ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
-------*&*--------
NGUYỄN TIẾN SƠN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 09/2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
-------*&*--------
NGUYỄN TIẾN SƠN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 09/2004
KỲ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
6
1.1.
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
6
1.2.
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ
8
1.2.1. Thị trƣờng Hoa Kỳ
8
1.2.2. Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ
18
1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU RA THỊ TRƢỜNG NƢỚC NGOÀI (TRONG ĐÓ CÓ THỊ
TRƢỜNG HOA KỲ)
25
37
2.1.2. Sau khi Hiệp thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực
42
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT
HÀNG CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ
46
2.2.1. Hàng thuỷ hải sản
47
2.2.2. Hàng dệt may
50
2.3.
2.2.3. Giày dép và phụ kiện giày dép
56
2.2.4. Hàng nông sản
57
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
vào thị trƣờng Hoa Kỳ
3.2.3. Giải pháp đối với một số ngành hàng khi xuất khẩu sang Hoa
75
83
Kỳ
92
KẾT LUẬN
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
104
PHẦN MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ bắt đầu phát triển từ sau khi Hoa
Kỳ bỏ chính sách cấm vận đối với nước ta và cho đến hiện nay, Hoa Kỳ là thị
trường xuất khẩu quan trọng thứ 6 của Việt Nam. Đặc biệt là từ sau khi Hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001,
là một bước đột phá và cơ hội lớn cho hoạt động xuất khẩu Việt Nam, cũng như
những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh và mở rộng quan hệ thương mại giữa hai
quốc gia. Do đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam tăng lên tới 827,4 triệu
USD trong năm 2000, tăng 37,63% so với mức 601,9 triệu USD của năm 1999 và
- GS.TS. Bùi Xuân Lưu và Ths. Phạm Thị Hồng Yến, “Chính sách bảo hộ
nông nghiệp của Mỹ”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 4/2003.
- TS. Bùi Ngọc Sơn, “Một số biện pháp để thâm nhập thành công vào thị
trường Mỹ”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 4/2003.
- Ths. Nguyễn Văn Hồng, “Một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược xuất khẩu
của doanh nghiệp”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 4/2003.
- Nguyễn Thị Hường, “Chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam trong xu
thế tự do hoá thương mại”, Luận văn TS kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 4/2003.
- Đề tài “Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, mã số: 9778-060-Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại.
2
- Dự án STAR Việt nam và Viện Quản lý kinh tế Trung ương "Đánh giá
tác động kinh tế của hiệp định thương mại song phương Việt nam – Hoa Kỳ",
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 6/2003.
- GS.TS. Võ Thanh Thu, Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ, Nxb thống
kê, 5/2001.
Các công trình trên đã tiếp cận dưới những gốc độ khác nhau cả về mặt lý
luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam,
như: nghiên cứu chính sách xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực; Chính sách xuất nhập khẩu một số mặt hàng và các công cụ của
chính sách ngoại thương, một số chuyên đề của Bộ thương mại về biện pháp đẩy
mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ,.... Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên
cứu một cách toàn diện về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa
Kỳ dưới góc độ kinh tế chính trị. Vì thế, đề tài luận văn này không trùng lặp với
các luận văn, các công trình khoa học đã công bố và vẫn cần thiết, có tính thời sự
cấp bách.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo,....luận văn gồm có 3 chương:
CHƢƠNG 1: Xuất khẩu vào thị trƣờng Hoa Kỳ; Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn.
4
CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trƣờng Hoa Kỳ thời kỳ đến 2003 và những vấn đề đặt ra.
CHƢƠNG 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của
Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ thời kỳ đến 2010.
5
CHƢƠNG 1
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ; MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế
giới đang phát triển mạnh mẽ và trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh
tế. Do đó, “mở cửa”, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khu vực và việc mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, không có quốc gia
nào có thể phát triển nhanh nếu thực hiện chính sách “đóng cửa”, tự cấp, tự túc.
trưởng kinh tế và do đó góp phần quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phải trải qua những thử thách gay go
trong cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong quá trình đó, các doanh nghiệp
không những cố gắng cải tiến, nâng cao chất lượng hàng hoá, phải giảm chi phí
sản xuất, mà còn có những cơ hội tiếp xúc với những công nghệ mới và bí quyết
kinh doanh, do vậy có thể nâng cao được trình độ công nghệ sản xuất, quản lý và
tiếp thị.
Xuất khẩu cũng đã góp phần vào giải quyết những vấn đề cấp bách của xã
hội như: tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự biến đổi của thị trường thế giới.
7
Tất cả những đóng góp trên đây của hoạt động xuất khẩu đã góp phần nâng
cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế
của Việt Nam và tạo dựng những cơ sở cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh.
