TIỂU LUẬN về CÁCH TIẾP cận NGHIÊN cứu GIAI cấp CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 33

TIỂU LUẬN:
VỀ CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
HIỆN NAY


Tiếp cận nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, theo tác giả, ngoài
những tiêu chí đã có, cần phải bổ sung thêm những tiêu chí mới nảy sinh và cùng với
đó, cần phải hiểu quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về giai cấp công
nhân theo quan điểm lịch sử. Thêm vào đó, khi nghiên cứu giai cấp công nhân Việt
Nam cần phải phân chia quá trình hình thành và phát triển của nó theo các thời kỳ
lịch sử; đồng thời lựa chọn một khâu nào đó trong chuỗi dây xích những vấn đề cấp
bách để tập trung giải quyết rồi từ đó, lần ra các mắt xích kề bên.
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã xuất hiện nhiều ý
kiến khác nhau về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó. Do vậy, trước khi
đề cập đến vấn đề xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần bàn về cách tiếp cận nghiên cứu giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay.
Trong Sáng kiến vĩ đại, V.I.Lênin đã đưa ra bốn tiêu chí để đánh giá giai cấp: (1) Sự
khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế - xã hội nhất
định; (2) Khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất; (3) Khác nhau về vai trò
trong tổ chức lao động xã hội, trong tổ chức quản lý sản xuất; (4) Khác nhau về
phương thức thu nhận của cải xã hội. Vận dụng bốn tiêu chí nói trên để xác định một
giai cấp là cần thiết.
Khi bàn về giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra hai tiêu chí: (1) Về
nghề nghiệp, giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận


hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp; (2) Về vị trí trong quan hệ sản
xuất, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm
thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư.

nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Dù họ hoạt động trong bất kỳ thành
phần kinh tế nào thì với tư cách người làm công ăn lương, họ cũng đều là chủ của đất
nước, quyền lợi của họ được pháp luật nhà nước bảo vệ.
Ở đây, khi vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể vào việc nghiên cứu giai cấp công
nhân Việt Nam, việc tránh chủ nghĩa giáo điều là hết sức cần thiết. Điều đó có nghĩa
là, không thể đem những quan điểm giai cấp của thời kỳ trước đây - thời kỳ kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp - vận dụng một cách máy móc vào thời kỳ
đổi mới hiện nay, bởi tình hình đã thay đổi rất nhiều, khi chúng ta đã từ bỏ mô hình
chủ nghĩa xã hội kiểu cũ để chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước
pháp quyền, xã hội công dân, hội nhập quốc tế. Do vậy, hiện nay, chúng ta xem xét
giai cấp công nhân Việt Nam không phải trong hoàn cảnh đấu tranh giai cấp gay gắt,
đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, giữa con đường xã hội chủ
nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa để giải quyết vấn đề “ai thắng ai”, mà trong
hoàn cảnh đại đoàn kết dân tộc là động lực của sự phát triển, đảng viên cũng được
làm kinh tế tư nhân (trong đó có kinh tế tư bản tư nhân).
Giai cấp công nhân Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, nhưng điều đáng chú ý ở đây là, mãi đến năm 2020, nước
ta mới cơ bản trở thành nước công nghiệp; còn hiện nay, mặc dù đất nước đã thoát ra
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát
triển. Do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam còn phải đấu tranh rất gian khổ để từng
bước đạt các mục tiêu, như sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, biến
nước ta thành một nước công nghiệp, tiến tới xây dựng một xã hội mà trong đó, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Ở châu Âu, giai cấp công nhân bắt đầu hình thành cùng với sự ra đời của chủ nghĩa
tư bản vào khoảng thế kỷ XVI, đặc biệt phát triển mạnh vào thế kỷ XVIII khi cách
mạng công nghiệp nổ ra. Còn ở Việt Nam, giai cấp công nhân ra đời vào đầu thế kỷ
XX khi chủ nghĩa thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa. Như vậy,
ở nước ta, giai cấp công nhân ra đời trước giai cấp tư sản. Thế nhưng, do chủ nghĩa
tư bản thực lợi Pháp, do đất nước phải trải qua những cuộc kháng chiến lâu dài, ác




