*
62.72.01.64
Tãm t¾t LuËn ¸n tiÕn sÜ y häc
CBYT: Cán bộ y tế
CCB: Chùm ca bệnh
CDC: Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ
CSHQ: Chỉ số hiệu quả
CSYT: Cơ sở y tế
CTV: Cộng tác viên
DTH: Dịch tễ học
ĐNCB: Định nghĩa ca bệnh
ECDC: Trung tâm kiểm soát bệnh tật Châu Âu
GS: Giám sát
HCC: Hội chứng cúm
HQCT: Hiệu quả can thiệp
HTGS: Hệ thống giám sát
KSBNT: Kiểm soát bệnh truyền nhiễm (Kiểm soát dịch bệnh,
HIV/AIDS)
PCD: Phòng chống dịch
PPV: Positive Predict Value - Giá trị tiên đoán dương tính
SCT: Sau can thiệp
TCT: Trước can thiệp
TTYTDP: Trung tâm Y tế dự phòng
WHO: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
1
- Kết quả của đề tài góp phần phản ảnh một cách khách quan, khoa học về
các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức của HTGS các
BTN hiện hành tại các tuyến tỉnh, huyện và xã.
- Kết quả đề tài góp phần là cơ sở để Bộ Y tế tham khảo trong quá trình
xây dựng và triển khai thực hiện Thông tư số 48/2010/TT-BYT ngày
31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ”Hướng dẫn chế độ khai báo,
thông tin, báo cáo BTN". Bắt đầu từ tháng 2 năm 2011, HTGS các BTN
2
được thực hiện theo Thông tư này ở tuyến cơ sở tương tự như kết quả mô
hình can thiệp đã đề xuất.
- Những kết quả đạt được trong mô hình GS cúm này cho thấy khả năng
của cộng đồng trong việc phát hiện các ca bệnh hay các ”sự kiện sức
khỏe” nói chung. Những số liệu tin cậy có được từ mô hình GS thí điểm
cũng làm tiền đề cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng và bổ sung
các khiếm khuyết của HTGS hiện hành.
- Việc triển khai mô hình giám sát cúm tại huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng
Tháp là tiền đề cho huyện Tân Hồng và các huyện khác trong tỉnh Đồng
Tháp mở rộng và phát triển các hoạt động giám sát đối với các BTN khác
theo quy định của Bộ Y tế.
Luận án gồm 141 trang, 4 chương: Đặt vấn đề: 3 trang, Chương 1 -Tổng
quan: 30 trang, Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22 trang,
Chương 3: Kết quả - 45 trang, Chương 4: Bàn luận - 38 trang, Kết luận 2
trang, Kiến nghị 1 trang. Luận án có 32 bảng, 25 biểu đồ, 1 hình và 6 sơ đồ,
146 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước.
1.1
1.2.1
GS là quá trình thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình và
chiều hướng của bệnh tật, phân tích, giải thích, nhằm cung cấp thông tin cho
việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng,
chống kịp thời. Mục tiêu nhằm: thu thập đầy đủ chính xác, sớm và nhanh số
mắc, chết do BTN ở tất cả cộng đồng dân cư theo định nghĩa ca bệnh; phân
tích và phiên giải số liệu để nắm được đặc điểm về nguyên nhân, sự phân bố
dịch tễ theo thời gian, không gian và con người; báo cáo và truyền tải thông
tin tới những người, những cơ quan có trách nhiệm; xây dựng kế hoạch, ra
quyết định đáp ứng PCD đúng, kịp thời và hiệu quả.
1.2.2 giám sát
Có nhiều cách phân chia loại hình GS như: theo cách thu thập thông tin
có GS chủ động, bị động và GS trọng điểm; theo nơi cung cấp số liệu có GS
tại bệnh viện, tại phòng thí nghiệm và dựa vào cộng đồng, ngoài ra, còn có
hình thức GS hội chứng và GS ca bệnh.
Các nguồn số liệu GS rất phong phú gồm: dữ liệu mắc bệnh, tử vong, dữ
liệu từ phòng xét nghiệm, báo cáo ca bệnh riêng rẽ, báo cáo điều tra dịch, dữ
liệu của hệ thống GS trọng điểm, từ các cuộc điều tra sức khỏe, Số liệu về các
loại vật chủ trung gian truyền bệnh đối với các bệnh lây từ động vật sang
người, các yếu tố môi trường và nhân khẩu học trong điều tra dịch tễ học, các
đặc điểm của khí hậu như là nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và các yếu tố môi
trường khác.
