Báo cáo nghiên cứu khoa học dạy và học BẰNG SONG NGỮ PHƯƠNG PHÁP tốt NHẤT để NÂNG CAO TRÌNH độ CHUYÊN môn và NGOẠI NGỮ của SINH VIÊN HIỆN NAY - Pdf 33

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010

DẠY VÀ HỌC BẰNG SONG NGỮ - PHƯƠNG PHÁP TỐT NHẤT
ĐỂ NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN VÀ NGOẠI NGỮ
CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
DUAL LANGUAGE INSTRUCTION—THE BEST WAY FOR THE
IMPROVEMENT OF PROFESSIONAL KNOWLEDGE AND FOREIGN
LANGUAGE COMPETENCE
Nguyễn Tấn Hùng
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

MỞ ĐẦU
Hầu hết sinh viên, học viên cao học ở các trường đại học ở nước ta rất yếu kém về
ngoại ngữ, không sử dụng được ngoại ngữ để đọc tài liệu và giao tiếp quốc tế trong lĩnh vực
chuyên môn của mình. Lý do chủ yếu của tình trạng yếu kém về kỹ năng ngoại ngữ của sinh
viên là sự tách rời giữa việc giảng dạy ngoại ngữ với việc giảng dạy chuyên môn ở các trường
đại học, cao đẳng. Để khắc phục tình trạng này, bài báo chỉ ra sự cần thiết phải giảng dạy
chuyên môn bằng song ngữ và đề xuất những biện pháp và chính sách cụ thể đảm bảo việc
thực hiện công việc này nhằm nâng cao hơn nữa năng lực của sinh viên cả về chuyên môn và
về ngoại ngữ.
ABSTRACT
Most students and graduates of our universities are not able to use English for the
reading of literature and for the international communication in their speciality fields. The main
reason of the weakness and inadequacy in students’ foreign language skills is the separation
between the teaching of foreign languages and the teaching of specialities at universities and
colleges. To overcome this, the article points out the need of bilingual teaching of specialities
and suggests concrete measures and policy to ensure the realization of this task in order to
improve student’s qualifications both in speciality and in foreign language.

1. Nguyên nhân tình trạng yếu kém về ngoại ngữ của sinh viên hiện nay
Phải nhìn nhận một thực tế hiện nay ở nước ta là sinh viên rất yếu kém về ngoại

2. Mối liên hệ giữa ngoại ngữ và chuyên môn
Muốn nâng cao chất lượng ngoại ngữ của giảng viên và sinh viên, trước hết cần
phải làm cho giảng viên và sinh viên hiểu rõ vai trò của ngoại ngữ trong việc nghiên
cứu, học tập chuyên môn.
Hầu hết các môn khoa học được dạy trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay
ở nước ta đều có nội dung được lấy từ giáo trình nước ngoài, chủ yếu từ các nguồn tài
liệu tiếng Anh. Đối với các môn khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin thì không cần
phải bàn cãi. Các môn kinh tế cũng vậy, các chương trình, giáo trình, bài giảng về kinh
tế vĩ mô, vi mô, kế toán, quản trị kinh doanh, tài chính, ngân hàng, v.v.. của các trường
đại học kinh tế nước ta hiện nay đều được cập nhật từ các nguồn tài liệu nước ngoài,
nhất là các nguồn tài liệu tiếng Anh. Riêng ở các ngành xã hội nhân văn, thí dụ ngành
triết học, chính trị học … được giảng dạy ở nước ta hiện nay trước đây căn cứ vào các
tài liệu tiếng Nga được dịch ra tiếng Việt khi Liên Xô chưa sụp đổ. Hiện nay nhiều
giảng viên của chúng ta do không đọc được tiếng Anh nên có khuynh hướng bằng lòng
với những nội dung và cách hiểu cũ mà ngay ở nước Nga hiện nay người ta đã thay đổi
rồi. Cho nên để cập nhật chương trình và bài giảng của mình, giảng viên các môn khoa
học triết học, chính trị học, xã hội học … cũng không thể không biết đến những thành
tựu nghiên cứu mới ở phương Tây, phải căn cứ vào các tài liệu nghiên cứu của họ mà
biên soạn thành bài giảng của mình. Ngay cả triết học phương Đông, như triết học
Trung Quốc, Ấn Độ, cũng được phương Tây nghiên cứu rất kỹ; nên nếu giảng viên và
sinh viên tham khảo được các tài liệu phương Tây thì càng có hiểu biết sâu sắc hơn.
Giảng viên yếu ngoại ngữ thì không thể cập nhật bài giảng, đưa vào bài giảng
những thông tin mới, đồng thời không có tài liệu để thực hiện các đề tài nghiên cứu
khoa học, viết bài cho các tạp chí khoa học chuyên ngành. Đúng là tiếng Việt có khả
193


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010

năng chuyển tải tất cả những nội dung khoa học, nhưng vấn đề là hiện nay có nhiều

phải nghiên cứu và hiểu biết sâu hơn nhiều nội dung khoa học của môn học và nhớ lâu
hơn, mở rộng tầm hiểu biết về cách đặt vấn đề và giảng dạy các vấn đề này trong các
giáo trình nước ngoài.
- Giúp cho sinh viên đọc hiểu, nói được và trao đổi được những vấn đề chuyên
môn bằng ngoại ngữ để sau này có thể làm việc với người nước ngoài hoặc học tập ở
nước ngoài. Nếu sinh viên đã có quá trình học chuyên môn bằng tiếng nước ngoài thì
khi trả lời phỏng vấn của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ có nhiều thuận lợi hơn.
- Tạo cơ sở để sinh viên tiếp tục học tập tốt hơn ở bậc cao học, nghiên cứu sinh,
nhất là rút ngắn quá trình chuẩn bị ngoại ngữ cho việc học tập ở nước ngoài.
194