nhân.
Thứ hai, mặc dù đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đã được cải
thiện và khá hơn nhiều so với các thời kỳ trước, nhưng còn có quá nhiều khó khăn cả
về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, cả về nhà ở lẫn việc làm. Năm 1995, tiền
lương tối thiểu của người lao động đã được luật pháp hoá, nhưng mức lương tối thiểu
đặt ra thấp, không đủ chi cho nhu cầu thiết yếu của người lao động và chậm được
điều chỉnh, nên giá trị thực tế giảm dần. Tiền lương tối thiểu chung chưa trở thành
lưới an toàn cho lao động làm công ăn lương. Đời sống của giai cấp công nhân khó
khăn đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm và lòng tin của họ đối với
chế độ, với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, khi nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam
không thể bỏ qua tình cảnh hiện nay của họ.
Thứ ba, Đảng và Nhà nước ta đã cố gắng nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên
môn kỹ thuật của công nhân. Do vậy, so với các thời kỳ trước, về mặt này, chúng ta
đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, nếu so với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá thì trình độ các mặt hiện nay của giai cấp công nhân chưa đáp ứng
được; còn nếu so sánh với trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của công
nhân ở các nước phát triển thì hiện trạng của nước ta thật đáng lo ngại: tỷ lệ lao động
có trình độ cao hiện còn rất thấp, lao động chưa qua đào tạo còn nhiều.
Khi nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, như đã trình bày ở trên, có
hàng loạt vấn đề cấp bách đòi hỏi phải giải quyết. Đương nhiên, không thể đồng thời
giải quyết cùng một lúc tất cả mọi vấn đề. Ở đây, nên lựa chọn một khâu nào đó
trong dây xích này để tập trung giải quyết rồi từ đó, lần ra các mắt xích kề bên. Theo
tôi, mắt xích đó chính là đào tạo nghề cho công nhân, bởi thất nghiệp, không có việc
làm chủ yếu không phải do không có người thuê, mà do lao động không được đào
tạo, hoặc đào tạo không đúng yêu cầu của thị trường. Nếu chúng ta biết căn cứ vào
yêu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước để xây dựng một chiến lược đào tạo
nguồn nhân lực thích hợp thì công nhân sẽ có việc làm và do có việc làm, đời sống
của họ sẽ được cải thiện và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ được đẩy

NGÔ ĐÌNH XÂY(*)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn, mang tính khái quát
quan niệm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa cái tất yếu và cái có thể để từ đó,


rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó. Bài viết cũng đã chỉ ra và phân tích sự
vận dụng phương pháp luận này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là sự vận dụng của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Cũng như C.Mác, Ph.Ăngghen là nhà phương pháp luận thiên tài. Song, người ta
thường chỉ nghĩ đến ông đã cùng với C.Mác sáng tạo và xây dựng nên phép biện
chứng duy vật với tư cách một khoa học có đầy đủ nguyên lý, quy luật và các
phạm trù cấu thành như chúng ta đã và đang giảng dạy. Điều đó, theo chúng tôi, là
đúng nhưng chưa đủ. Đọc, suy ngẫm và nghiên cứu kỹ cách tiếp cận và phương
pháp nghiên cứu của Ph.Ăngghen, chúng tôi thấy còn một điểm rất đặc sắc, mang
tính ngầm định, riêng có, tạo nên nét độc đáo trong cách tiếp cận, phương pháp
luận nghiên cứu của ông - đó là sự thống nhất giữa cái tất yếu và cái có thể, mặc
dù ông chưa một lần tuyên bố về vấn đề này. Hơn nữa, tính đặc sắc của sự thống
nhất giữa cái tất yếu và cái có thể không phải và không chỉ được thể hiện trong
một số trường hợp, một số lĩnh vực nghiên cứu, mà là sự xuyên suốt, nhất quán và
được tuân thủ triệt để ở tất cả các lĩnh vực nghiên cứu, trong toàn bộ quá trình tìm
kiếm chân lý của Ph.Ăngghen. Sự hiện diện và minh chứng rõ cho phương pháp
luận nghiên cứu đặc sắc này của ông được và có thể được tiếp cận và lý giải như
sau:
Thứ nhất, khi tiếp cận nghiên cứu về giới tự nhiên cũng như về toàn bộ thế giới
khách quan, Ph.Ăngghen đã nhận thấy và phát hiện ra một trong những mối quan
hệ rất phổ biến, bao quát, chi phối toàn thể thế giới hiện thực - đó chính là mối
quan hệ giữa cái tất yếu và cái có thể. Cái tất yếu phải xảy ra khi có đủ điều kiện
và đã chín muồi, thì nó phải xảy ra; song trong trường hợp này, quan hệ đó lại diễn