1.2.3 Các
Thiết lập HTGS phải căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của bệnh tật tại
địa phương, nhu cầu đánh giá các chương trình YTCC và sự cần thiết của
việc thiết lập cơ sở dữ liệu dịch bệnh. Danh mục các BTN phụ thuộc vào mỗi
quốc gia với các đặc điểm mô hình bệnh tật, đặc trưng địa lý, khí hậu, điều
4
kiện phát triển kinh tế, giao thương và nguồn lực của mỗi quốc gia đó. Bất kỳ
tăng lên là 28 bệnh. Hệ thống này đã được thiết lập và củng cố từ trung ương
đến địa phương, đặt dưới sự chỉ đạo của Cục Y tế dự phòng có nhiệm vụ phát
hiện và báo cáo các BTN theo quy định.
HTGS cúm tại Việt Nam hiện đang có hai hình thức:
- HTGS định kỳ: Cúm là một trong 26 BTN đang được GS theo Quyết
định 4880/QĐ-BYT năm 2002. Trong hệ thống này HCC và viêm phổi
5
nặng nghi vi rút đang được các đơn vị thực hiện theo quy định của Bộ Y
tế
- HTGS cúm trọng điểm: Mới bắt đầu được triển khai từ 2005 ở 15 điểm
trên toàn quốc. Ưu điểm của hệ thống này là cung cấp bằng chứng về
hoạt động của vi rút cúm nhiều hơn là về dịch tễ học.
- Ngoài ra, một số nhà tài trợ đang triển khai thí điểm các mô hình GS cúm
dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, nhược điểm của những mô hình này chưa
thực sự gắn kết vào hoạt động của các đơn vị GS.
1.4 GIÁM SÁT
Chất lượng của HTGS là nền tảng cho việc phòng chống dịch bệnh
truyền nhiễm. Theo hướng dẫn của WHO và CDC Hoa Kỳ, bất kỳ HTGS nào
cũng có tổ chức, cấu trúc, chức năng tương tự nhau. Các hướng dẫn đánh giá
HTGS được CDC phát triển từ năm 1988.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá HTGS mới được đề cập gần đây.
Nghiên cứu năm 2002 cho thấy việc triển khai xét nghiệm vi sinh phục vụ
hoạt động GS không dễ thực hiện (25%-58%) và không đơn giản (37%-59%).
Hiện nay phần lớn các ca bệnh được báo cáo tại tuyến xã, huyện chỉ dựa vào
dấu hiệu lâm sàng. Ngay cả đối với tuyến tỉnh, khả năng chẩn đoán xác định
các tác nhân gây bệnh còn nhiều hạn chế nên độ nhạy và giá trị chẩn đoán
dương tính của HTGS không cao. Điều này làm giảm tính chủ động của các
TTYTDP trong hoạt động GS và phòng chống các BTN gây dịch.
Các nghiên cứu khẳng định có nhiều thách thức đối với hoạt động GS
chọn ngẫu nhiên theo bảng danh sách của từng tỉnh và huyện.
Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu 8 lãnh đạo Sở Y tế, 24 lãnh đạo
TTYTDP tỉnh, huyện, 24 lãnh đạo BVĐK tuyến tỉnh, huyện.
Nghiên cứu trường hợp: Hồi cứu các phiếu điều tra, báo cáo điều tra của
15/23 ca bệnh, 2 chùm ca bệnh cúm A/H5N1.
2.2.
2.2.1. : Các đơn vị tham gia hoạt động GS của huyện,
xã, các CBYT huyện, xã và cộng tác viên (CTV), số liệu thứ cấp.
2.2.2. : Nghiên cứu thực hiện từ 6/2009-6/2010 tại
huyện Tân Hồng (huyện can thiệp) và huyện Hồng Ngự (huyện đối
chứng) của tỉnh Đồng Tháp.
2.2.3. : Thử nghiệm tại cộng đồng có đối chứng và so
sánh trước-sau.