1.2.
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƢỜNG HOA KỲ
1.2.1. Thị trƣờng Hoa Kỳ
1.2.1.1. Vài nét về kinh tế Hoa Kỳ
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có diện tích 9.364.000 km2. Tính đến tháng 07/
2001, dân số Hoa Kỳ khoảng hơn 278 triệu người. Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) là 9.963 ngìn tỷ USD, GDP/người của Hoa Kỳ năm 2000 là 33.900 USD
[30].
Hoa Kỳ, một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, quốc gia dẫn
đầu công nghiệp thế giới về các phân ngành đa dạng và áp dụng những công nghệ
2001 chỉ đạt 1,1% tức là giảm 4,1% so với năm 2000. Những năm 2002 – 2003
kinh tế Mỹ có sự phục hồi và tăng trưởng ở mức chậm.
Mặc dù vậy, Hoa Kỳ vẫn là cường quốc kinh tế hàng đầu và là một trong ba
trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
1.2.1.2. Tiềm năng nhập khẩu của Hoa Kỳ
Một là, tiềm năng chung: Hoa Kỳ có một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế
giới. Năm 1988, hàng hoá nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 800 tỷ USD. Năm 2002,
kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đạt 1408,3 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu
chính gồm: dầu thô, các sản phẩm dầu tinh chế, máy móc, ô tô, hàng tiêu dùng,
vật liệu công nghiệp, thực phẩm và đồ uống. Trong đó thủy sản, dệt may, giày
dép, cà phờ là những mặt hàng nhập khẩu với số lượng lớn. Chẳng hạn năm 2000
9
Hoa Kỳ nhập khẩu 19 tỉ USD mặt hàng thủy sản, trong đó riêng tôm là 3,76 tỉ
USD; Hàng dệt may năm 2000 nhập 76 tỉ USD, năm 2001 nhập 75,1 tỉ USD.
Năm 2002 hàng hoá nhập khẩu chiếm 1.166,9 tỷ USD và dịch vụ chiếm 243,3 tỷ
USD.
Những mặt hàng nhập khẩu gần đây có sự tăng trưởng là hàng tiêu dùng,
bia, thực phẩm,…và những mặt hàng có sự suy giảm là nguyên vật liệu, thiết bị
công nghiệp, ô tô và phụ tùng,…Tất cả những con số trên cho thấy Hoa Kỳ là một
nước nhập siêu và là một thị trường đầy tiềm năng đối với các nước trên thế giới.
Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất đa đạng về chủng loại và được phân
theo các nhóm hàng sau:
Bảng 1.1: Tình hình nhập khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ 1997 - 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
NHÓM NGÀNH HÀNG
Năm 1997
29,19
270.372
29,57
4. Ô tô, xe tải, phụ tùng và
140.779
16,17
150.715
16,49
5. Hàng tiêu dùng
192.918
22,16
215.530
23,58
6. Nhóm hàng hoá khác
29.338
hoá. Với hệ thống cửa hàng, siêu thị bán buôn, bán lẻ rộng khắp và tâm lý thích
tiêu dùng, mua sắm của người Mỹ, Hoa Kỳ đã, đang và sẽ là một thị trường đầy
hứa hẹn cho các doanh nghiệp và công ty các quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam. Các chủng loại hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều có số lượng lớn,
đây là một yếu tố thuận lợi mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt để tăng
cường xuất khẩu và đầu tư tái sản xuất mở rộng.
Hai là, một số nhóm ngành hàng nhập khẩu chủ yếu mà Việt Nam có nhiều
lợi thế để đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, đó là:
* Nhóm thực phẩm, thức ăn gia súc và đồ uống:
Qua số liệu thể hiện ở Bảng 1.1 cho ta thấy hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu
nhóm hàng này ở mức trên dưới 40 tỷ USD. Những mặt hàng chủ yếu trong nhóm
này gồm:
Bảng 1.2: Tình hình nhập khẩu thực phẩm, đồ uống vào Hoa Kỳ 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
Mặt hàng
TT
1997
1998
98/97
1.
Rượu vang
3.253
4.315
+153
5.
Cà phê hạt
3.575
3.499
+562
6.
Chè, gia vị
660
751
+91
11
7.
Rau các loại
1.535
Tổng
Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.S.A [16, 26]
Trong nhóm ngành hàng này có nhiều mặt hàng Việt Nam có lợi thế và khả
năng thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ như: hải sản, rau, cà phê hạt, chè, gia vị.
Trong đó đáng kể nhất là mặt hàng thuỷ sản và cà phê.