Thứ ba, trong phương pháp luận tổng kết thực tiễn cách mạng của Ph.Ăngghen
luôn có sự thống nhất giữa cái tất yếu và cái có thể. Nghiên cứu sự vận động và
phát triển của xã hội loài người, C.Mác cũng như Ph.Ăngghen đã thấy rằng, xã hội
luôn vận động, phát triển và do vậy, đến một lúc nào đó, loài người sẽ đạt tới một
trình độ hoàn thiện hơn, cao hơn, tốt đẹp hơn so với trạng thái xã hội hiện có. Theo
lôgíc không thể bàn cãi đó, xã hội cộng sản chủ nghĩa - một xã hội cao hơn, tốt đẹp
hơn, hoàn chỉnh hơn xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ ra đời. Điều đó cũng có
nghĩa là cách mạng vô sản sẽ diễn ra, khả năng phát triển của xã hội loài người lên
chủ nghĩa cộng sản là tất yếu, bởi nó tuân theo quy luật “thép” của lịch sử và bản


thân nó là một quá trình lịch sử - tự nhiên trong sự vận động của xã hội loài người.
Đó là sự tất yếu.
Song, cách mạng vô sản nổ ra bao giờ, ở đâu, với hình thức ra sao, trong những
điều kiện, hoàn cảnh nào thì lại phụ thuộc vào những nhân tố khách quan và chủ
quan của lịch sử. Điều đó có nghĩa là sự phát triển tiến lên chủ nghĩa cộng sản ở
một nước nào đó, ở một tình thế, một trạng thái nào đó không phải đã được quy
định trước, không phải khuôn mẫu đã được định sẵn, mà có thể diễn ra thế này
hoặc thế khác, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, nghĩa là chỉ là sự có
thể. Chính vì tuân thủ nguyên tắc phương pháp luận này mà C.Mác cũng như
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: Sự phát triển của xã hội loài người lên chủ nghĩa cộng sản
là tất yếu; song nó là sự phát triển trực tiếp (từ chủ nghĩa tư bản lên), hay nó là sự
phát triển gián tiếp (từ trạng thái tiền tư bản lên) thì đó chỉ là những khả năng,
những sự có thể mang tính tất yếu trong tiến trình vận động của lịch sử. Và, cũng
chính tuân thủ nguyên tắc phương pháp luận này mà Ph.Ăngghen đã rút ra những
khả năng phát triển khác nhau của cùng một cuộc cách mạng - cách mạng vô sản.
Thứ tư, trong quan niệm về tự do, Ph.Ăngghen cũng đã áp dụng phương pháp
luận của cái tất yếu và cái có thể để giải quyết khá hay, khá chặt chẽ và khá độc
đáo về vấn đề này. Theo Ph.Ăngghen, tự do có thể là cái tất yếu, song cũng có thể
là cái có thể. Tự do là cái tất yếu, hợp quy luật, nghĩa là tự do thật sự theo đúng

lai và hơn thế nữa, khi tồn tại, bước lên vũ đài lịch sử chính trị là chính mình thì
giai cấp công nhân tất yếu phải tìm, đưa ra và xây dựng được một học thuyết khoa
học riêng, một tuyên ngôn riêng mà thông qua đó, giai cấp công nhân tuyên bố
công khai về vai trò lịch sử của chính mình và cũng qua học thuyết đó để giai cấp
công nhân thiết kế và định hướng được một mô hình phát triển xã hội đối với nhân
loại trong tương lai. Đó là sự tất yếu và do vậy, học thuyết của C.Mác và
Ph.Ăngghen là một kết quả tất yếu trong sự vận động của lịch sử tư duy nhân loại.
Song, học thuyết đó như thế nào là hoàn chỉnh, nó được cấu thành ra sao thì đó lại
là cái có thể. Chính vì vậy mà Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận: “Toàn bộ thế giới
quan [Auffassu - ngsweise] của C.Mác không phải là một học thuyết, mà là một
phương pháp. Nó không đem lại những giáo điều có sẵn, mà đem lại những điểm
xuất phát cho việc tiếp tục nghiên cứu và phương pháp cho sự nghiên cứu đó"(2).
Như vậy, theo Ph.Ăngghen, học thuyết Mác chỉ là phương pháp, hay nói chính xác
hơn chỉ là phương pháp luận biện chứng và cái phương pháp luận biện chứng ở
đây là cái tất yếu soi đường, định hướng, là cái làm cơ sở, nền tảng, là điểm tựa để


