PHẦN MỞ ĐẦU
Con người là vấn đề cần quan tâm của mọi ngành khoa học, bất cứ thời kì
phát triển nào cũng hướng về con người và quay trở lại con người. Việc giải quyết
nội dung xung quanh vấn đề con người là tiêu chí phân biệt tính chất tiến bộ hay
không tiến bộ của quá trình phát triển kinh tế. Môn khoa học kinh tế chính trị
nghiên cứu con người như một yếu tố hệ thống vì con người vừa mang tính tự
nhiên, vừa mang tính xã hội và nhân văn, vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá
trình lịch sử.
Theo học thuyết của Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, sứ mệnh lịch
sử của con người. Trong tư tưởng khoa học và cách mạng ấy, con người vừa là mục
tiêu vừa là động lực phát triển của lịch sử. Bản chất nhân đạo mục tiêu cao cả,
thước đo nhân văn của sự phát triển và xã hội là phát triển vì con người. C.Mac còn
khẳng định rằng để có một nền kinh tế phát triển cao - một nền văn hoá tiên tiến -
một nền kỹ thuật hiện đại - một nền giáo dục phát triển cần phải có con người phát
triển toàn diện. Việc tạo ra những thành tựu kinh tế xã hội đó không những là điều
kiện để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, mà còn là điều kiện duy nhất để tạo ra
những con người phát triển toàn diện.
Trên bình diện thực tiễn, nhờ những thành tựu đạt được trong quá trình đổi
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang bước vào giai đọan đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu
trở thành một nước công nghiệp hiện đại có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
Để tiếp tục đổi mới, thực hiện thắng lợi công ngiệp hóa hiện đại hoá tại đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, thứ IX Đảng ta đã coi vấn đề chiến lược phát
triển con người Việt Nam được đặt lên quan tâm hàng đầu và cơ bản trong sự
nghiệp xây dựng CNXH. Thật vậy chỉ có những con người có phẩm chất mới trở
1
thành nguồn lực đáp ứng nhu cầu của quá trình xây dựng công nghiệp hoá hiện đại
hoá. Muốn vậy thì tăng trưởng kinh tế phải gắn với cải thiện đời sống nhân dân,
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ kết hợp với
nhưng nội dung chung đó là: kỹ thuật, công nghệ hiện đại, cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại, nền kinh tế đạt trình độ phát triển.
Kết hợp quan điểm truyền thống với quan điểm hiện đại và vận dụng vào
đièu kiện cụ thể của Việt Nam, Hội ngị lần thứ VII ban chấp hành Trung Ương
Đảng khoá VII đã đưa ra quan điểm mới về công nghiêp hoá hiện đại hoá (CNH-
HĐH) và đây cũng là quan điểm được sử sung một cách phổ biến ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Theo tư tương này CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sách sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nnghệ tạo ra năng suất lao động
xã hội cao.
3
Quan điểm này về cơ bản, đã phản ánh được phạm vi rộng lớn của quá trình
CNH-HĐH, chỉ ra được cái cốt lõi của sự nghiệp cách mạng này,gắn được CNH
với HĐH xác định được vai trò của công nghệ và khoa học - công nghệ trong giai
đoạn hiện nay .
“Hiện đại hoá” với đúng nghĩa của nó là làm cho một cái gì đó mang tinhd
chất của thời đại ngày nay. Hhiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là làm cho kỹ thuật
và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế kỹ thuật được hiện đại hoá. Như
vậy HĐH là khái niệm có phạm vi rộng lớn, là quá trình cải biến xã hội cổ truyền
thành một xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn,thể hiện không chỉ ở nền
kinh tế phát triển với nhịp độ tăng tổng ssản phẩm tính theo đầu người, mà còn ở
đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội.
Cuộc cách mạng khoa hoc và công nghệ hiện đại, có trình độ văn minh cao
hơn, thể hiện không chỉ ở nền kinh tế phát triển với nhịp độ tổng sản phẩm tính
theo đầu người, mà còn ở đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội .
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang đưa tới sự thay đổi
triệt để về chất trong kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang đưa tới sự thay đổi triệt
quá độ tuần tự và quá độ tiến thẳng.
Những nước quá độ trình tự hay còn gọi là những nước quá độ từ CNTB lên
CNXH, mặc dù chưa có được cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH nhưng ít ra cũng
có những tiền đề vật chất là nền đại công nghiệp cơ khí do CNTB để lại. Vì vậy để
xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH những nước này chỉ cần tiếp tục đẩy
mạnh cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ, ứng dụng nó vào sản xuất,
tiến hành cuộc cách mạng XHCN về quan hệ sản xuất, phân bố và phát triển sản
xuất một cách đồng đều trong cả nước. Thực chất của quá trình này là biến những
tiền đề vật chất do CNTB để lại thành cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH ở trình độ
cao hơn. Những nước quá độ tiến thẳng lên CNXH bỏ qua CNTB như nước ta, sự
5
nghiệp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH được thực hiện bằng con đường
CNH- HĐH
Như vậy, CNH- HĐH là một yếu tố khách quan. Mặt khác, nước ta đi lên
CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN nên thiếu đi cái “ cốt vật chất” của
một nền kinh tế phát triển, điểm xuất phát thấp, thực trạng kinh tế được biểu hiện ở
các mặt như : cơ cấu hạ tầng và xã hội kém, trình độ cơ sở vật chất và công nghệ
lạc hậu, kém khả năng cạnh tranh, sảnxuất phân tán, nhỏ lẻ, kĩ thuật thủ công mạng
nặng tính bảo thủ, phân công lao động chưa sâu sắc… Vì vậy, CNH- HĐH sẽ có
tác dụng khắc phục những yếu kém đó.
Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay, CNH- HĐH
được xác định là giai đoạn phát triể tất yếu mà mỗi quốc gia sớm muộn cũng đều
phải trải qua, là hiện tượng có tính quy luật phổ biến trong tiến trình vận động và
phát triển của các nước , nhất là đối với các quốc gia đang phát triển muốn vươn
lên thanh những nước có trình độ phát triển cao. Vấn đề đặt ra đối vớí các nước này
là thực hiện CNH-HĐH như thế nào để có hiệu quả nhất, với thời gian ngắn nhất và
rút ngắn được khoảng cách so với cá nước phát triển.
III. Mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tiến hành CNH-HĐH từ một nước kinh tế nông ngiệp lạc hậu, thu nhập
quốc dân tính theo đầu người còn rất thấp, trên 76% dân cư sống ở nông thôn với
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc- một nền văn minh cao thể hiện trên tất cả các lĩnh
vực, nâng cao trình độ dân trí, trình độ khoa học- công nghệ cho tất cả mọi tầng lớp
nhân dân; làm cho họ có lối sống, mức sống và khả năng hoạt động văn hoá và văn
minh của thời đại. Chúng ta không thể xây dựng thành công CNXH trên một nền
kinh tế nghèo nàn lạc hậu và cũng sẽ không thể có được một xã hội tốt đẹp, nếu
nhân dân ta chưa có được cuộc sống ấm no hạnh phúc và có trình độ văn hoá cao,
tay nghề vững, trình độ dân trí chưa cao.
7
IV. Những lý luận về con người và bản chất con người
Ngày nay chúng ta đều nhận thức được rằng con người là chủ thể của xã hội
Nói đến xã hội loài người ta hiểu đó là sản phẩm riêng có của con người
trong sự gắn kết của cộng đồng, trong những mối quan hệ đa dạng của họ. Xã hội
loài người là một kết cấu phức tạp, bao gồm những mối quan hệ đa dạng của con
người. Bản thân con người không chỉ là sản phẩm cao nhất trong sự phát triển lâu
dài của tự nhiên, mà còn là một thực thể xã hội phức tạp. Có thể nói rằng trong suốt
quá trình phát triển lâu dài của lịch sử tư tưởng nhân loại, con người bao giờ cũng
là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra
một định nghĩa rất độc đáo về con người: “Chữ người, nghiã hẹp là gia đình, anh
em, họ hàng, bầu bạn .Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”.