Đối với mặt hàng thuỷ sản, Hoa Kỳ là thị trường nhiều triển vọng mà Việt
Nam bắt đầu khai thác. Thị trường này có sức mua lớn và giá cả tương đối ổn
định. Với GDP/người/năm là 33,882 USD và tốc độ tăng trưởng kinh tế trung
bình hàng năm là 4%, Hoa Kỳ là một thị trường có mức tiêu dùng mặt hàng thuỷ
sản rất cao. Hiện nay trung bình mỗi năm người Mỹ tiêu thụ hết khoảng 4,9
pounds thuỷ sản tương đương 8 kg. Trong tương lai, mức tiêu thụ thuỷ sản sẽ
ngày càng tăng mạnh do nhiều người Mỹ có xu hướng chuyển sang sử dụng sản
phẩm thuỷ sản cho bữa ăn chính trong gia đình. Theo thống kê của Bộ thuỷ sản
Hoa Kỳ, hiện nay người Mỹ sử dụng xấp xỉ 80% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới,
trong đó hơn một nửa có nguồn gốc nhập khẩu. Tại Hoa Kỳ có nhiều cơ sở chế
biến phải sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Khoảng 1000 cơ sở chế
biến cả nước phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Do đó, Hoa
Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu thuỷ sản rất hấp dẫn đối với nhiều nước,
trong đó có Việt Nam.
Đối với mặt hàng cà phê, từ năm 1994 Việt Nam đã bắt đầu khai thác thị
trường tiềm năng về tiêu thụ cà phê - thị trường Hoa Kỳ và ngay trong năm đầu
12
- 16.693
2.
Sản phẩm Dầu mỏ
7.733
6.050
- 1.683
3.
Nhiên liệu
5.743
4.834
- 909
4.
Hoá chất hữu cơ
11.085
10.778
+ 564
Tổng
95,353
72,896
- 17,013
Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.S.A [16, 28]
13
Trong thời gian qua, chúng ta chỉ mới xuất khẩu dầu thô và một trị giá
không nhiều cao su thiên nhiên sang thị trường Hoa Kỳ. Sau năm 2005, khi khu
công nghiệp hoá dầu Dung Quất đi vào hoạt động Việt Nam có thể mở rộng xuất
khẩu các sản phẩm dầu mỏ, các loại hoá chất làm từ dầu mỏ.
* Nhóm hàng tiêu dùng
Hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu nhóm ngành hàng này trên dưới 200 tỷ USD.
Khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực thì đây là nhóm ngành
hàng Việt Nam có thể đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu cả về quy mô lẫn số lượng. Bởi
vì, những sản phẩm nằm trong nhóm ngành hàng này Việt Nam có những lợi thế
tương đối lớn như hàng may mặc, giày dép,…
Bảng 1.4: Tình hình nhập khẩu hàng tiêu dùng vào Hoa Kỳ 1997- 1998
Đơn vị tính: Triệu USD
Mặt hàng
Ti vi, điện tử gia dụng
10.546
13.361
+ 2.815
4.
Đồ chơi, game
18.102
19.252
+ 1.150
5.
Giày dép
10.576
10.865
+ 289
6.
Các loại đồ gia dụng khác
63.333
67.981
+ 4.648
Tổng
165.61
183.701
754.353
14
Nguồn: Department of commerce, Bureau of Economic Analysis U.S.A [16, 30]
Nhóm hàng tiêu dùng là nhóm hàng có tính cạnh tranh quyết liệt nhất trên
thị trường Hoa Kỳ. Việt Nam muốn gia tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nhóm
ngành hàng này, trước hết phải có những chiến lược lớn nâng cao sức cạnh tranh
của hàng hoá Việt Nam trên thị trường này càng sớm càng tốt.
Đối với mặt hàng dệt may, Hoa Kỳ là thị trường đầy tiềm năng cho các
nước xuất khẩu hàng dệt may, trong đó có Việt Nam. Song cần lưu ý rằng: thị
trường Hoa Kỳ có nhu cầu rất đa dạng, kể cả các sản phẩm trung bình, nhưng lại
có những quy định nghiêm ngặt về tuân thủ luật thương mại, nhãn hiệu hàng hoá,
xuất xứ sản phẩm. Thị trường Hoa Kỳ chỉ mua hàng thành phẩm không qua gia
trước.
