LUẬN văn phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh bo kẹo cộng hoà dân chủ nhân dân lào - Pdf 33

LUẬN VĂN:

Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bo
Kẹo Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn ra với quy
mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế rộng, tính chất phức tạp và trình độ phát
triển ngày càng cao. Ngày nay, trên thế giới du lịch trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội
(KT-XH) phổ biến, là cầu nối tình hữu nghị, là phương tiện gìn giữ hoà bình và hợp tác
giữa các quốc gia, dân tộc. Ở nhiều quốc gia, du lịch là một trong những ngành kinh tế
hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội.
Trong thời gian qua, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) đã và
đang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN), bước đầu đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngành du lịch CHDCND Lào
mới bắt đầu hội nhập và hợp tác, đang trong quá trình tìm hiểu cơ chế và luật lệ quốc tế,
nên khả năng chủ động đưa ra các dự án hợp tác còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, những
yếu tố như dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng
dịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa phong phú… là những thách thức lớn đối với
ngành du lịch nói chung và đối với các doanh nghiệp du lịch nói riêng. Thực tế này dẫn tới
năng lực cạnh tranh của ngành và các sản phẩm du lịch thấp. Trong những năm tới, xu
hướng cạnh tranh ngành sản phẩm du lịch sẽ ngày càng gay gắt, đã và đang đặt ra những
thách thức ngày càng lớn đối với du lịch của CHDCND Lào nói chung, du lịch Bo Kẹo nói
riêng.
Hiện tại nguồn khách quốc tế do các công ty lữ hành quốc tế lớn chi phối bởi họ có
năng lực cạnh tranh mạnh, có khả năng khai thác thị trường trên toàn cầu. Những công ty
này sẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với các công ty lữ hành trong nước, do đó nếu không có

hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành
kinh tế mũi nhọn.
Bùi Thuý Hạnh với luận án Đánh giá và khai thác điều kiện tự nhiên và tài nguyên
Ba Vì phục vụ mục đích du lịch, luận án tiến sỹ, Hà Nội 1996. Nội dung luận án này tập
trung khai thác các điều kiện tự nhiên sẵn có ở khu vực Ba Vì (Hà Tây cũ) để phát triển du


lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và du lịch khám phá.
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hạnh: Những đặc điểm tài nguyên du lịch Thủ
đô Hà Nội phục vụ khai thác hoạt động kinh doanh du lịch, Hà Nội 1997. Luận án đã làm
rõ những vấn đề lý luận chung về tài nguyên du lịch, đánh giá thực trạng những đặc điểm
tài nguyên du lịch của Thủ đô Hà Nội và khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh
du lịch, đế xuất các giải pháp để khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh du lịch
một cách có hiệu quả.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lài (2008) Khai thác tiềm năng du lịch để
phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Quảng Bình, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội lại tập trung nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm khai thác tiềm
năng, điều kiện tự nhiên, văn hoá, lịch sử... ở tỉnh Quảng Bình mà theo tác giả, đến nay
chưa khai thác hết. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Cường (2008) với tiêu đề
Du lịch Nghệ An trong hội nhập kinh tế quốc tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội lại nhìn nhận sự phát triển du lịch địa phương trong bối cảnh tăng
cường giao lưu và hợp tác kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ. Theo đó, nhu
cầu du lịch ngày càng tăng và chính quyền địa phương cần thực hiện nhiều giải pháp nhằm
khai thác có hiệu quả xu thế này. Luận văn thạc sĩ của Thái Viết Tường (2006): Du lịch
văn hoá ở tỉnh Quảng Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội lại tập trung khai thác mảng văn hoá – thế mạnh của tỉnh Quảng Bình với các di tích
Mỹ Sơn, Hội An, Phong Nha – Kẻ Bàng và bề dày truyền thống văn hoá của mỗi địa
phương trên địa bàn tỉnh. Luận văn thạc sĩ của Trần Mạnh Chí (2007) với chủ đề Giải
pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội tập trung nghiên cứu, định hướng và tìm kiếm
giải pháp nhằm phát triển ngành này theo hướng mở rộng các sản phẩm du lịch, tăng đầu

giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phân tích về mặt lý luận khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung của du lịch và phát
triển du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội ở Lào nói
chung và ở cấp tỉnh nói riêng.
- Rút ra những bài học đối với tỉnh Bo Kẹo qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du
lịch của một số tỉnh của Việt Nam và một số tỉnh của Lào.


- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bo Kẹo trong thời gian qua.
Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch tỉnh Bo Kẹo đến
năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn xác định phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh
Bo Kẹo. Phát triển du lịch tỉnh Bo Kẹo, đặt mối quan hệ với quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh và phát triển trên phạm vi vùng, quốc gia.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài giới hạn không gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bo Kẹo.
Về thời gian: Nghiên cứu phát triển du lịch chủ yếu từ năm 2002 - 2008 và phương
hướng, giải pháp đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Cụ thể, đề tài cũng sử dụng các phương pháp như: Phân tích- tổng hợp, thống kê,
so sánh....
Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các
công trình khoa học đã được công bố.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Khẳng định phát triển du lịch là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Bo Kẹo.
- Chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của phát triển du lịch tỉnh

nhưng định nghĩa này đặt cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu cơ bản tiếp theo.
Theo Liên Hiệp quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of official
Travel oragnization: IUOTO). Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa
điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, một nghề hay một
việc kiếm tiền sinh sống [6, tr.1].
Tại Hội nghị Liên Hiệp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 - 5/9/1963) các
chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế, bắt nguồn từ các hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập
thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi
họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ [6, tr.1].


Quốc hội CHDCND Lào số 10/¦², ngày 9/11/2005, điều 2 nêu: Du lịch là du hành từ
nơi sinh sống của mình đi đến nơi khác hay nước khác để thăm viếng, tham quan, nghỉ ngơi,
vui chơi, sự trao đổi văn hoá, thể thao, y tế, nghiên cứu giáo dục [31, tr.1].
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Hội đồng
Lữ hành và du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council - WTTC) đã công bố: Du
lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử
và nông nghiệp. Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất
trong ngoại thương. Tại nhiều quốc gia khác, du lịch là một trong ba ngành kinh tế hàng
đầu. Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên
thế giới. Du lịch này là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu.
Nhiều nước đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cư là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của
cuộc sống [6, tr.5].
Du lịch có hai nghĩa: Thứ nhất: du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con
người ở một nơi khác, tức là cách xa nơi ở thường xuyên để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thoả mãn
các nhu cầu về văn hoá, nghệ thuật, lịch sử, trao đổi công việc. Thứ hai: du lịch được hiểu là tập
hợp các hoạt động kinh doanh nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, thực hiện tốt mọi nhu cầu của khách du lịch.
Nói cách khác, du lịch là tập hợp các hoạt động giữa cung du lịch và cầu du lịch tạo nên ngành du
lịch.

tối đa” [7, tr.277].
Nói chung kinh doanh du lịch có khả năng thu lợi nhuận cao và thu hồi vốn đầu
tư nhanh hơn so với các lĩnh vực kinh tế khác. Đó là một ưu thế của ngành kinh doanh
du lịch mà nếu được chính quyền của quốc gia đó quan tâm đầu tư khai thác tốt sẽ góp
phần tăng nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Hiện nay ở nhiều quốc gia có sự
phát triển về công nghiệp, thu nhập từ kinh doanh du lịch thường chiếm 20% hoặc cao
hơn trong tổng sản phẩm quốc nội GDP. Hoạt động kinh doanh du lịch còn tác động
mạnh đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Giao thông vận tải, hàng không, bưu
chính viễn thông, các nghề thủ công, mở rộng thị trường, giải quyết việc làm cho nhân
dân tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển tốt lên.
Kinh doanh du lịch theo điều 63 Luật Du lịch CHDCND Lào gồm các hoạt động
sau:


- Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch.
- Kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế.
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống.
- Kinh doanh các dịch vụ bổ sung.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch tác động mạnh mẽ đến cán cân thu chi của vùng du
lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và chi tiêu ở
khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước.
- Kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung sâu sắc,
có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách quốc tế. Góp phần nâng cao dân trí,
tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội [2, tr.10].
Dựa vào khái niệm trên có thể hiểu du lịch là ngành kinh tế có tính tổng hợp, lấy
khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, du lịch cần thiết cho khách du lịch, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của họ.