2.2.4. : Xây dựng và triển khai thí điểm mô hình GS
bệnh cúm trên địa bàn huyện Tân Hồng theo phương pháp “tiếp cận
từng bước” và “có sự tham gia” của các đơn vị có liên quan đến hoạt
động GSBTN trong toàn huyện. Các nội dung can thiệp bao gồm:
- Xây dựng thí điểm mô hình giám sát cúm tại huyện Tân Hồng về cấu
trúc tổ chức, phát triển các quy trình GS và quy trình theo dõi đánh
giá.
- Đào tạo CBYT các tuyến huyện, xã và các CTV tại các thôn ấp.
- Cung cấp một số công cụ GS thiết yếu.
- Theo dõi và đánh giá việc triển khai mô hình ở tuyến dưới.
2.2.5. :
- 9 TYT xã huyện Tân Hồng và 11 xã TYT huyện Hồng Ngự, TTYTDP
huyện Tân Hồng, Hồng Ngự
- CBYT và CTV:
7
- Xây dựng mô hình GS cúm tại huyện Tân Hồng.
- Triển khai các hoạt động can thiệp tại huyện Tân Hồng gồm: đào tạo,
cung cấp một số công cụ GS thiết yếu, theo dõi và hỗ trợ việc triển
khai mô hình tuyến dưới.
- Đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ việc triển khai mô hình thí điểm.
-
3.1. THGIÁM SÁT
-2009
-2009
Tổ chức HTGS nói chung tại 8 tỉnh/thành đang thực hiện theo Quyết
định số 4880/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Trong hệ thống này các đơn vị
YTDP đóng vai trò chính và phối hợp với các đơn vị khám chữa bệnh thực
hiện GS các BTN gây dịch trên địa bàn phụ trách và triển khai các biện pháp
PCD kịp thời. 8/8 TTYTDP tỉnh có khoa KSBTN, khoa xét nghiệm cũng như
cán bộ tham gia. 16/16 TTYTDP huyện có khoa KSBTN nhưng chỉ có 11/16
8
huyện có cán bộ phụ trách và 10/16 huyện đã thành lập khoa xét nghiệm. Các
TYT xã thường có 1 cán bộ phụ trách thống kê báo cáo BTN. Tại các BVĐK
tuyến tỉnh, huyện phòng kế hoạch tổng hợp là đơn vị chịu trách nhiệm quản
lý số liệu tại bệnh viện, nhưng không đơn vị nào có cán bộ chuyên trách.
Việc phối hợp GS được thực hiện rất tốt khi có dịch bệnh xảy ra. Tuy
nhiên, sự phối hợp này chưa thể hiện trong các hoạt động GS thường quy.
Các đơn vị GS phải chủ động cử cán bộ sang bệnh viện thu thập và thống kê
ca bệnh, còn bệnh viện chỉ liên hệ khi phát hiện các ca bệnh nặng, bệnh lạ.
Nguồn thu thập thông tin ở các tuyến đối với báo cáo khẩn cấp chủ yếu
là từ BVĐK tỉnh, huyện (12,5% -100%). Các loại báo cáo tuần và báo cáo
tháng chủ yếu tổng hợp theo hệ thống các đơn vị TYT, TTYTDP huyện
(62,5% - 100%). Tại TYT có hai nguồn thông tin là từ sổ khám chữa bệnh
-
Tự thu thập tại bệnh viện
7
87,5
14
87,5
-
-
Tổng hợp số liệu từ tuyến dưới
8
100
16
100
0
0
Tại tuyến tỉnh và huyện cán bộ của đơn vị GS đến BVĐK để thống kê số
liệu (87,5%) và tổng hợp từ tuyến dưới gửi đến (100%). Chỉ khi có ca bệnh
nguy hiểm như Tả, cúm A/H5N1 hay bệnh lạ không rõ nguyên nhân thì bệnh
viện mới chủ động thông báo cho khối dự phòng còn đối với các BTN khác
hoặc ngoài vụ dịch thì nếu “TTYTDP muốn thì sang lấy chứ chúng tôi cũng
không báo cáo”.