nhìn nhận đánh giá mọi sự vật, hiện tượng cho tất cả những ai chấp nhận và tuân
theo học thuyết đó. Còn nội dung bao chứa trong nó và sự biểu hiện ra của học
thuyết đó chỉ là cái là cái có thể, dĩ nhiên là cái có thể mang tính tất yếu và dựa
trên tính tất yếu. Và, vì nó là cái có thể, nên nó là hệ mở, nó có thể và cần phải
được mở rộng, điều chỉnh, bổ sung, phát triển thêm. Đây là chỉ dẫn cực kỳ quan
trọng, mang tính kinh điển và là phương pháp luận, là cơ sở để những người
mácxít chân chính sau này phải có nhiệm vụ bổ sung thêm, phát triển và hoàn
chỉnh học thuyết Mác, nếu như họ, theo cách nói của V.I.Lê-nin, “không muốn lạc
hậu so với cuộc sống”.
II
1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra và thực thi một nguyên lý phương
pháp luận nổi tiếng cho hoạt động của cá nhân cũng như cho cả dân tộc: "Dĩ bất
biến ứng vạn biến". Cái bất biến ở đây chính là độc lập dân tộc, tự do cho nhân

sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam là một nét đặc sắc nổi bật trong hệ thống phép
biện chứng của các nhà kinh điển mácxít. Nó có giá trị khoa học và thực tiễn to
lớn không chỉ đối với thời đại của chính Ph.Ăngghen, mà còn rất hữu ích cho
chúng ta ngày nay. Qua phương pháp luận này của Ph.Ăngghen, chúng ta có thể
thấy cái tất yếu chỉ là cái tất yếu trong trường hợp này, trong mối quan hệ này,
trong hoàn cảnh này, môi trường và điều kiện này, còn cái tất yếu là cái có thể
trong những mối quan hệ khác, trong môi trường và điều kiện khác. Nói cách
khác, cái tất yếu chỉ là cái tất yếu trong những trường hợp cụ thể, định hình cụ thể.
Chính vì vậy mà V.I.Lênin đã rất có lý khi cho rằng, bản chất, linh hồn sống của
chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể. Phương pháp luận này
chính là cơ sở, là định hướng rất cụ thể và thiết thực cho hoạt động lý luận và thực
tiễn của các nhà mácxít, các đảng mácxít về sau này. Đó còn là kim chỉ nam rất
quý cho những người cộng sản, trong đó có những người cộng sản Việt Nam,
mong muốn và đang tuân theo chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng một xã hội
mới - xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp và thích dụng được với đất nước mình,
dân tộc mình, đồng thời tìm ra những nét riêng có, những đặc thù riêng có trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
3. Với tư cách là một đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng và kim chỉ nam cho hoạt động của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam, trong
quá trình hoạt động thực tế, đã tuân theo và vận dụng sáng tạo phương pháp luận
về sự thống nhất của cái tất yếu và cái có thể vào việc giải quyết những vấn đề


thực tiễn của cách mạng nước ta. Khi nhận thấy những điều kiện khách quan và
chủ quan cả ở trong nước lẫn trên thế giới, đã đủ chín muồi và cho phép, Đảng
Cộng sản Việt Nam cho rằng, việc phải đấu tranh để xoá bỏ chế độ cũ, đánh đuổi
thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc và thống nhất đất nước nhằm thiết lập
và xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự cần thiết,
là tất yếu, là công việc hợp quy luật. Song, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội đó như
thế nào, mô hình ra sao, bằng con đường nào, thông qua những giai đoạn phát triển

tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể”, từ đó đưa ra và thực thi những mô hình hiện thực
mới, những cách tiếp cận mới theo những cách làm, những giải pháp mới phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh trong nước và quốc tế nhằm phát triển đất nước, chấn
hưng dân tộc trên cơ sở định hướng xã hội chủ nghĩa, nghĩa là trong cách làm,
cách thực thi, cách triển khai phải là sự có thể (dĩ nhiên là sự có thể được quy định
bởi tính tất yếu, chứ không phải là sự có thể tuỳ tiện, vô nguyên tắc). Có và chỉ có
như vậy, chúng ta mới có thể hoàn thành được sứ mệnh cao cả mà dân tộc giao
phó, truyền thống đòi hỏi là phải xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nghĩa là tinh thần của phương pháp
luận sự thống nhất giữa cái tất yếu và cái có thể phải được quán triệt hơn nữa,
thấm nhuần sâu sắc hơn nữa. Đa dạng và phong phú hơn nữa về mô hình, con
đường đi; năng động, tìm tòi, đổi mới hơn nữa về nhận thức, tư duy, cách nghĩ;
sáng tạo, độc đáo, cụ thể hoá và khả thi hơn nữa về cách làm - đó là tinh thần cơ
bản, xuyên suốt của phương pháp luận về sự thống nhất giữa cái tất yếu và cái có
thể mà những người cộng sản Việt Nam phải rút ra khi nghiên cứu lý luận của
Ph.Ăngghen, tư tưởng Hồ Chí Minh và đó cũng là tinh thần xuyên suốt của bài
học hơn 20 năm đổi mới đất nước mà Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo thực
hiện; hơn thế nữa, đã được Đại hội X của Đảng tổng kết và nêu thành 5 bài học quí
giá.r
(*) Tiến sĩ, Giám đốc Trung tâm Đào tạo, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
(1) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1994, tr.163-164.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.39, tr.545.

QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC VỀ GIÁO DỤC


VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY


thực thể sinh học - xã hội. Theo đó, đứa trẻ mới ra đời chỉ là “con người dự bị”. Nó
không thể trở thành con người, nếu bị cô lập, tách khỏi đời sống xã hội. Trong Bản
thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác viết: “Cá nhân là thực thể xã hội, cho nên
mọi biểu hiện sinh hoạt của nó, ngay cả nếu nó không biểu hiện sinh hoạt tập thể,
được biểu hiện cùng với những người khác - là biểu hiện và khẳng định của sinh hoạt
tập thể”(1). Như vậy, muốn tồn tại và phát triển, đứa trẻ phải gia nhập vào môi
trường xã hội. Chính việc gia nhập vào môi trường xã hội, thông qua các thiết chế xã
hội, đặc biệt là giáo dục, con người mới có thể hoà nhập vào xã hội. Giáo dục giúp
con người có được những kinh nghiệm cần thiết để sống, thích ứng và phát triển. Mặt
khác, giáo dục còn đưa lại cho con người tri thức và văn hóa. Điều này giúp họ có
nhiều cống hiến hơn cho xã hội. Như vậy, ở đây, theo các ông, giữa xã hội và hoạt
động giáo dục luôn có mối quan hệ biện chứng. Trong đó, xã hội đóng vai trò là nhân
tố quy định hoạt động giáo dục, định hướng cho sự phát triển của giáo dục, còn giáo
dục có tác động tích cực đối với sự phát triển của xã hội.
Nghiên cứu sự phát triển của xã hội loài người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cho
rằng, lịch sử là sự phát triển, là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội.
Tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội là các nền giáo dục khác nhau phù hợp
với mỗi hình thái kinh tế - xã hội đó. Khi hình thái kinh tế - xã hội cũ mất đi, được
thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới thì nền giáo dục cũ tương ứng với hình
thái kinh tế - xã hội cũ cũng mất đi và được thay thế bằng nền giáo dục mới. Ở đây,
theo các ông, sự phát triển, sự thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội,
mà hình thái kinh tế - xã hội sau bao giờ cũng tiến bộ hơn hình thái kinh tế - xã hội
truớc, được bắt đầu bằng sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất lại dẫn đến sự biến đổi quan hệ giữa con người với con người trong
sản xuất, từ đó dẫn đến sự biến đổi các mối quan hệ xã hội và đến mỗi cá nhân. Về
điều này, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, “giống như trong thế kỷ trước, người nông dân và
người công nhân công trường thủ công, sau khi được thu hút vào đại công nghiệp, đã
thay đổi toàn bộ lối sống của họ và bản thân họ đã trở thành những con người hoàn