trên thực tế thì mới hoàn thành việc “giao nhận”. Hoàn thành trách nhiệm của người bán
và người mua. Đặc biệt tính đặc thù của hàng hoá đó là chất lượng công việc của người
hướng dẫn, nó phụ thuộc vào trình độ, năng lực, hành nghề của hướng dẫn viên.
Du lịch đem lại văn hoá, tinh thần cho khách hàng (du khách). Thông qua việc giới
thiệu nét văn hoá đặc trưng khác biệt của đất nước, địa phương cho khách tham quan làm
cho họ hiểu phần nào về giá trị văn hoá tinh thần, bản sắc riêng của dân tộc. Từ đó, đem lại
món ăn tinh thần cho du khách, mà sản phẩm du lịch là món ăn cho du khách thưởng thức.
Trước đây, một số người cho rằng văn hoá là lĩnh vực đứng ngoài kinh tế. Bởi vì,
họ quan niệm rằng, văn hoá là lĩnh vực không sinh lợi. Sự phát triển, tăng trưởng của hàng
loạt các nước trên thế giới đã khiến mọi người phải nhận thức lại vai trò của văn hoá. Năm
1988, Tổ chức Giáo dục văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO) đã tuyên bố để mở đầu thập
kỷ thế giới phát triển văn hoá nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy
trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào, xu hướng chính trị và
kinh tế nào, văn hoá và phát triển là hai mặt gắn liền nhau”.


“Nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế, mà tách rời môi trường văn
hoá thì sẽ xẩy ra mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá và khả năng sáng tạo
của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”[15].
Xuất phát từ bài học kinh nghiệm của dân tộc, tiếp nhận thành tựu trí tuệ của thời
đại, Đảng và Nhà nước Lào đã có nhận thức mới về vai trò của văn hoá trong phát triển.
“Kinh tế và văn hoá gắn liền với nhau hết sức chặt chẽ, kinh tế không tự mình phát triển
nếu thiếu nền tảng của văn hoá, văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế. Phát
triển trên cơ sở hài hoà kinh tế và văn hoá là sự phát triển năng động có hiệu quả và vững
chắc nhất”[15].
Ngày 09 tháng 12 năm 1986, Liên hệp quốc (LHQ) thông qua nghị quyết tuyên bố
thập kỷ 1988 – 1997 là: "Thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hoá”. Kêu gọi các quốc gia,
các cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới thừa nhận vị trí quan trọng của văn hoá trong phát
triển. Điều đó càng chứng minh rằng, văn hoá là món ăn tinh thần, là tất yếu không thể
thiếu để phát triển du lịch. Có như vậy, văn hoá thực sự là món ăn tinh thần trong mỗi du

phần vào phát triển du lịch, con người thân thiện, hiền hoà, truyền bá những điều tốt đẹp
của đất nước, con người là điểm đến cho những người thân quen có thể tạo được làn sóng
du lịch mới. Phần lớn những khách thăm quan và đều là người có trình độ văn hoá, nhất là
người đi du lịch nước ngoài. Người có trình độ văn hoá cao, đòi hỏi đi du lịch càng lớn,
chất lượng du lịch là một phần quan trọng, họ muốn khám phá những nét truyền thống văn
hoá, phong tục tập quán của điểm đến.
Du lịch gắn liền với thiên nhiên, là tài nguyên thiên nhiên ban tặng để cho con
người tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi, điều dưỡng, du ngoạn, tham quan
bao gồm: sông, núi, hang động, thác, rừng, chim thú quý hiếm, hoa thơm, cỏ lạ... Tóm lại,
có thể chia ra ba nhóm chủ lực là: tài nguyên du lịch sông núi, tài nguyên du lịch khí hậu
và tài nguyên du lịch sinh vật...cụ thể do thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông như đường
sông, đường bộ, đường hàng không... là trung tâm của vùng kinh tế phát triển năng động,
trên thế giới. Đây là một nhân tố cơ bản để phát triển du lịch. Quốc gia nào có nhiều tài
nguyên thiên nhiên thì quốc gia đó có nhiều tiềm năng lớn để thu hút được nhiều khách du
lịch đến thăm quan.
Các điều kiện về tài nguyên du lịch là một yếu tố quan trọng để phát triển du lịch. Một