76,9
43,8
26,6
100
100
70
0
20
TTYTDP
TYT
(n=80)
S
ng
T l
%
S
ng
T l
%
S
ng
T l
%
Theo dân số
4
50
3
18,8
0
0
Theo thời gian
5
62,5
5
31,3
14
5/8 TTYTDP tuyến tỉnh và 5/16 huyện có thực hiện phân tích số liệu 6
tháng/1 lần. Trong đó, cách phân tích số liệu GS được ứng dụng nhiều nhất là
tính số mắc theo thời gian trong năm, số mắc/dân số và địa điểm. Chưa có
đơn vị nào thực hiện việc phân tích xu hướng dịch. Đặc biệt việc phân tích số
liệu không được thực hiện ở tuyến xã.
87,5
68,8
77,5
0
0
0
12,5
31,2
22,5
0
20
40
60
80
100
Không lưu đủ báo cáo
Lưu báo cáo trên máy vi tính
Lưu báo cáo rời
10
Chuẩn bị và đáp ứng dịch: 100% các tỉnh, huyện đều đã thành lập Ban
18,8
75
25
7,5
46,3
13,8
0
20
40
60
80
100
Tuyến tỉnh gửi phản hồi
Tuyến huyện nhận từ tỉnh
Tuyến xã nhận từ huyện
11
Cán bộ phụ trách hoạt động GS ở cả tuyến tỉnh và huyện có trình độ
chuyên môn chủ yếu là bác sỹ (50% và 35,3%) và trung cấp (35% và 55,9%)
chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong số đó cán bộ chuyên khoa dịch tễ hay YTCC ở
tuyến tỉnh chiếm 14,1% và tuyến huyện chiếm 10,1%.
Bi 3.4. Kin thc ca cán b v nh cúm A/H5N1
Kiến thức của CBYT các tuyến về ĐNCB giám sát chưa tốt, đặc biệt
thấp ở tuyến huyện và xã.
Tỷ lệ CBYT tuyến tỉnh, huyện biết được các biến số để phân tích kết quả
0
0
Điện thoại
3
37,5
4
25
79
98,8
Internet
2
25
2
12,5
5
6,3
Các TTYTDP tuyến tỉnh, huyện và TYT xã đều không có đủ các trang
thiết bị thiết yếu phục vụ riêng cho hoạt động GS. Máy vi tính là phương tiện
thống kê, lưu trữ số liệu chỉ có đủ ở 50% số tỉnh, 18,8% số huyện và 26,3%
số xã. Điện thoại dùng riêng cho hoạt động GS cũng chỉ có ở 37,5% số tỉnh,
25% số huyện và các TYT có 1 máy điện thoại. Các BVĐK tỉnh và huyện
thống kê tổng số ca mắc, tử vong bằng phần mềm Excel hoặc Medisoft để
phục vụ công tác quản lý bệnh nhân còn “công tác báo cáo làm cả thủ công
55,3
28,9
23,7
50
15,4
24,4
31,1
(n=80)
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Có đủ ĐNCB đối với 26 BTN
3
37,5
7
43,8
25
31,3
Có đủ mẫu báo cáo tuần
7
87,5
10
62,5
45
56,3
Có mẫu báo cáo vụ dịch
7
87,5
bệnh nguy hiểm. Các bệnh khác hiện còn lơ là chưa được chú ý nhiều”.
giám sát
Phỏng vấn ý kiến của CBYT tham gia tại tuyến tỉnh, huyện và xã cho
thấy: 74,8% - 84,2% ý kiến cho rằng quy trình GS hiện nay là phù hợp, 59% -
94,7% ý kiến cho rằng biểu mẫu GS đơn giản dễ thực hiện, 60,5%, - 71,1% ý
kiến cho rằng việc phản hồi thông tin được thực hiện kịp thời.
13 Bi 3.9. Chng báo cáo dch tun, tháng các tuyn
Nhận định chất lượng của các báo cáo có ý kiến cho rằng “Báo cáo tuần
ở tuyến huyện, xã thì nặng về hình thức, khoảng 30% số huyện thực hiện.
Hiện nay báo cáo tuần chỉ có tuyến tỉnh thực hiện còn báo cáo tuần của
TTYTDP huyện qua điện thoại và rất là rời rạc, thiếu”.