Như vây Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đặt con người, mỗi cá nhân con người
trong mối quan hệ ba chiều: quan hệ với cộng đồng nhất định, trong đó mỗi người
là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhất định, trong đó con người
được làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; quan hệ với tự nhiên, mà con người là một bộ
phận không tách rời, nhưng lại luôn luôn “người hoá” tự nhiên trong những cộng
đồng xã hội nhất định bị quy định bởi những chế độ xã hội nhất định. Điều đó hoàn
toàn phù hợp với quan điểm về con người : “Con người không phải là một cái trừu
tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt . Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng những quan hệ xã hội”. Các quan hệ xã hội có nhiều loại, trong đó
quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định các quan hệ xã hội khác, vì nó
xác định con người thuộc các giai tầng xã hội khác nhau.Vì vậy, nói đến bản chất
thấy hoạt động đích thực của con người là hoạt động thực tiễn.
Các Mác cho rằng bản thân con người bắt đầu từ sự phân biệt với súc vật
ngay khi con người bắt đàu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình. Để tồn
tại, con vật cũng kiếm sống, nhưng cách thức kiếm sống của chúng khác hẳn với
hoạt động sản xuất của người. Con vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó
9
trực tiếp cần đến một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn
diện, con vật sản xuất vì bị chi phối thể xcs trực tiếp còn con người sản xuất ngay
cả khi không bị nhu cầu đó ràng buộc. Con người bằng hoạt động lao động của
mình đã làm biến đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bản chât xã hội của chính mình.
Con người không chỉ sống trương môi trường tự nhiên, mà còn sống trong môi
trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó khăng khít với
nhau. Yếu tố sinh học trong mỗi con ngưòi không chỉ tồn tại bên cạnh yếu tố xã
hội, mà chúng hoà quyện vào nhau và tồn tại trong yếu tố xã hội. Bản tính tự nhiên
con người được chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến ở trong
đó.
Theo quan điểm của triết học Mac-Lenin, hoạt động lao động sản xuất, hoạt
động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này con người
cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng hoàn thiện. Chính những
hoạt động này chứ không phải là cái gì khác đã làm biến đổi mặt sinh học của con
người và làm cho chó mang tính người- tính xã hội. Con người là sản phẩm của sự
phát triển cao nhất của tự nhiên, con người gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, tự nhiên là
thân thể vô cơ của con người, và bằng hoạt động thực tiễn của mình, nhất là hoạt
động sản xuất con người đã biến thuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xã
hội. Chỉ trong xã hội, con người mới thể hiện bản chất của mình. Tự nhiên xã hội
thống nhất với nhau trong bản chất con người. Con người là một tổng thể tồn tại
bao gồm cả hai mặt tự nhiên và xã hội. Bằng hoạt động thực tiễn, con người hình
thành nên những phẩm chất đặc thù của nó, những phẩm chất mà không một loài
vật nào có được - phẩm chất xã hội. Từ đó ông cho rằng bản chất đặc thù của con
người là phẩm chất xã hội. Con người không phải là cái gì trừu tượng, mà là sản
nguồn vốn và qúy giá là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của mỗi
quốc gia. Sự giàu có về tri thức là thước đo trình độ phát triển giữa các nước.
Việt Nam là một trong những nước đông dân. Dân số trẻ, số người trong độ
tuổi 16 – 34 chiếm 60% trong tổng số 35,9 triêu người lao động, nguồn bổ sung
hàng năm là 3%- tức là khoảng 1,24 triệu người. Tỷ lệ người lớn biết chữ khá cao
88%, số năm đi học mỗi người dân là 5 năm, trình độ dân trí được xếp vào loại
trung bình khá trong khu vực.
Người Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh ham học hỏi, cầu tiến
bộ, có ý chí và tinh thần tự lực tự cường dân tộc, phát triển khá về thể lực trí ực có
tính cơ động cao, có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ hiện đại. Có
thể nói đây là mọt trong những lợi thế so sánh của ta trong quá trình hội nhập.