- Đối với những đồ dùng cá nhân như sản phẩm quần áo, may mặc, giày
dép nhìn chung người tiêu dùng Hoa Kỳ thích sự giản tiện nhưng đòi hỏi phải
hiện đại và hợp thời trang. Hơn nữa nếu đồ dùng cá nhân là đồ hiệu thì càng được
ưa thích và được mua nhiều. Mặt khác, khi mua đồ dùng cá nhân nhiều người
thường coi trọng yếu tố độc đáo, khác biệt, mỗi người có thể mặc những đồ họ
thích. Ở những thành phố lớn, nam giới thường mặc complê, nữ giới thường mặc
váy hoặc juýp khi đi làm. Trong khi đó ở nông thôn người ta thường ăn mặc khá
xuyềnh xoàng, quần Jean và quần vải thô rất phổ biến. Tuy vậy, hầu hết người
Hoa Kỳ kể cả người lớn tuổi, ngoài giờ làm việc thường ăn mặc thoải mái theo ý
thích của mỗi người. Nhìn chung những đồ dùng cá nhân thường phải là những
hàng hoá theo mùa và hợp với thời trang.
- Hoa Kỳ không có các lệ ước và tiêu chuẩn thẩm mỹ xã hội bắt buộc như
ở một số quốc gia khác, Những nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hoá, tôn
16
giáo của mình và dần dần theo thời gian hoà trộn và ảnh hưởng lẫn nhau. Chính
điều này đã tạo nên sự khác biệt trong thói quan tiêu dùng của người Hoa Kỳ so
với người tiêu dùng ở các nước Châu Âu. Họ rất tôn trọng chất lượng những sự
thay đổi luôn là yếu tố chính, cùng một đồ vật nhưng thời gian sử dụng của họ có
thể chỉ bằng một nửa thời gian sử dụng của người tiêu dùng các nước phát triển
khác. Với thói quen thường xuyên thay đổi như vậy, giá cả là yếu tố có vai trò
quan trọng trong việc ra quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng Hoa Kỳ đối với
một sản phẩm nào đó. Điều này giải thích tại sao hàng hoá tiêu dùng có xuất xứ từ
những nước đang phát triển, có chất lượng không bằng so với hàng hoá tiêu dùng
của các nước phát triển nhưng vẫn có chỗ đứng ở thị trường Hoa Kỳ vì có mức
giá bán thực sự cạnh tranh.
Nói tóm lại, chất lượng sự tiện lợi, nét độc đáo, phân phối và giá cả là
những yếu tố ưu tiên trong thứ tự cân nhắc quyết định tiêu dùng hàng hoá của
nhập vào và hoạt động trong lãnh thổ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Một điều nữa phải nói tới là ở Hoa Kỳ có hơn 1 triệu Việt kiều rất thích các
mặt hàng quê hương và họ cũng là những người tham gia đầu tư và xúc tiến
thương mại.
1.2.2. Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ
Nằm trong tổng thể chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, chính sách nhập
khẩu Hoa Kỳ nhằm phục vụ cho lợi ích của quốc gia, cụ thể là phục vụ người tiêu
dùng và phát triển các ngành kỹ thuật cao, từ đó tối ưu hoá cơ cấu nền kinh tế.
Xét về tổng thể, chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ có 5 mục đích nổi bật như sau:
18
- Hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích đa dạng hoá nền kinh tế và tăng
tính năng động cho mỗi ngành sản xuất cũng như đối với từng doanh nghiệp Hoa
Kỳ.
- Tăng cường cơ hội và phạm vi để tối ưu hoá sự lựa chọn về hành vi tiêu
dùng của người dân Hoa Kỳ.
- Tăng cường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Hoa Kỳ và doanh nghiệp
nước ngoài, thúc đẩy không ngừng cải thiện công nghệ quản lý, công nghệ kỹ
thuật và cuối cùng là giảm giá bán cho người tiêu dùng.
- Tạo đối trọng nhằm gây sức ép để các nước đối tác mở cửa thị trường
cho sản phẩm của Hoa Kỳ.
- Kết hợp chặt chẽ giữa các chính sách quân sự và ngoại giao tạo thành
công cụ gây sức ép trong quan hệ đối ngoại, giành cho mình những nguồn lợi to
lớn về kinh tế cũng như chính trị. Điển hình là các công cụ trừng phạt hoặc trợ
giúp kinh tế đã được Hoa Kỳ áp dụng cho nhiều nước trong đó có Việt Nam.
Chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ và những mục đích của nó hoàn toàn
phù hợp với chiến lược khuyếch trương tự do hóa thương mại, toàn cầu hoá kinh
tế mà Hoa Kỳ đã và đang tiến hành. Tuy nhiên, xem xét trên góc độ một quốc gia
chưa qua chế biến thì bị đánh thuế theo lượng (Weight Duty Rate) là thuế đánh
theo lượng hay dung tích hàng hoá, một số lượng quy định trên trọng lượng đơn
vị hoặc các số đo khác về số lượng. Một số mặt hàng phải chịu thuế gộp
(Compound Rate), tức là thuế suất gồm hai phần thuế theo trị giá và thuế đặc
định. Cũng có một số mặt hàng khác chẳng hạn như đường lại chịu “hạn ngạch
20