Bi 3.10. Ghi nhn và báo cáo s liu ti các TYT xã
Kết quả kiểm tra số ca bệnh trong báo cáo và số ca bệnh được ghi nhận
trong sổ khám chữa bệnh của các TYT xã không thấy có sự thống nhất, tỷ lệ
này đối với HCC là 61,3%, viêm phổi là 47,5% và viêm phổi nặng là 56,3%.
Hơn một nửa các ý kiến của CBYT các tuyến đều cho rằng chất lượng số liệu
chỉ ở mức độ kém và trung bình đặc biệt tỷ lệ này ở tuyến xã chiếm 81,5%.
3.1.5. giám sát
- Sự biến động về nhân lực tại các TTYTDP tuyến tỉnh, huyện
- Cơ chế phối hợp giữa các đơn vị có liên quan chưa hiệu quả
- Chính sách đãi ngộ cán bộ tham gia thấp
- Kinh phí đầu tư cho các hoạt động GS dịch bệnh chủ động thấp
76,9
43,3
87,5
75
20
40
60
80
100
14
3.2. GIÁM SÁT
-2010
Mô hình xây dựng đầu mối tại các điểm GS là BVĐK huyện, các TYT
xã, các phòng khám tư nhân và tại cộng đồng là các hiệu thuốc tư và mạng
lưới CTV tại các ấp. Tại mỗi điểm GS đều có cán bộ chuyên trách thu thập số
liệu theo quy trình đã được thống nhất. Luồng thông tin báo cáo và phản hồi
thông tin thực hiện hai chiều từ cộng đồng lên các tuyến trên và ngược lại.
Thông tin được chuyển tải theo phương pháp truyền thống như điện thoại,
văn bản, giao ban và internet.
Trong 10 tháng, mô hình đã phát hiện và báo cáo 5.389 ca HCC, không
có ca nghi VPNNVR nào được phát hiện. Trong đó, số ca HCC được phát
hiện tại TYT là 41,9%, tại cộng đồng là 22,7%, phòng khám tư nhân là
18,7%, BVĐK huyện là 11,5%, và hiệu thuốc là 5,1%. Tỷ lệ mắc
HCC/100.000 dân của huyện Tân Hồng từ tháng 9/2009 đến 6/2010 có xu
hướng cao hơn so với cùng kỳ. Sự thay đổi tỷ lệ mắc trong giai đoạn can
thiệp so với cùng kỳ trước đó khác nhau từng tháng và tăng trung bình là
25,9% so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu HCC tại huyện Tân Hồng được thu thập thêm từ các nguồn y tế
trong
HTGS
HTGS
(%)
HTGS trọng điểm cúm
toàn quốc năm 2006-
2007
0,16
6.052
5.389
89,1
2.880
47,6
HTGS trọng điểm cúm
tại tuyến huyện từ 2006-
2010
0,086
7.806
5.389
82,8
2.880
36,9
HTGS trong điểm cúm
toàn quốc trong cùng
92% ca bệnh được phát hiện và báo cáo sớm trong vòng 3 ngày kể từ khi
khởi phát. Tỷ lệ các báo cáo được gửi đúng hạn và có đầy đủ thông tin rất cao
(97,2% - 97,9%), 95,9% ca bệnh có đủ các thông tin cơ bản như tuổi, giới, địa
chỉ, nghề nghiệp, ngày khởi phát, ngày phát hiện cũng như các triệu chứng.
3.2.2. Tính hu dng ca mô hình GS cúm ti huyn Tân Hng
- Cải thiện kiến thức và thực hành của CTV về GS cúm so với thời điểm
trước can thiệp và so với huyện đối chứng (HQCT đạt từ 21,3% - 2736%). So
sánh sự khác biệt của các tỷ lệ này giữa huyện can thiệp và huyện đối chứng
sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p< 0,05
61
27
100
39
63,9
44,4
0
20
40
60
80
100
p
trước - sau
< 0,001, p
SCT
< 0,001
Trước can thiệp
CSHQ
p
CSHQ
p
Biết đúng ĐNCB HCC
726,5
< 0,001
3,5
> 0,05
723
< 0,001
Xác định đúng CCB
VPNNVR
750
< 0,001
520
<
0,001
230
< 0,05
Xác định thời gian theo
dõi ổ dịch đúng
418
< 0,001
120
< 0,05
298
< 0,05
Biết thời gian báo cáo
160,5
huyện Tân Hồng sau thời điểm can thiệp tốt hơn so với thời điểm trước can
thiệp và so với huyện đối chứng (HQCT = 25,5%- 2007%). So sánh sự khác
biệt của các tỷ lệ này giữa huyện can thiệp và huyện đối chứng sau can thiệp
có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
- Cải thiện việc quản lý dữ liệu trên máy vi tính và phân tích số liệu tại các
TYT (HQCT đạt từ 125%-800%).