Nguồn nhân lực Việt Nam rất dồi dào, nhưng mới sử dụng hết 50% tiềm lực.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 1997 là 6,01% ở một số thành phố lớn tỷ lệ thất
nhiệp từ 7-8%; 27,65% lao động nông htôn thiếu việc làm. Trong đội ngũ thất
nghiệp 80% lại là thanh niên mà phần lớn chưa được đào tạo nghề. Tỷ lệ cán bộ có
trinhf dộ cao đẳng, đạihọc trở lên là 2,3% lực lượng lao động. Cơ cấu lao động ở
nước ta khá bất hợp lý: tỷ lệ lao động đã được đào tạo năm 97 là 16% trong đó tỷ lệ
lao động kỹ thuật trong tổng lượng lao động của kinh tế quốc dân là 45,6%, kinh tế
tập thể: 2,1%, kinh tế cá thể và tư nhân: 4,8%, số công nhân kỹ thuật làm việc trong
12
lĩnh vực sản xuất vật chất : 93%. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp chiếm 10% lao
động xã hội, nhưng chiếm 46% lao động kỹ thuật. Nông nghiệp chiếm 78% lao
động xã hội nhưng chỉ có 15% lao động kỹ thuật. Cán bộ độ đại học và trên đại học
làm việc trong lĩnh vực phi sản xuất chiếm tới 67,5%. Thành phố lớn là nơi tập
trung đông cán bộ có bằng đại học và trên đại học.
Hà Nội: 18,2%
TP Hồ Chí Minh: 14%
Trong khi Lai Châu: 0,27%
Kiên Giang: 0,4%
Vậy nguồn nhân lực nước ta là khá dồi dào nhưng do cơ cấu không hợp lý và
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách là điều
kiện tiền đề phát triển đất nước và tiến hành CNH-HĐH thì nguồng nhân lực đóng
vai trò rất quan trọng. Do vậy bất cứ hơn nguồn lực nào khác thì nguồn nhân lực
chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Nhận
thức rõ điều đó Đảng ta đã xác định con người vừâ là mục tiêu vừa là động lưc của
sự phát triển xã hội bền vững. Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nhân tố quan
trọng vào bậc nhất đẻ đưa nứoc ta trở thành một nước công nghiệp phát triển.Vì thế
khai thác, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp tưc hiện
thành công nhiệ vụ đặt ra. Sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ cùng
với đòi hỏi tăng trưởng kinh tế nhanh đang đặt ra những yêu cầu mới cho việc khai
thác và phát huy tiềm năng của con người. Quá trìng tìm kiếm những cách thức giải
pháp nhằm phát triển và sử dụng nguồn nhân lực này đang diễn ra ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Do đặc điểm kinh tế xã hội cho nên mõi nước đều có những
bước đi và giải pháp khác nhau trong từng thời điểm lịch sử cụ thể. Tuy nhiên gắn
với những tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ xu hướng phổ biến
14
của của sự phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH đều mang những
nét chủ yếu sau:
1.2.1. Con người được coi là nguồn lực cơ bản để tăng trưởng và phát
triển kinh tế xã hội
Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào con người đều là nhân tố trung tâm
của quá trình sản xuất. Tuy nhỉên ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử nhận thức vai
trò của nhân tố con người đối với tăng trưởng và phát triển lại không hoàn toàn
giống nhau. Vào giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, người ta cho rằng
điều kiện tự nhiên thuận lợi chính là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển.
Hướng yêu tiên tìm kiếm kiếm các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội thường
nhằm vào vào sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên. Quá trình phát triển mang
tính chất một cuộc tìm kiếm nhiều hơn.Vai trò của nhân tố con người bị che lấp bởi
các lợi thế vè điều kiện tự nhiên, tiến bộ kỹ thuật được coi như là chiếc gậy thần có
thể dựa vào đó để giải quyết mọi vấn đề xã hội. Với ý nghĩa đó công nghệ được coi
sáng tạo của họ.
