Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
MỞ ĐẦU
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm, xuất
phát điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học. Việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân là một trong những cống hiến vĩ đại của C.Mác và
Ph.Ăngghen đối với nhân loại.
Trong bối cảnh hiện nay, trước sự biến động phức tạp, khó lường của
tình hình thế giới, trước sự phát triển quanh co của lịch sử, nhất là từ sau khi
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng
thế giới lâm vào thoái trào, chủ nghĩa tư bản tạm thời thắng thế, làn sóng hận
thù chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin lại dấy lên khắp mọi nơi. Nhân
cơ hội đó, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, thậm chí có cả một bộ phận không ít
những người vốn là mác xít, nay trở cờ, lật lọng quay lại phê phán, xuyên tạc,
phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân và rêu rao về sự “tận cùng của lịch sử”. Trong bối cảnh đó,
việc làm sáng tỏ và nhận thức lại đúng đắn hơn về giai cấp công nhân là vấn
đề có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc và thiết thực.
Đối với cách mạng Việt Nam, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã thể hiện rõ vai trò,
sứ mệnh lịch sử của mình. Giai cấp công nhân là người lãnh đạo cách mạng
Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, cũng cần nhận
thức được rằng, bên cạnh những mặt ưu điểm, giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay cũng còn những điểm hạn chế. Trước yêu cầu của sự nghiệp cách
mạng trong giai đoạn mới, đặc biệt là yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa
1
– hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
vững mạnh, xứng đáng là lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng xã
hội mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, trên cơ sở tổng kết
20 năm đổi mới, đã xác định phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt
nhân công xưởng, nhà máy”, “giai cấp công nhân đại cơ khí” Ngoài ra,
trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử dụng một số hình
thức diễn đạt khác như: “lao động làm thuê”, “giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ
sống dựa vào bán sức lao động của mình”, “giai cấp của những người hoàn
toàn không có của”, “giai cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX”
Cần khẳng định rằng, tất cả những thuật ngữ đồng nghĩa này chỉ là sự
khác nhau về hình thức biểu đạt trong những văn cảnh cụ thể của một khái
niệm: giai cấp công nhân. Sự khác nhau căn bản, theo các ông, chỉ là sự khác
3
nhau giữa những công nhân đứng máy (thuộc về những người này có một số
công nhân trông coi máy phát động, nghĩa là cho nó ăn than, dầu) và những
người giúp việc (hầu hết là trẻ em) cho những công nhân cơ khí đó. Trên một
mức độ nhiều hay ít, tất cả feeders (những người chỉ nạp nguyên liệu cho máy
móc) đều là những người giúp việc. Bên cạnh những loại thợ chính đó còn có
những người, với một số lượng không đáng kể, làm công việc kiểm tra toàn
bộ máy móc và thường xuyên sửa chữa máy móc như kỹ sư, thợ máy, thợ
mộc v.v Đó là lớp công nhân cao cấp, một phần có tri thức khoa học, một
phần có tính thủ công, đứng ngoài giới công nhân công xưởng và chỉ được kết
hợp với những công nhân này thôi. Sự phân công lao động đó có tính chất
thuần tuý công nghệ” [3; 602]
Ngoài ra, khi phân biệt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân gắn
với vai trò, sứ mệnh mệnh sử thế giới của nó với sự biến dạng bản chất ấy, sự
tha hoá, đánh mất mình của giai cấp vô sản trong tình trạng bị nô dịch bởi chủ
nghĩa tư bản, các nhà kinh điển đã sử dụng những thuật ngữ đối ngược nhau:
“giai cấp vô sản cách mạng” và tầng lớp “vô sản lưu manh” mất gốc, những
phần tử cặn bã của xã hội tư sản. Đồng thời, cũng để phân biệt giai cấp công
nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục và trở thành công cụ
của giai cấp tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong, mưu toan
kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự của
“chủ nghĩa công liên” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư tởng
sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc
lột giá trị thặng dư. Chính vì vậy, giai công nhân trở thành giai cấp đối kháng
với giai cấp tư sản: “Giai cấp tư sản, tức giai cấp tư bản, mà lớn lên thì giai
cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, tức là giai cấp chỉ có thể kiếm được
5
việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư
bản, cũng phát triển theo. Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình để
kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán như
bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi may rủi của cạnh
tranh, mọi sự lên xuống của thị trường ”[6; 605].