- Ngoài ra > 90% ý kiến của CBYT và CTV cho thấy lợi ích của các biện
pháp can thiệp trong việc cải thiện các hoạt động GS cúm tại TYT cũng
như cho chính bản thân họ.
3.2.3. Tính kh thi ca mô hình giám sát cúm ti huyn Tân Hng
Kết quả kiểm tra qua các lần GSHT cho thấy, tỷ lệ tham gia vào mô hình
của các TYT tăng từ 77,8% lên 100% , BVĐK huyện thực hiện 100%, mạng
lưới CTV tăng từ 88,6% lên 97,4% và hệ thống y tế tư nhân tăng từ 88,2%
lên 97,1%. tỷ lệ TYT có phân tích số liệu tăng từ 22,3% tại tháng 9/2009 lên
100% vào tháng 6/2010, phản hồi thông tin từ 55,6% lên 100% và giao ban
dịch với các CTV tăng từ 66,7% lên 100%. Hơn nữa, các hoạt động phân tích
số liệu “trước đây chỉ thực hiện việc cộng số ca vào thôi rồi báo cáo, còn bây
giờ mình nhìn thấy chiều hướng của bệnh khi nhập số liệu”. 94% các ý kiến
cho rằng ĐNCB dễ áp dụng ở cơ sở, > 90% ý kiến cho rằng các biểu mẫu GS
dễ thực hiện, 92,2% - 97,4% ý kiến đồng ý phương pháp và thời gian báo cáo
là phù hợp và co bản 86,3% - 97,4% ý kiến cho rằng các hoạt động đều dễ
17
thực hiện. Hơn 90% ý kiến của CBYT và CTV, những hoạt động can thiệp
này đều phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của họ cũng như khả năng tiếp thu
của đối tượng các tuyến. Trên 80% - 90% ý kiến đều cho rằng thời gian dành
cho các hoạt động này ở mức độ vừa phải và chấp nhận được nên góp phần
duy trì được.
cùng tuyến. TYT cung cấp số liệu mắc thường kỳ. Chính vì vậy HTGS đã bỏ
18
qua một lượng khá lớn các ca BTN do không tổng hợp số liệu từ hệ thống y
tế tư nhân, các đơn vị y tế ngành và đặc biệt cộng đồng. Số liệu GS của
TTYTDP cũng không bao gồm thông tin từ các trung tâm kiểm dịch y tế.
Như vậy, nguồn số liệu ở các tuyến chưa thật sự đầy đủ và số liệu báo cáo có
thể thấp hơn so với thực tế. Điều này phần nào phản ánh hầu hết các vụ dịch
đều phát hiện từ các ca bệnh nặng phải nhập viện.
giám sát chính /thành
Cách thu thập thông tin và gửi báo cáo: Tương tự kết quả đánh giá ở các
tỉnh khác, điện thoại và văn bản là hai hình thức phổ biến nhất hay được các
tuyến áp dụng để gửi báo cáo khẩn cấp và báo cáo định kỳ. Các đơn vị rất ít
sử dụng fax (<37,5%) hay internet (<37,5%) để gửi thông tin. Đồng thời cách
thu thập thông tin ca bệnh thụ động và không đảm bảo các thông tin liên quan
được khai thác đầy đủ. Các bệnh viện không tham gia vào quá trình thu thập
thông tin GS. Điều này mất hẳn tính hệ thống của các ca bệnh được GS đồng
thời rất lãng phí về thời gian cho các đơn vị thực hiện ở các tuyến.