rất rõ rằng, tương lai của giai cấp công nhân tức là tương lai của loài người, hoàn


toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên”(5).
Nhìn lại lịch sử đã qua, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn cho rằng, cùng với
sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phân công lao động. Sự phân công lao động
này làm cho con người ngày càng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hẹp, mỗi người là
một mắt khâu của quá trình sản xuất xã hội và do vậy, nó tất sẽ dẫn đến sự phiến diện
trong phát triển con người. Bởi vậy, theo các ông, “công tác giáo dục sẽ làm cho người
trẻ tuổi… có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ
theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ. Do đó, công tác giáo
dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay
đang buộc mỗi một người phải theo”(6).
Trong lịch sử tư tưởng giáo dục, các triết lý giáo dục, nhìn chung, đều coi giáo dục
như là một cách thức truyền thụ những giá trị xã hội nào đó để cho người học có thể
gia nhập vào xã hội, phục vụ cho xã hội đó và phát triển nó trong khuôn khổ của xã
hội. Giáo dục ở đây có mục đích là lấy xã hội làm trung tâm. Xã hội trang bị cho
người học những kiến thức kinh tế, kỹ thuật, kinh tế,… để phục vụ cho xã hội đó.
Khác với các quan niệm đó - quan niệm chỉ coi giáo dục là phương pháp đào luyện
con người thành những cỗ máy phục vụ cho xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
cho rằng, giáo dục không những làm cho con người thích nghi với xã hội, phục vụ
cho xã hội tốt hơn, mà hơn thế, quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm cho con
người được phát triển toàn diện các năng lực của mình. Về quan niệm này, C.Mác đã
chỉ rõ, nền giáo dục sau này sẽ là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em, khi đến lứa
tuổi nhất định, đều biết “kết hợp trí dục và thể dục với lao động chân tay và do đó,
kết hợp lao động chân tay với trí dục và thể dục”, “kết hợp lao động sản xuất với trí
dục và thể dục” và coi đó không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền
sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người
phát triển toàn diện…”(7).
Nhìn lại lịch sử nhân loại đã qua, có thể nói, quan niệm của các nhà sáng lập chủ

dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng
thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình
chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng
trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Công
nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công
nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành mũi nhọn phát triển
theo trình độ tiên tiến của khoa học – công nghệ thế giới”(8). Do vậy, việc nâng cao


dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là điều hết
sức quan trọng. Đây chính lànhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.Để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó, trong giáo
dục, chúng ta cần có nhiều cải cách hơn nữa. Tuy nhiên, theo chúng tôi, từ quan
điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về giáo dục, có hai vấn đề mà chúng ta cần
phải chú ý. Đó là:
Thứ nhất, giáo dục con người theo hướng trí tuệ hoá.
Khi nói về xã hội tương lai, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã dự báo về việc “tri
thức xã hội phổ biến” trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”. Dự báo này đã được
thực tiễn của sự phát triển khoa học và công nghệ ngày nay xác nhận. Nhìn lại lịch
sử đã qua, chúng ta thấy, để có thể phát triển kinh tế, cần phải có các loại vốn nhất
định. Nếu như ở nền kinh tế nông nghiệp, cái cần cho phát triển là nguyên liệu,
đất,…; ở nền kinh tế công nghiệp là tài chính, cơ sở hạ tầng,… thì ở nền kinh tế ngày
nay - nền kinh tế của thời đại văn minh trí tuệ, thời đại mà hàm lượng trí tuệ trong
các sản phẩm xã hội ngày càng tăng lên, cái cần cho phát triển chính là vốn con
người, trí tuệ con người. Mặt khác, các nguồn nguyên liệu, như than, khoáng sản…
phục vụ cho sản xuất, cho nền kinh tế quốc dân lại là nguồn nguyên liệu không tái
sinh được, do vậy, nếu không biết cách sử dụng, khai thác, sản xuất vật liệu, đến một
lúc nào đó, chúng sẽ cạn kiệt, mà nhu cầu của con người ngày càng tăng lên cùng với
sự gia tăng dân số. Chính vì lẽ đó, chúng ta cũng cần phải có khoa học, kỹ thuật, có
tri thức để biết cách sử dụng các tài nguyên đó. Người ta đã tính, năm 1960, nước