1.2.3. Ưu tiên đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực
Lịch sử phát triển kinh tế ở các nước cho thấy không một nước giàu có nào
đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trước khi đạt mức phổ cập giáo dục phổ thông. Nhiều
nước sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công
nghệ của đất nước còn non yếu thiếu các chuyên gia về khoa học- công nghệ - quản
lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề, đã phải từng chịu những
hậu quả khá nặng nề. Vì vậy giáo dục và đào tạo được nhìn nhận không chỉ là động
lực phát triển mà còn là một trong những xu hướng ưu tiên trong các chiến lược
phát triển.
16
1.2.4. Chuyển hướng từ sử dụng đại trà sang tổ chức quản lý và sử dụng
linh hoạt nguồn nhân lực
Sự tác động ngày càng mạnh của tiến bộ kỹ thuật đến tình trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm đã tạo ra áp lực lớn đối với nhà nước và buộc nhà nước phải đứng
ra điều tiết quan hệ cung cầu của lao động. Để làm được như vậy các biện pháp
thường được sử dụng là hạ thấp tỷ lệ sinh đẻ, giảm số thanh niên tìm việc làm bằng
cách mở rộng chương trình giáo dục phổ thông, dạy nghề, đào tạo đại học đào tạo
lại, khuyến khích về hưu trước tuổi, hạn chế nhập cư, khuyến khích di cư, mở rộng
xuất khẩu lao động. Việc sử dụng linh hoạt nguồn lao động phải dựa trên tính cơ
động cao của người lao động
II. Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Sự hình thành, phát triển con người bởi tác động bởi hàng loạt yếu tố như
môi trường xã hội, giáp dục, cơ chế, chính sách xã hội …Trên cơ sở nghiên cứư
những vấn đề lý luận và thực tiễn của chiến lược CNH-HĐH, những xu hướng vận
động và phát triển mới của tình hình trong nước và quốc tế tác động đến sự lựa
chọn công ngihiệp hoá thích hợp cho Việt Nam trong những đầu thế kỷ XXI Đảng
ta đã đưa ra một số giải pháp sau :
nhận thức đúng về sự đầu tư cho giáo dục cần xây dựng ý thức chăm lo, đóng góp
vào sự nghiệ giáo dục cho quần chúng nhân dân lao động. Cần kết hợp giữa gia
đình, nhà trường và xã hội trong phát triển giáo dục đào tạo
- Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Đẩy mạnh hơn
nữa công tác dạy nghề đào tạo nhiều công nhân kỹ thuật, trang bị nhiều kiến thức
cho lao động và biện pháp cực kỳ quan trọng để nâng cai trình độ tay nghề là cần
có các loại hình, hệ đào tạo thích hợp như thông qua các trường lớp chính quy dài
hạn và ngắn hạn ở thành thị và đặc biệt ở nông thôn nghiên cưú và sửa đổi các chế
18
độ chính sách đối với người dạy và người học, thực hiện xã hội hoá ở mức độ cần
thiết đối cới các loại hình đào tạo.
- Giáo dục phải được phải được phát triển cả về quy mô và chất lượng Trong
đó yếu tố đóng vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo là đội ngũ giáo viên. Vấn
đề là còn phải khắc phục tình trạnh giáo viên vừa thiếu vừa yếu về năng lực như
hiện nay. Để khắc phục tình trạng đó và để giáo viên có đủ đức đủ tài thì cần phải
có những chính sách lương hợp lý để giáo viên đủ sống bằng nhgề của mình, cuyên
tâm vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng & chuẩn hoá đội ngũ giáo
viên ở tất cả các ngành học, kết hợp với việc giảng dạy với việc nghiên cứu khoa
học, có chính sách khuyến khích những người giỏi vào các trường sư phạm và các
cơ quan nghên cứu.