Thực hiện các hoạt động báo cáo: Những cách thức hoạt động hiện nay
góp phần làm việc các báo cáo dịch không được quan tâm một cách đúng
mức về thời gian cũng như mức độ hoàn thành số liệu. Việc thực hiện đầy đủ
báo cáo dịch tuần bằng văn bản cao nhất ở tuyến tỉnh chiếm 76,9%, tuyến
huyện chỉ chiếm 43,8% và thấp nhất là tuyến xã chiếm 26,6%. Chỉ có báo cáo
dịch hàng tháng được 100% TTYTDP tuyến tỉnh, huyện và 70% TYT xã thực
hiện đầy đủ. Kết quả đánh giá tại các tỉnh này cũng tương tự như các nghiên
cứu tại 8 tỉnh khác, số đơn vị thực hiện báo cáo dịch tuần là 62,5% tại tuyến
tỉnh, 58,3% ở tuyến huyện và rất thấp ở tuyến xã là 33,3%.
Quản lý số liệu: Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với các kết quả
đánh giá khác cho rằng việc phân tích số liệu chủ yếu thực hiện ở tuyến khu
vực, trung ương còn các đơn vị GS tuyến tỉnh cũng rất ít khi thực hiện. Các
để nâng cao chất lượng các hoạt động GS trong giai đoạn hiện nay.
Trang thiết bị và công cụ thiết yếu: Thiếu trang thiết bị thiết yếu phục vụ
hoạt động GS là nhóm nguyên nhân được đề cập nhiều ở tất cả các tuyến tỉnh,
huyện và xã. Không chỉ đối với hệ thống dự phòng, các trang thiết bị thiết
yếu của bệnh viện phục vụ công tác thống kê cũng chưa thực sự được quan
tâm. Hầu hết bệnh viện thống kê lại số liệu các BTN theo tổng số ca mắc, tử
vong bằng phần mềm Excel hoặc Medisoft để phục vụ báo cáo tuần/tháng,
mà hầu như không đề cập đến các yếu tố dịch tễ.
Những tài liệu hướng dẫn chuyên môn hiện nay ở các tuyến đều là những
tài liệu hướng dẫn đơn lẻ riêng cho từng bệnh hoặc nhóm BTN được biên
soạn theo các chương trình, dự án nên mang tính tản mạn, thiếu tính thống
nhất và không có hệ thống. Hầu hết tuyến cơ sở không có sẵn những tài liệu
này để tham khảo khi cần. Do đó rất cần phải chú trọng tới việc xây dựng các
phần mềm chuyên ngành cho việc quản lý các dữ liệu GS phục vụ công tác
PCD.
Đào tạo và GS hỗ trợ: Thực chất hoạt động giám sát hỗ trợ chỉ tập trung
ở nơi có dịch hoặc với một số BTN trong chương trình tiêm chủng mở rộng
hay của dự án.100% các CBYT các tuyến đều nhận thấy tầm quan trọng của
việc GS hỗ trợ từ tuyến trên nhưng họ cũng cho rằng chất lượng của các đợt
GS này chưa đáp ứng được nhu cầu của tuyến dưới.
4.1.4. ChHTGS các /thành
Tất cả các đơn vị GS các tuyến đều thực hiện theo Quyết định
4880/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế thể hiện sự chấp nhận của các thành phần
20
tham gia trong hệ thống. Quy trình thực hiện đảm bảo tính đơn giản và phù
hợp, các biểu mẫu báo cáo GS dễ thực hiện (>60%).
Tuy nhiên, các báo cáo dịch tuần và tháng không đảm bảo tính đúng hạn
và đầy đủ số liệu theo quy định của Bộ Y tế. Kiểm tra tính thống nhất và
chính xác giữa số liệu được ghi nhận và báo cáo dao động từ 47,5% - 61,3%.