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010

3. Kinh nghiệm và phương hướng
Ở Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều nước khác, một trong những biện pháp cải
cách giáo dục hiện nay là áp dụng phổ biến việc giảng dạy bằng song ngữ (ngôn ngữ
quốc gia và tiếng Anh) trong các trường phổ thông và đại học. Hiện nay ở nước ta đã có
một số trường trung học cơ sở và trung học phổ thông dạy một số số môn khoa học như
Toán, Lý, Hóa bằng song ngữ (Viêt-Anh, Việt-Pháp) vừa đảm bảo được chương trình
giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo, vừa nâng cao trình độ ngoại ngữ cho học sinh đã
trở thành một lợi thế của các trường này. Còn ở bậc đại học, nhiều trường ở Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, v.v., đã có chương trình đào tạo quốc tế, dạy các
môn học bằng song ngữ hoặc hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, học phí của
các chương trình này rất cao vì nhà trường phải tốn một khoản chi phí rất lớn cho việc
mời giảng viên nước ngoài. Do đó, những chương trình đào tạo quốc tế này không thể
thu hút được nhiều sinh viên, nhất là sinh viên giỏi. Do đó, bên cạnh việc phát triển các
chương trình đào tạo quốc tế, theo chúng tôi nên thúc đẩy việc giảng dạy bằng song ngữ
với việc sử dụng đội ngũ giảng viên tại chỗ của các trường kết hợp với một số giảng
viên thỉnh giảng từ các trường nước ngoài.

nhưng chúng tôi thấy rằng đây là công việc cần phải kên trì thực hiện. Nếu càng có
nhiều học phần được giảng dạy bằng song ngữ thì việc học tập của sinh viên về chuyên
môn và ngoại ngữ càng có kết quả tốt hơn.
4. Biện pháp và lộ trình thực hiện
Từ kinh nghiệm ban đầu, chúng tôi rút ra một số biện pháp và bước đi cần thiết
cho việc giảng dạy bằng song ngữ:
- Cải cách việc giảng dạy tiếng Anh cơ bản trong các trường đại học. Vì thời
gian dùng cho việc học tiếng Anh của sinh viên hiện nay đã bị rút ngắn so với trước
đây, do vậy giáo viên nên dành thời gian nhiều hơn cho việc luyện nghe hiểu và giao
tiếp trên lớp. Còn ngữ pháp và đọc hiểu thì sinh viên có thể tự mình nghiên cứu, rèn
luyện mà không cần giáo viên.
- Thành lập các câu lạc bộ, diễn đàn ngoại ngữ trong nhà trường để sinh viên có
điều kiện thực hành giao tiếp bằng ngoại ngữ.
- Lựa chọn những giảng viên có trình độ ngoại ngữ tốt, nhất là những giảng viên
đã có thời gian học đại học, cao học ở các nước nói tiếng Anh, khuyến khích họ đăng ký
giảng dạy một số học phần bằng song ngữ. Cho phép những sinh viên có trình độ tiếng
Anh khá (đã qua sát hạch) ghi danh học các tín chỉ dạy bằng song ngữ.
- Khi đã có một số môn chuyên ngành được giảng dạy bằng song ngữ thì có thể
bỏ môn “Anh văn chuyên ngành” do giáo viên tiếng Anh đảm nhiệm để tăng thêm thời
lượng cho các học phần chuyên môn được giảng dạy bằng song ngữ do giáo viên
chuyên môn đảm nhiệm.
- Mời giảng viên nước ngoài dạy một số môn chuyên ngành bằng tiếng Anh (sau
khi sinh viên đã học một số chuyên ngành bằng song ngữ).
Để sinh viên có thể nghe giảng trực tiếp bằng ngoại ngữ thì phải có một bước
quá độ từ thấp đến cao.
- Trong một hai năm đầu, nhiều môn học được giảng dạy bằng tiếng Việt kết
hợp với việc trang bị cho sinh viên các khái niệm của môn khoa học bằng tiếng Anh.
Trừ một ít môn học phải dạy thuần túy bằng tiếng Việt, đa phần các môn học khác, kể
cả những môn như Triết học, Chính trị học, Xã hội học, v.v., đều có một hệ thống khái
niệm, phạm trù có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài (Hy Lạp, latin, Anh, Pháp, Đức …),

của giảng viên và sinh viên. Theo chúng tôi, cần thực hiện một số điểm sau đây:
- Ban hành chế độ thanh toán giờ giảng có ưu đãi đối với giảng viên dạy chuyên
môn bằng song ngữ. Có chế độ phụ cấp đối với việc biên soạn bài giảng, tài liệu học tập
bằng song ngữ. Ưu tiên tăng lương trước thời hạn và tặng các danh hiệu thi đua cho
những giảng viên có nhiều cố gắng trong công việc này.
- Chú ý tiêu chuẩn về trình độ ngoại ngữ khi tuyển chọn giảng viên mới cũng
như khi xét chức danh giảng viên chính. Một trong những tiêu chuẩn để phong Giáo sư
và Phó giáo sư là phải giảng dạy được bằng song ngữ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hàn Quốc cải cách đại học, Báo “Tuổi Trẻ Online”, Chủ Nhật, 18/10/2009
[2] Sẽ nhân rộng mô hình dạy song ngữ Việt-Anh ở các trường ngoài công lập, Báo Hà
Nội Mới - 05/01/2008
[3] Zang Zongrang, A research on the Gain and Cost of bilingual teaching of nonEnglish-oriented Course in Shangdong Institute of Business and Technology,

/>[4] China to Promote Bilingual Education,

/>[5] Liming Yu, English–Chinese Bilingual Education in China

/>
197




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status