- Giáo dục đào tạo cần đổi mới cả về nội dung lẫn phương pháp. Đó là giáo
dục và đào tạo phải phù hợp với yêu cầu CNH- HĐH ở nước ta hiện nay. Giáo dục
phải khuyến khích mọi người học độc lập suy nghĩ, nhằm nâng cao năng lực tư duy
bản lĩnh con người Việt Nam. Con người Việt Nam qua đào tạo phải là con người
năng động sáng tạo, có tinh thần nhân văn cao cả. Giáo dục phải gắn liền với thực
tiễn, phải nâng cao năng lực nắm bắt và giải quyết những vấn đề thực tiễn đất nước
đặt ra. Trong giáo dục và đào tạo không chỉ chú ý về chuyên môn, mà chúng ta còn
phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng- đạo đức, lòng yêu nước, chủ
nghĩa Mác - Lê nin, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù
hợp với từng lứa tuổi và với từng bậc học. Coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã
nhằm cải thiện và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân lao động, nhất là
vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
* Triển khai tích cực, cụ thể và có hiệu quả hơn cuộc vận động xaay dựng “
nếp sống văn minh gia đình văn hoá”, thực hiện các quy ước về việc cưới, việc
tang, lễ hội và qui ước làng văn hoá( hay hương ước mới)… Đây là những cuộc
vận động đã có bề rộng và chiều sâu nhất định, do đó có tiền đề dể làm tốt hơn,
20
nhằm thực hiện cuộc vận động “toàn dân xaay dựng đời sống văn hoá” ở cơ sở do
họi nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VIII phát động. Đối tượng chủ yếu để xây dựng
đạo đức, lối sống là thanh niên , sinh viên, học sinh, nhất là cán bộ, đảng viên.
Những người cao tuổi, chủ yếu là đội ngũ cán bộ hưu trí caanf được khích lệ và lôi
cuốn vào việc xây dựng đạo đức, lối sống có văn hoá.
* Khuyến nghị các địa phương xây dựng các chương trình, hành động thể cố
trọng tâm, trọng điểm, nhằm bảo tồn phong tục tập quán và các giá trị truyền thống
ở địa phương, nhất là các vùng nông thôn
* Khuyến nghị các địa phương xây dựng và hoàn thiện từng bước qui ước về
việc cưới, việc tang, lễ hội, nếp sống văn minh trong gia đình và nơi công cộng, để
trên cơ sở đó từng bước hình thành các chuẩn giá trị xã hội mới thích ứng với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở
cơ sở.
* Đồng thời với việc “Xây tốt” ngành văn hoá thông tin cần phối hợp với các
ngàng và đoàn thể có liên quan, tiến hành các pháp “chống tốt” đối với các sản
phẩm độc hại về mặt tinh thần- văn hoá, như tài liệu, phim ảnh, đồ chơi trẻ em có
tính kích thích bạo lực, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chống các hiện tượng sa đoạ
về đạo đức, lối sống nhất là tại các đô thị.
Để thực hiện được phương hướng và nhiệm vụ trên đây tinh thần chung là:
* Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới luôn luôn phải gắn
liền với cội rễ dân tộc và tư tưởng đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của
Đảng và nhân dân lao động cả nước ta.
