung cấp thông tin khoa học về chăm
sóc cho mẹ và con. Thiếu kiến thức về CSSS của bà mẹ là yếu tố cơ bản
ngăn trở bà mẹ chăm sóc sức khỏe cho h
ọ và con họ một cách khoa học.
Sự khác biệt giữa nhu cầu chăm sóc và nội dung chăm sóc có thể dẫn
đến sự thiếu hụt về lượng và chất trong CSSS. Nhu cầu của bà mẹ trong
giai đoạn CSSS cần được chú ý nhiều hơn để rút ngắn khoảng cách giữa
nhu cầu và đáp ứng nhu cầu từ phía y tế.

20-29, có thu nhập từ 3 đến 10 triệu đồng, số con
sống trung bình là 1,55, số bà mẹ có con đầu lòng và số bà mẹ đã có từ 2
con trở lên khá tuong đồng là 51% và 49%. Sự tương đồng giữa hai nhóm
cho phép loại trừ các sai số do không lựa chọn ngẫu nhiên, bù đắp cho
hạn chế của 1 thiết kế nghiên cứu cộng đồng có đối chứng.
4.2.2. Đặc điểm của lần sinh tại thời điểm nghiên cứu

Như đã trình bày, do điều kiện chọn mẫu là những bà mẹ có thời gian
nằm viện >24 giờ nên tỷ lệ mổ đẻ khá cao so với thực tế ở hai bệnh viện:
chiếm 77,4%. Tuy nhiên, kết quả này không làm ảnh hưởng đến kiến
thức và thực hành của các bà mẹ do hai nhóm cùng được chọn từ một
quần thể nghiên cứu. Thời gian nằm viện trung bình là 2,6 ngày, dài hơn
giá trị này trong nghiên cứu c
ắt ngang do tỷ lệ mổ đẻ cao hơn nên thời
gian nằm viện của các bà mẹ cũng dài hơn (77,4% so với 60,9% trong
nghiên cứu cắt ngang).
4.2.3.Điều kiện sinh hoạt sau sinh của bà mẹ
Bà mẹ có điều kiện sinh hoạt tốt sau khi sinh. Tỷ lệ được dùng nước
sạch, có phòng sinh hoạt riêng, có nhà vệ sinh tiêu chuẩn đều cao hơn
90%. Điều này cũng là một thuận lợi để tiến hành can thiệp CSSS tạ
i nhà
do loại bỏ được các yếu tố gây nhiễu ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc
Có đến 98,7% bà mẹ có người giúp đỡ sau khi sinh. Đây chính là một
yếu tố vừa là thuận lợi và là bất lợi đến kiến thức, thực hành của bà mẹ
trong điều kiện, hiểu biết về CSSS đang chịu nhiều ảnh hưởng của tập
quán cộng đồng. KAP của bà mẹ
về CSSS cũng chịu nhiều ảnh hưởng
của người giúp đỡ chính.
4.2.4.Hiệu quả của mô hình đến kiến thức về CSSS của bà mẹ
Thiết kế mô hình can thiệp tại nhà về CSSS nhìn chung đã đáp ứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status