Căn cứ vào hai tiêu chí trên, trong tác phẩm “Những nguyên lý của
chủ nghĩa cộng sản”, Ph.Ănghen đã đưa ra định nghĩa về giai cấp vô sản:
“Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức
lao động của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc
làm ăn, vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm
lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động
trong thế kỷ XIX Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản
sinh ra”[7; 441].
Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ănghen trong thời đại Đế quốc
chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp, Lênin đã bổ
sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. Theo Lênin, sự phân
chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự khác nhau của các tập
đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, sự khác nhau
trong quan hệ đối với quản lý sản xuất và khác nhau trong quan hệ phân phối
sản phẩm. Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Lênin đã đa ra một định nghĩa
nổi tiếng về giai cấp; trong những tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản ở Nga”, “Nhà nước và cách mạng”, “Kinh tế chính trị trong thời đại
chuyên chính vô sản” Lênin đã đư ra một định nghĩa mẫu mực về giai cấp
công nhân: “là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội
7
trình độ học vấn và trình độ văn hoá nói chung. Cùng với sự phát triển của
khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức, giai cấp công nhân có xu hướng “trí
thức hoá” để trở thành giai cấp công nhân trí thức (giai cấp công nhân có trình
độ tri thức cao, công nhân tự động hoá, không phải công nhân cơ khí hoá).
Tuy nhiên, trình độ tri thức của công nhân ngày càng cao không hề làm
thay đổi bản chất của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản, với tư cách
là giai cấp làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp.
Hiện tượng công nhân có cổ phần, cổ phiếu có xu hướng ngày càng tăng,
đương nhiên là tỷ lệ này không lớn, song thực tế đó cũng không làm thay đổi
một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất đối với
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, và giai cấp
công nhân vẫn phải bán sức lao động chân tay, lao động trí óc cho nhà tư bản
để kiếm sống. Do đó, bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa không hề
thay đổi.
Ở Việt Nam, khi bàn về khái niệm giai cấp công nhân, các trung tâm
nghiên cứu, các nhà khoa học cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau:
Theo các tác giả trong công trình “Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác -
Lênin trong thời đại ngày nay”, Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn Bộ
giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1996, định nghĩa: Giai cấp công nhân là giai cấp
những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc
các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội thì tùy thuộc vào
chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có
hoặc về cơ bản không tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là
những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ
yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình” [9; 97]
8
Với định nghĩa này, thứ nhất, tập thể các tác giả đã dựa chắc vào hai
được vai trò đại diện cho lực lượng sản xuất. Tuy nhiên định nghĩa này vẫn
chưa làm rõ vai trò thống trị về mặt chính trị của giai cấp công nhân, bất luận
trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa…
Theo tập thể các tác giả trong cuốn giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa
học, Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn Bộ giáo trình quốc gia các bộ
môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội,
2002, định nghĩa: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình
thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại,
với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc
tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các
quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội. ở các nước tư bản, giai cấp công ngân là những
người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho
giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội
chủ nghĩa, họ là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản
xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội
trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ” [11; 99].
Đối với định nghĩa này, ưu điểm chủ yếu là đã kế thừa định nghĩa trong
công trình “Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay”,
và có bổ sung thêm tính hiện đại của giai cấp công nhân do gắn liện với nền
sản xuất công nghiệp hiện đại và bổ sung thêm vai trò động lực của giai cấp
công nhân, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội. Song cũng vẫn chỉ nói được tính phức tạp của cơ
10
cấu giai cấp công nhân cũng như thực tế bộ phận công nhân ngoài quốc doanh
chưa phải là người làm chủ mà còn bị bóc lột…
Hiện nay, thế giới đã bước vào nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ,
nền văn minh tin học. Trong điều kện ấy, sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội, giải phóng triệt để con người tất yếu vẫn thuộc về giai cấp công
nhân hiện đại, tuyệt nhiên không phải vì là giai cấp nghèo khổ, thất học,
giai cấp công nhân được hình thành trong nền kinh tế công nghiệp, nay được
phát triển hơn, phát huy mạnh mẽ hơn, chẳng hạn như tính quốc tế, tính tổ
chức kỷ luật và đồng thời cũng xuất hiện những phẩm chất mới của giai cấp
công nhân trí thức.