* Quá trình lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới trongđiều kiện,
HĐH đất nước phải đương đầu là cuộc cạnh tranh quốc tế quết liệt về phát triển
nguồn nhân lực (Human Resouce Development). Đặc biệt là chất lượng của con
người. Nói đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là nói đến nâng cao trí
lực (trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật) nhằm giải quyết thành công những
22
vấn đề đặt ra. Chúng ta cần có một tỷ lệ thích đáng cho nghiên cứu triển khai khoa
học - công nghệ, tổ chức các dự án phát triển nhất là đối với nông nghiệp và nông
thôn. Mặt khác tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực khoa học và công
nghệ. Chẳng hạn cho vay với lãi suất thoả đáng, miễn giảm thuế lợi tức trong một
thời gian thích hợp cho doanh nghiệp có công nghệ mới, sản phẩm mới, hỗ trợ một
phần kinh phí cho đề tài nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp, nhất là và với
nghiên cứu mang tính kỹ thuật- công nghệ, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp
tiếp tục đầu tư kinh phí còn lại thực hiện đề tài, khuyến khích các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, khấu hao nhanh vào tài sản cố định để nhanh chóng đầu tư đổi mới
công nghệ và thiết bị. Theo một số nghiên cứu nếu các doanh nghiệp chỉ cần 1%
doanh thu đầu tư nghiên cứu công nghệ cho chính ngành mình thì hoạt động khoa
học- công nghệ sẽ có số vốn gấp 4 lần hiện nay. Hoàn thiện cơ chế quản lý thông
qua các biện pháp điều tiết vĩ mô thích hợp và các quy định về chuyển giao công
nghệ nước ngoài vào Việt Nam, tạo thị trường cho tiến bộ khoa học và công nghệ,
đồng thời có những giải pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ đảm bảo chuyển giao
được công nghệ tiên tiến. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở
rộng và hợp tác về khoa học và công nghệ với các nước. Tiếp cận trình độ thế giới
và từng bước giải quyết những vấn đề khoa học, công nghệ mà xã hội đặt ra thích
hợp với nhu cầu của thị trường, tiến tới phát triển công nghệ riêng của mình, làm
cơ sở cho việc sản xuất các mặt hàng đặc thù của quốc gia có sức mạnh cạnh tranh
mạnh mẽ trên thị trường quốc tế cũng như thị trường nội địa. Phát triển hoạt động
tư vấn và dịch vụ cho nghiên cứu phát triển khoa học. Lựa chọn công nghệ và kỹ
thuật thích hợp, đòi hỏi suất đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh có hiệu quả đáp ứng
nhiệm vụ có việc làm, xoá đói giảm nghèo và phục vụ phát triển vùng sâu vung xa
vùng khó khăn trong giai đoạn 2001- 2010.
nghệ đòi hỏi tốc độ phát triển nhanh hơn htì tỷ lệ ngân sách nhà nước cho khoa học
và công nghệ cần phải > 2% Đối với cán bộ khoa học, ngoài nhu cầu vật chất ra
24
còn phải quan tâm đến lợi ích tinh thần - nhu cầu được thừa nhận rộng rãi, nhu cầu
khen thưởng, động viên kịp thời. Vì có hư vậymới tạo động lực thúc đẩy đội ngũ
cán bộ khoa học công nghệ sáng tạo, nâng cao chất lượng làm việc của họ. Còn vấn
đề đào tạo và đào tạo lại cũng rất cần thiết. Không thể đưa sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước đến thành công nếu không thường xuyên đào tạo những người làm công
tác khoa học và công nghệ và ngày một nâng cao trìn độ nghề nghiệp cho những
người dã được đào tạo. Có thể nói trên cơ sở chỉ trên cơ sở vừa thường xuyên đào
tạo đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ, vừa đào tạoh lại những người được đào
tạo trêncơ sở những thành tựu khoa học và công nghệ mới, vừa tích cực trẻ hoá đội
ngũ cán bộ và công nghệ, thì trong giai đọan đẩy mạnh CNH-HĐH chúng ta mới
hy vọng một số lượng đông đảo mạnh về chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển
khoa học, tiếp nhận công nghệ mới, đổi mới công nghệ truyền thống và chuyển
dịch cơ cấu đội ngũ theo hướng “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực
chủ yếu đẻ đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn”như nghị quyết Đại
hội IX đã khẳng định.
Việc xây dựng một chính sách hợp lý đối với đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ là chính sách lương thoả đáng, chế độ thưởng phụ cấp và trợ cấp cho
những công trình giá trị của họ dể thu hút họ tham gia các hợ đồng nghiên cứu cơ
bản và ứng dụng triển khai. Chúng ta cũng cần phải xây dựng quy chế đảm bảo dân
chủ, phát huy tinh thần sáng tạo, tăng cường đaòan kết, ý thức trách nhiệm xã hội
của nhà khoa học trong hoạt động nghiên cứu và triển khai.
Những giải pháp cụ thể đề cập ở trên đượ coi như những giải pháp cần thiết
trong giai đoạn hiện nay để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ nước ta lên ngang tầm đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh
CNH-HĐH đất nước.
4. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của nhà
nước trong quá trình phát triển nguồn nhân lực