quốc gia, một vùng có nền kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội phát triển cao, song nếu không có
tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển du lịch được. Tiềm năng về du lịch là có hạn,
nhất là đối với tài nguyên thiên nhiên những cái mà thiên nhiên ban tặng cho một số vùng và
một số nước nhất định hay do con người tạo ra. Vì vậy, chúng ta chia tài nguyên du lịch làm
hai nhóm: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn [6, tr.86].
Về địa hình: ở một số nơi thường có cảnh đẹp và sự đa dạng của phong cảnh ở nơi
đó. Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa phương phải có địa hình đa dạng và có
những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông, hồ, núi... khách du lịch thường ưa thích
những nơi nhiều rừng, đồi, núi, biển, đảo... Thường không thích những nơi địa hình và
phong cảnh đơn điệu mà họ cho là tẻ nhạt và không thích hợp với du lịch.
Về khí hậu: những nơi có khí hậu điều hoà thường được khách du lịch ưa thích. Nhiều
cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng,

của vùng du lịch, của một đất nước. Đối với du lịch quốc tế, việc mang ngoại tệ đến đổi và
chi tiêu ở khu vực du lịch làm tăng tổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng du lịch và
của một đất nước. Nguồn thu nhập ngoại tệ từ khách du lịchh quốc tế của nhiều nước
ngày càng tăng. Chẳng hạn ở Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về du lịch quốc tế: Năm
1990, ngành du lịch nước này mang lại nguồn thu là 43 tỷ USD thì đến năm 1996 đã lên
tới 64,4 tỷ USD, đến năm 2002 là 80,7 Tỷ USD. Tiếp đến là Tây Ban Nha, năm 1996 thu
được 28,4 tỷ USD, năm 2002 con số này lên đến 38,7 tỷ USD. Ở Pháp năm 1996 thu
được 28,2 tỷ USD, đến năm 2002 thu được 33,5 tỷ USD [2, tr.11].
Hiện nay du lịch được coi là một thị trường vừa rộng, vừa lớn với nhu cầu du lịch rất đa
dạng và khả năng thanh toán của khách hàng khá cao, vừa mang tính đặc thù. Thị trường
du lịch hoạt động trong không gian lãnh thổ, thị trường lại hoàn toàn có khả năng “xuất
khẩu tại chỗ”, nhiều hàng hoá đặc biệt là hàng hoá mang tính chất đặc trưng của dân tộc
phân bố rải rác khắp mọi miền của đất nước như các món ăn dân tộc, đồ lưu niệm (hàng
thủ công mỹ nghệ...). Hàng hoá này thường có giá trị sử dụng không đáng kể đối với thị
trường nội địa nhưng lại có giá trị cao, thuận lợi lớn do thoả mãn được sở thích hay thị hiếu
nào đó của du khách nước ngoài. Mặt khác, có rất nhiều loại hàng hoá phục vụ du khách
không thể vận chuyển đi bán ở thị trường thế giới được thì có thể bán với giá cả cao, thu lợi


nhuận lớn tại nước mình như cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, di tích lịch sử, công trình văn
hoá nổi tiếng, phong tục tập quán đặc sắc...
Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế và khả năng kinh doanh như trên, du lịch là
lĩnh vực kinh doanh có khả năng thu lợi nhuận cao, thu hồi vốn đầu tư nhanh so với các
lĩnh vực khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng của ngành du lịch, nếu được đầu tư khai
thác tốt sẽ góp phần tăng nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Ngày nay, ở nhiều nước
công nghiệp, thu nhập từ du lịch thường chiếm 20% hoặc cao hơn trong tổng sản phẩm
quốc gia (GDP). Hoạt động du lịch tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như giao
thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng các nghề thủ công truyền thống, mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hoá, quảng bá sản phẩm của quê hương đất nước mình làm ra đến với
bạn bè thế giới, là kênh quảng cáo hữu hiệu ra nước ngoài, giải quyết việc làm cho người