Thứ ba, giai cấp công nhân trong nền kinh tế công nghiệp cũng như
trong nền kinh tế tri thức luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến, thấm
trí, ngày nay, giai cấp công nhân còn là lực lượng đi đầu, là lực lượng lãnh
đạo sự nghiệp phát triển nền kinh tế tri thức. Sẽ không thể có nền kinh tế tri
thức phát triển nếu không có giai cấp công nhân trí thức phát triển. Ngược lại,
không thể có giai cấp công nhân trí thức nếu không có nền kinh tế tri thức
phát triển. Giai cấp công nhân đã có sự thay đổi về hình thức và nội dung,
song bản chất lao động sáng tạo, bản chất cách mạng và khoa học thì không
thay đổi.
Thứ tư, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị qui định
chiều hướng phát triển của xã hội loài người. Điều đó có nghĩa là, cả trong
điều kiện chưa trở thành giai cấp cầm quyền- trong chủ nghĩa tư bản và trong
điều kiện cầm quyền- trong chủ nghĩa xã hôi, giai cấp công nhân luôn là giai
cấp tiên phong, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho xu
12
hướng tiến bộ, có vai trò quyết định chiều hướng phát triển hợp qui luật, hợp
xu thế của thời đại- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi toàn thế giới.
Thứ năm, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc
đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn
bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Đã là giai cấp công nhân thì dù trong điều kiện hoàn cảnh nào vẫn là giai
cấp có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới: lật đổ ách áp bức tư bản chủ nghĩa, ách áp
bức cuối cùng trong lịch sử, lãnh đạo nhân dân sáng tạo ra xã hội mới, xã hội xã
hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, giải phóng triệt để con người.
Từ cách tiếp cận như vậy, đặc biệt là căn cứ vào sự biến đổi, phát triển
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cũng
như trong sự xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống tốt đẹp ấy đã hội
thành bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Yêu nước, tự tôn dân tộc
trong thời đại mới là yêu chủ nghĩa xã hội, là đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi
mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ hai, giai cấp công nhân Việt Nam luôn có tinh thần và bản chất
cách mạng triệt để.
Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ
nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng
trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí
Minh giáo dục, đã sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn
có tinh thần và bản chất cách mạng triệt để.
14
Thông qua Đảng tiền phong của mình - Đảng Cộng sản Việt Nam, giai
cấp công nhân lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện cuộc kháng chiến thần thánh
hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và đưa cả nước
lên chủ nghĩa xã hội. Bước vào thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, khó lường, một lần nữa, tinh
thần và bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân Việt Nam lại được
thể hiện và phát huy trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, giai cấp công nhân Việt Nam là thành viên và lực lượng
lãnh đạo khối liên minh công - nông trí thức thông qua đảng tiền phong.
Xuất thân từ nông dân lao động, bị thực dân phong kiến bóc lột, bần
cùng hóa, giai cấp công nhân có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân
và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, thông qua Đảng
tiền phong của mình, giai cấp công nhân thực hiện sự lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng, sự nghiệp đổi mới, đồng thời là hạt nhân của khối liên minh giai cấp:
công nhân – nông dân – trí thức và khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta.
tế thế giới đã và sẽ mở ra cơ hội cho sự giao lưu, bắt nhịp với các hoạt động,
quá trình đổi mới và phát triển của giai cấp công nghiệp thế giới, hiện đại.