Ở Việt Nam, vấn đề này đã được quan tâm từ lâu với quan niệm nền tảng coi con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm
này, trong giáo dục, được thể hiện qua các văn kiện của Đảng, qua các chính sách
của Nhà nước. Trên thực tế, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục,
trong việc “nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài”. Chúng ta đã chú ý đến việc giáo
dục toàn diện cho người học, bao gồm trí dục, đức dục và thể dục, hướng tới chân thiện - mỹ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, giáo dục Việt Nam vẫn còn một số
bất cập. Việc giáo dục từ chương và “đồng nhất hoá” (dẫu vẫn có giá trị nhất định)
hiện nay đã tạo nên những con người không cá tính, không dám bộc lộ bản thân, thiếu
sự sáng tạo, tự chủ,... Đây là những vấn đề mà Việt Nam, nếu muốn mục tiêu phát
triển con người của mình thành công, cần phải tính đến.r


(*) Thạc sĩ triết học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.42. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,
tr.171.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.474.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.475.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.46, ph.II, tr.368-369, 372-373.
(5) C.Mác. Nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1958, tr.7.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.4, tr.475.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.23, tr.687, 688.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khoá VII, Hà Nội, 1994, tr.27.
(9) Xem: www.vietnamnet.vn/giaoduc

VẤN ĐỀ DÂN SINH TRONG CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HÒA
CỦA TRUNG QUỐC VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA
VIỆT NAM

PHẠM VĂN ĐỨC (*)

là vấn đề trung tâm của chủ nghĩa Tam dân. Bởi vì, thực chất hay mục đích của việc
giải quyết vấn đề dân quyền, dân chủ là để giải quyết vấn đề dân sinh. Có thể nói,
trong quan hệ với vấn đề dân sinh, vấn đề dân chủ và dân quyền trở thành phương
tiện để giải quyết vấn đề đời sống của nhân dân, sự sinh tồn của xã hội, sinh kế của
quốc dân, sinh mệnh của quần chúng. Hơn thế nữa, ông còn khẳng định vấn đề dân
sinh là quy luật của sự vận động và phát triển xã hội, là động lực của sự tiến hóa xã
hội. Tôn Trung Sơn viết: “Nhân loại mưu cầu sinh tồn mới là định luật của tiến hóa
xã hội, mới là trọng tâm của lịch sử. Nhân loại mưu cầu sinh tồn là vấn đề gì? Đó là
vấn đề dân sinh. Do vậy, có thể nói, vấn đề dân sinh mới là nguyên động lực của tiến
hóa xã hội”(1).
Tôn Trung Sơn còn coi chủ nghĩa dân sinh là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản. Theo ông, vấn đề dân sinh là “vấn đề xã hội, nên chủ nghĩa dân sinh là chủ
nghĩa xã hội, còn gọi là chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa đại đồng”(2). Bởi vì,
xét đến cùng, mục đích của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là giải quyết vấn


đề dân sinh. Đây là điểm mà Tôn Trung Sơn hoàn toàn đồng ý với chủ nghĩa Mác.
Các ông đều coi chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là giai đoạn phát triển cao hơn
chủ nghĩa tư bản, là giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại. Mục đích của
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là vì con người và giải quyết vấn đề dân sinh.
Tôn Trung Sơn cho rằng, chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng của chủ nghĩa dân sinh, còn
chủ nghĩa dân sinh là thực hành chủ nghĩa cộng sản. Sự khác nhau giữa C.Mác và
Tôn Trung Sơn chỉ là phương pháp.
Điểm khác nhau giữa hai ông là ở chỗ, nếu C.Mác coi đấu tranh giai cấp là động lực của
sự phát triển xã hội, thì Tôn Trung Sơn coi vấn đề dân sinh mới chính là động lực gốc
của lịch sử như đã trình bày ở trên. Do đó, Tôn Trung Sơn chủ trương đưa vấn đề dân
sinh trở thành trung tâm của chính trị, kinh tế, xã hội của nhân loại và phải lấy dân sinh
làm trung tâm của lịch sử xã hội(3).
Tôn Trung Sơn cũng không đồng ý với việc dùng chuyên chính công nông, tức là
“dùng phương pháp cách mạng để giải quyết vấn đề kinh tế”. Ông cho rằng, phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status