quan hệ hợp tác, ngoại giao, giao lưu kinh tế, văn hoá khoa học, kỹ thuật, tạo mối quan hệ
thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Phát triển du lịch góp phần
xoá đói giảm nghèo, làm thay đổi diện mạo của một vùng, một quốc gia ngày càng văn minh
và tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, hạn chế đầu tiên về mặt xã hội khi phát triển du lịch có thể làm phát sinh
và gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, ma tuý. Thậm chí, ở một số nước còn tổ
chức nhà chứa phục vụ khách. Nguy hiểm hơn, giờ đây còn xuất hiện ngày càng gia tăng
nhiều tội phạm về giết người, con cái hư hỏng, đua đòi học theo những thói hư thật xấu, ăn
chơi xa đoạ, tha hoá nhân phẩm, nhất là phụ nữ, không đúng với phong tục tập quán của
con người Á Châu, dịch vụ karaoke xuất hiện không tuân thủ theo các quy định của Nhà
nước… Đây là một số vấn đề biểu hiện xấu của xã hội ngày nay.
Ngoài ra, một số kẻ xấu lợi dụng đi du lịch để tuyên truyền phản động chống đối Nhà
nước, tuyên truyền văn hoá phẩm đồi trụy, buôn bán hàng quốc cấm... là những mặt trái tác
động tiêu cực đối với nền văn hoá xã hội đất nước.
1.2. NỘI DUNG, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
1.2.1. Lựa chọn tầm nhìn phát triển du lịch
Bất cứ một ngành nào, để phát triển, thì điều quan trọng đầu tiên là tầm nhìn chiến
lược và sự quan tâm của Chính phủ đối với ngành nghề đó. Ngành du lịch cũng không
ngoại trừ. Chính phủ phải có định hướng, coi du lịch là một ngành nghề kinh tế mũi


nhọn. Nhà nước phải có những chính sách đầu tư thoả đáng, có tầm nhìn xa trông rộng,
có định hướng phát triển lâu dài, bền vững, tập trung khai thác vào những loại hình du
lịch có thế mạnh sẵn có. Nhà nước phải có chính sách mở cửa, thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, các tập thể cá nhân có tiềm năng đầu tư phát
triển du lịch.
Vai trò của Chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển du lịch là chức năng quản lý nhà
nước về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay
các doanh nghiệp du lịch. Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý, nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động

động du lịch.
- Tăng cường tổ chức tuyên truyền quảng cáo du lịch, tăng cường ứng dụng khoa
học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường du lịch đang là những
yêu cầu cấp thiết đối với việc phát triển du lịch ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay.
- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động du
lịch, thúc đẩy du lịch CHDCND Lào theo định hướng chung của đất nước, hạn chế và xoá
bỏ các hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của du lịch mà nhiều nước đã mắc phải qua
hoạt động du lịch (mại dâm, văn hoá, đồi trụy, nghiện hút...).
1.2.2. Đầu tư kết cấu hạ tầng
Du lịch phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng như đường xá, các khu vui chơi giải
trí, nhà hàng, khách sạn, sân bay, phương tiện vận tải…
Cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng, đây là một nguồn lực, là điều kiện không
thể thiếu được để phát triển du lịch. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng tốt, đồng bộ là điều
kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, ngược lại sẽ gây khó khăn cho phát triển du lịch. Đầu
tư cơ sở hạ tầng bao gồm:
- Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảo nơi ăn, chốn
ở, hệ thống giao thông, phương tiện đi lại cho khách du lịch. Đây là những dịch vụ đặc
trưng nhất của hoạt động kinh doanh du lịch, đáp ứng nhu cầu của con người (ăn, ngủ
nghỉ, đi lại), khi họ sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành của các sản phẩm du
lịch. Đầu tư vào cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng và dịch vụ ăn uống bao gồm các phương


tiện vật chất, tham gia vào việc sản xuất và cung ứng các dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng
nhu cầu ăn uống và giải trí của du khách như: các phòng ăn uống, nhà kho, nhà bếp các
trang thiết bị tiện nghi phục vụ du khách.
- Đầu tư vào mạng lưới bán hàng: đây là một trong các cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch quan trọng nhất để tạo được thu nhập cho địa phương và đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hoá đặc trưng của địa phương mình, của đất
nước mình, hàng thực phẩm và các hàng hoá khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật này gồm hai