Ngoài việc tiếp thu những tiến bộ khoa học, công nghệ, giai cấp công nhân
nước ta cũng đồng thời tiếp thu cả những phẩm chất tốt đẹp của giai cấp công
nhân hiện đại - tác phong công nghiệp, tính tổ chức, tính kỷ luật, phong cách
lao động khẩn trương, khoa học và năng động của người công nhân hiện đại.
Đặc biệt tiếp xúc và làm việc với kỹ thuật - công nghệ hiện đại, người công
16
nhân, nếu muốn tiếp tục lao động, buộc phải vươn lên vượt qua những giới
hạn của chính mình, ra sức học hỏi nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn
nghiệp vụ, tay nghề, ngoại ngữ
Hơn nữa, hằng năm chúng ta cử hàng trăm công nhân, cán bộ đi học tập
ở nước ngoài, và hàng vạn công nhân xuất khẩu lao động, chính họ là những
người trực tiếp tiếp cận với nền khoa học - công nghệ hiện đại, có cơ hội hình
thành những phẩm chất tiên tiến của giai cấp công nhân hiện đại.
Tóm lại, những đặc điểm trên của giai cấp công nhân Việt Nam đã
khẳng định những nét đặc thù của từng quốc gia dân tộc. Bên cạnh những đặc
điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, giai cấp công nhân ở mỗi nước
còn có những đặc điểm riêng gắn với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước đó.
Đồng thời, những đặc điểm này còn chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của giai
cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
2. Thực trạng và những giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay
2.1 Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay và nguyên
nhân
Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh, ngang tầm với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động vững bước vào quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay, là trách
nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị cũng như mỗi người
công nhân.
triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Cùng
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời sống của
18
giai cấp công nhân nước ta từng bước được cải thiện, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, tư duy kinh tế, ý thức pháp luật cũng đang được nâng lên.
*Về hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm trên là cơ bản, trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam còn một số hạn chế, đó
là: Sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cả về số
lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp. Đang thiếu nghiêm
trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề;
nhưng lại thừa số lượng lớn lao động chưa qua đào tạo ở tất cả các ngành, các
thành phần kinh tế; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động của công nhân
còn nhiều hạn chế. Một bộ phận công nhân chậm thích ứng với cơ chế thị
trường. Trình độ giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không
đồng đều, có một bộ phận công nhân chưa hiểu hết về vai trò, sứ mệnh lịch sử
của giai cấp mình; ít hiểu biết về chính sách, pháp luật. Tỷ lệ đảng viên và cán
bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân chưa
thiết tha phấn đấu vào Đảng và không hăng hái tham gia hoạt động trong các
đoàn thể chính trị - xã hội. Việc làm và đời sống của công nhân còn nhiều khó
khăn, bức xúc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) chỉ rõ: "Ðảng có
chú trọng xây dựng giai cấp công nhân, nhưng quan tâm chưa đầy đủ, chưa
ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới. Nhà
nước ban hành nhiều chính sách, pháp luật xây dựng giai cấp công nhân,
nhưng chính sách, pháp luật này vẫn còn hạn chế "; "tỷ lệ đảng viên và cán
bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp Lợi ích một bộ phận công nhân
được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và
những đóng góp của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của
công nhân đang có nhiều khó khăn, bức xúc ".
mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế đang tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển giai cấp công nhân Việt
Nam. Việc cấu trúc lại nền kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà
nước, thu hút đầu tư của nước ngoài, thành lập doanh nghiệp mới của các
thành phần kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và lao động, nhập - chuyển
giao kỹ thuật công nghệ cao, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng các khu công
nghiệp, khu chế xuất , đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động với tốc độ
tăng trưởng cao, đồng thời tạo ra hàng triệu việc làm mới cho các lao động
công nghiệp. Quá trình này đã đưa lại những tích cực rõ rệt, một mặt, phát triển
giai cấp công nhân về số lượng; mặt khác, cũng tạo ra những cơ hội để người
công nhân học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề.