của hai huyện Tân Hồng và Hồng Ngự đặc biệt thấp. Số liệu GS cúm chỉ
mang tính thống kê đơn thuần và chưa có chuẩn mực về nhiều mặt. Việc tổng
hợp thông tin ca bệnh thường dựa trên quan điểm cá nhân mà chưa có hướng
dẫn cụ thể nào cho tất cả các đơn vị. Trong khi đó, việc báo cáo số liệu ca
21
bệnh HCC nhiều hay ít cũng không quan trọng do không có ai kiểm tra và số
liệu đó cũng không sử dụng vào việc gì. Họ có quan điểm “báo cáo càng ít
càng tốt” vì tâm lý e ngại địa phương có dịch xảy ra. Chính vì vậy, số liệu
báo cáo HCC vừa thừa, vừa thiếu. Như vậy, cải thiện chất lượng số liệu GS
cúm là việc cần thiết trong hoạt động GS tại tuyến cơ sở. Việc triển khai mô
hình này đã đáp ứng được các nhu cầu nói trên. Chất lượng mô hình GS cúm
được thể hiện bằng các đặc tính của HTGS bao gồm độ nhạy đạt từ 62,6% -
89,1%, PPV tăng từ 45,1% lên 96,6%, độ chính xác của số liệu giám sát là
100. Hệ thống triển khai đảm bảo tính đúng hạn và đầy đủ thông tin ca bệnh
HCC được thu thập 92% - 97,9%. Các kết quả đạt được từ mô hình đều cao
hơn so với kết quả mong đợi đạt được là 30%. Nhìn chung những kết quả trên
cho thấy các quy trình giám sát được xây dựng trong mô hình này là phù hợp
và đã được các CBYT ứng dụng tốt. Chất lượng báo cáo số liệu HCC được
ghi nhận, thống kê, báo cáo ở huyện Tân Hồng thực sự tốt hơn so với thời
điểm trước can thiệp và cao hơn huyện Hồng Ngự. Mặc dù trong giai đoạn
2006 - 2010, hai huyện Tân Hồng và Hồng Ngự đều được thụ hưởng rất
nhiều các hoạt động can thiệp nâng cao năng lực từ dự án phòng chống BTN
tiểu vùng sông Mê Kông nhưng sự thay đổi này đã chứng tỏ hiệu quả trên là
do các biện pháp can thiệp mang lại. Mô hình can thiệp đã góp phần cải thiện
việc phát hiện và đáp ứng sớm với các dịch bệnh nếu có dịch bùng phát.
4.2.3. GS
Hiệu quả cải thiện kiến thức và kỹ năng của các CBYT và CTV: Có hiệu
quả rõ rệt trong việc cải thiện kiến thức và kỹ năng thực hành trong một số
nội dung GS cúm của CBYT và CTV ở huyện Tân Hồng cao hơn huyện
thấy, tỷ lệ các TYT, BVĐK huyện, các phòng khám tư nhân, hiệu thuốc và
CTV tham gia thực hiện tăng dần theo thời gian và đạt trên 90% vào cuối thời
gian can thiệp.
Các đơn vị đều thấy các hoạt động can thiệp này là phù hợp với chức
năng nhiệm vụ của cả mạng lưới CTV và y tế cơ sở. Về mặt kỹ thuật, > 85%
các CBYT và CTV tại huyện Tân Hồng đều cho rằng các ĐNCB là dễ áp
dụng, biểu mẫu báo cáo đơn giản, luồng thông tin báo cáo phù hợp, các hoạt
động dễ thực thiện. Như vậy, về mặt kỹ thuật thì mô hình can thiệp trên là có
khả năng thực hiện được tại tuyến cơ sở.
Hơn 90% ý kiến đều cho rằng hoạt động này có khả năng duy trì được.
Đặc biệt mô hình đạt tính ổn định cao do không có thay đổi nhiều trong quá
trình triển khai. Mô hình can thiệp áp dụng nguyên lý quản lý dựa vào cộng
đồng là phương pháp quản lý đơn giản, phù hợp với năng lực của y tế cơ sở.
4.2.5.
Một số kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hiện nhằm góp phần
đảm bảo thành công khi triển khai nhân rộng như sau:
- Cần thực hiện các bước cần thiết để thiết lập sự tham gia của các đơn vị
tuyển dụng, đào tạo, giám sát hỗ trợ và tạo động lực tham gia của họ.
Đồng thời, tạo ra mối liên kết và hợp tác giữa các đơn vị tham gia dựa
vào ý kiến của lãnh đạo cũng như lợi ích của các nhóm nhằm tăng độ bao
phủ, độ nhạy của hệ thống.
- Sử dụng đội ngũ sẵn có tại cộng đồng cũng như lồng ghép vào HTGS
hiện hành.
- Luôn đảm bảo đủ các cán bộ có kỹ năng và các công cụ thiết yếu nhằm
duy trì việc trao đổi thông tin giữa các tuyến.