điện, phòng sao chép... Cơ sở vật chất - kỹ thuật của bộ phận này thường gắn liền với
các cơ sở lưu trú. Quy mô của hệ thống này phụ thuộc vào quy mô của bộ phận lưu trú.
Ngoài ra, việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần đắc
lực vào thực hiện giao lưu các vùng và các khu vực các nước.
Bên cạnh đó, điều cần thiết nhất là sự an toàn cho du khách: một đất nước có một
hệ thống chính trị bất ổn, có xung đột sắc tộc, hay có khủng bố mất an ninh chính trị cũng
là yếu tố bất an cho mỗi du khách.
1.2.3. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch
- Xây dựng chiến lược phát triển du lịch
Thực hiện đường lối và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển
du lịch: văn hoá, thiên nhiên, lịch sử, Tổng cục Du lịch kết hợp với cơ quan, bộ ngành liên
quan xây dựng chiến lược phát triển du lịch. Đây là một trong những nội dung quản lý nhà
nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên dịa bàn của chính quyền cấp tỉnh,
giúp cho các thành phần kinh tế an tâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du
lịch.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh
là lợi nhuận. Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu
quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương vừa qua cho
thấy điều đó. Nhất là, các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng, các khu, điểm
du lịch hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà
nghỉ…Vì thế, chính quyền cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng kịp thời các
chiến lược phát triển du lịch của địa phương, các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược phát triển
du lịch phải phù hợp với chiến lược phát triển chung của cả nước. Đáp ứng yêu cầu của quá


trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Chiến lược phát triển du lịch. Chiến lược du lịch quy định xu hướng, quy
hoạch, chính sách và mục đích chung của việc phát triển, khuyến khích du lịch thích hợp
với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, làm cho ngành du lịch tăng

Như chúng ta đã biết, du lịch là một lĩnh vực có tính liên ngành. Trong sự phát triển
của mỗi điểm đến du lịch đều có sự tác động qua lại giữa du lịch và một số lĩnh vực khác
của nền kinh tế và xã hội. Để điểm đến du lịch có thể phát triển hiệu quả, bền vững cần
phải có phương án ngăn ngừa những vấn đề tiêu cực có thể phát sinh.
Ngành du lịch nếu so với các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân, du lịch vẫn
còn là một lĩnh vực mới mẻ ở nhiều quốc gia, trong đó ở CHDCND Lào. Mặc dù có định
hướng phát triển du lịch, nhưng vẫn thiếu kinh nghiệm về quản lý, tổ chức và phát triển du
lịch như nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển.
Quy hoạch phát triển du lịch ở cấp quốc gia và vùng mang lại những lợi ích đặc
trưng quan trọng sau:
-Thiết lập được các mục tiêu và những chính sách nhằm tìm ra những giải pháp để
đạt được mục tiêu.
- Phát triển du lịch đồng thời với việc khai thác sử dụng và bảo vệ hợp lý các tài
nguyên thiên nhiên và nhân văn cho hiện tại cũng như trong tương lai.
- Tạo sự thống nhất trong phát triển du lịch một vùng và thiết lập các mối liên kết
giữa du lịch và các ngành kinh tế khác .
-Tạo cơ sở cho việc ra các quyết định về phát triển du lịch.
- Tạo ra sự phối kết hợp đồng bộ giữa các hoạt động du lịch trên địa bàn: sự tác động hỗ trợ
giữa các điểm du lịch, các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch...
- Tối ưu và cân bằng các lợi ích kinh tế, môi trường tự nhiên, văn hoá, xã hội mà
ngành du lịch đóng góp cho xã hội, đồng thời giảm thiểu các tác hại mà hoạt động du lịch
có thể gây ra.
- Đưa ra những hướng dẫn cơ bản về việc bố trí, thiểu loại, quy mô phát triển các
điểm du lịch, tiện nghi, dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch.
- Đề ra các tiêu chuẩn và hướng dẫn soạn thảo các quy hoạch chi tiết cho các khu


các điểm du lịch đã được xác định.
- Tạo khuôn khổ cho việc thực hiện có hiệu quả các kế hoạch và chính sách phát triển du
lịch cũng như đặt nền tảng cho việc quản lý thường xuyên hoạt động du lịch thông qua việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status