Bên cạnh những thuận lợi, quá trình này cũng tạo ra những thách thức
lớn đối với giai cấp công nhân Việt Nam. Việc cơ cấu lại nền kinh tế, tập
trung phát triển những ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh quốc tế đã dẫn tới
giảm việc làm ở những lĩnh vực không được đầu tư. Cùng với quá trình này,
việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa cũng làm xuất
hiện một lượng lao động dôi dư khá lớn. Lượng lao động không có việc làm
vừa là vấn đề bức xúc của mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp vừa là nỗi bức xúc
của xã hội. Đội ngũ cán bộ, công nhân tiếp tục làm việc trong các doanh
nghiệp cổ phần hóa, về cơ bản, được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành trong
môi trường làm việc cũ nên một bộ phận trình độ còn hạn chế, tay nghề thấp,
ý thức tổ chức kỷ luật kém, nặng tâm lý trông chờ ỷ lại, an phận nên không
ít người không đáp ứng được những đòi hỏi của tác phong, quy trình, công
nghệ sản xuất mới trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
21
Cùng với sự xuất hiện ồ ạt của các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, các liên doanh đã tạo ra những khu công nghiệp - khu
chế xuất tập trung, thu hút một đội ngũ công nhân mới, rất đông đảo, trẻ và có
trình độ văn hóa. Nhưng, đội ngũ công nhân này cơ bản có nguồn gốc từ nông
thôn, mang nặng tâm lý, ý thức, lối sống của người nông dân; không được đào
vấn đề thực tiễn đặt ra: về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong thời
kỳ mới; về vai trò làm chủ của giai cấp công nhân, biểu hiện qua quan hệ giữa
người sử dụng lao động và người lao động trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; về vấn đề trí thức hóa giai cấp công nhân và xu
hướng phát triển; về sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công
nhân; về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác
trong xã hội, đặc biệt là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức; về những xu hướng diễn biến tư tưởng trong giai
cấp công nhân; về mối quan hệ hợp tác, liên kết giữa giai cấp công nhân Việt
Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế
Tất cả những điều đó nhằm khắc phục những nhận thức không đầy đủ về
vị trí, vai trò trong thời đại ngày nay của giai cấp công nhân nói chung, giai
cấp công nhân Việt Nam nói riêng. Đồng thời, cung cấp cơ sở lý luận và thực
tiễn cho Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp
công nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.
2.2.2. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng ý
thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân
23
Đây là một vấn đề sống còn đối với người công nhân và việc phát triển
giai cấp công nhân trong tình hình mới. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đang tạo
ra một nhu cầu mới về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đặc thù
của kinh tế thị trường là tính cạnh tranh cao, lao động và việc làm cũng không
ngoài tình trạng đó. Sự cạnh tranh trong sử dụng lao động đòi hỏi lực lượng
lao động cần được đào tạo một cách chuyên nghiệp và cơ bản. Do đó, chất
lượng lao động, nguồn nhân lực mới là nhân tố quyết định cho sự phát triển
và tăng trưởng cao. Đối với người lao động, khi tham gia thị trường lao động
nếu chưa được đào tạo cơ bản, đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao
động, thì rất khó tìm được việc làm, và nếu có, thì cũng thường là việc làm
giáo dục; bảo đảm thống nhất định hướng, nội dung công tác tuyên truyền, giáo
dục từ trung ương đến địa phương, cơ sở và các tổ chức chính trị - xã hội khác.
Thứ năm: Xây dựng, hoàn thiện chính sách đầu tư thỏa đáng cho các
hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Có chính sách ưu đãi đối với hoạt động của
các nhà văn hóa lao động, nhà văn hóa thanh niên, câu lạc bộ công nhân, hệ
thống truyền thông đại chúng, các hoạt động văn hóa, thể thao và hoạt động
của tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ để phát huy mạnh mẽ
công tác tuyên truyền giáo dục
2.2.3. Thực hiện tốt chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho
công nhân gắn với tăng năng suất lao động
Trong xã hội hiện nay, cùng với nông dân, giai cấp công nhân là những
người nghèo trong xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân
lao động còn nghèo nàn. Đây là một nghịch lý rất đáng suy nghĩ. Giai cấp tiên
25