nghiên cứu - trao đổi
ThS. Bùi Thị Mừng *
1. Bo v quyn ca ngi ph n l
nguyờn tc c bn c ghi nhn trong
Lut hụn nhõn v gia ỡnh Vit Nam, trong
ú bo v quyn lm m ca ngi ph n
l mt ni dung vụ cựng quan trng. Trong
phm vi bi vit ny, chỳng tụi tp trung
bn v vic bo v quyn ca ngi ph n
n thõn.
Quyn lm m ca ngi ph n l
quyn gn lin vi nhng c im gii
tớnh ca ngi ph n, c mang thai v
lm m l ni khao khỏt l hnh phỳc ca
bt c ngi ph n no, i vi ngi
ph n n thõn iu ny cng cú ý ngha
c bit quan trng. õy l ni dung m
phỏp lut phong kin th hin rt rừ nhng
nh kin gii i vi ngi ph n. Ngi
ph n trong xó hi phong kin b k th
khi khụng cú chng m li sinh con, do ú
phỏp lut phong kin cng t rừ s phõn
bit i x i vi nhng ngi con
hoang. Ngi con hoang trong phỏp lut
phong kin khụng c quyn tha kin
trc to truy nhn cha m mỡnh. C s
ca nhng quy nh phỏp lut h khc y
i vi ngi ph n trong ch xó hi
phong kin bt ngun t chớnh t tng
v quyn ph n c phỏt trin bc
cao hn, trong ú vn bo v quyn lm
m ca ngi ph n n thõn l mt ni
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni
41
nghiªn cøu - trao ®æi
dung quan trọng, mang tính thời sự.
2. Người phụ nữ đơn thân là những
người phụ nữ do hoàn cảnh riêng tư mà họ
không kết hôn, sống độc thân hoặc sống
với những người thân như cha mẹ, anh chị
em của họ. Có thể nói rằng nhìn từ bất cứ
góc độ nào thì người phụ nữ đơn thân cũng
chịu rất nhiều thiệt thòi. Chính vì vậy,
được làm mẹ là hạnh phúc lớn nhất đối với
họ, có con, họ sẽ được an ủi, động viên và
có người nhờ cậy khi tuổi già sức yếu. Vì
thế, bảo vệ quyền của người phụ nữ đơn
thân không thể tách rời việc bảo vệ quyền
làm mẹ của họ.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
với quy định cho phép người con ngoài giá
thú được xin nhận cha mẹ trước toà án,
người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay
cho đứa trẻ chưa thành niên. Quy định này
hôn nhân và gia đình năm 1959 các quy
định về nuôi con nuôi chưa được quy định
cụ thể. Vì vậy, trong chừng mực nhất định
người phụ nữ đơn thân ít nhiều có những
khó khăn khi thực hiện quyền làm mẹ mà
pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986,
lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà
mẹ và trẻ em đã thể hiện rất rõ những khía
cạnh về bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ
giới. Việc ghi nhận nguyên tắc này cũng
mở ra bước tiến đáng kể cho việc bảo vệ
quyền làm mẹ của người phụ nữ nói chung
và người phụ nữ đơn thân nói riêng, các
quy định nhằm đảm bảo để người phụ nữ
đơn thân sinh con ngoài giá thú tiếp tục
được cụ thể hoá. Người phụ nữ sinh con
ngoài giá thú được pháp luật bảo vệ, có
quyền thưa kiện trước toà án để xác nhận
cha cho con. Theo Thông tư số 15-TATC
ngày 27/09/1974 của Toà án nhân dân tối
cao hướng dẫn xử lý một vài loại tranh
chấp về dân sự và hôn nhân và gia đình thì
việc giải quyết các án kiện xác định cha
cho con ngoài giá thú được hướng dẫn:
Người phụ nữ khi yêu cầu toà án xác nhận
cha cho con ngoài giá thú có thể xuất trình
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
những chứng cứ thuyết phục xuất trình
trước toà thì quyền lợi của người phụ nữ sẽ
không được bảo vệ, họ phải nuôi con một
mình trước cái nhìn nghi kỵ của mọi
người, đó là những vất vả mà không phải
người phụ nữ đơn thân nào cũng có thể
vượt qua. Thiết nghĩ, hệ thống chứng cứ
này thực sự cần thiết đối với các án kiện
xác nhận cha, mẹ, con ngoài giá thú, điều
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
này cũng mở ra những thuận lợi nhất định
cho những người phụ nữ đơn thân khi ở
vào cảnh ngộ éo le. Tuy nhiên, điều dễ
dàng nhận thấy là cũng giống như Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 cũng chưa quy định
cụ thể về quyền được nhận nuôi con nuôi
của người phụ nữ đơn thân. Theo quy định
tại Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 thì: “Việc nhận nuôi con nuôi phải
được sự thoả thuận của hai vợ chồng
người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ
đầu của người con nuôi chưa thành niên.
Nếu nhận nuôi con nuôi từ 9 tuổi trở lên
thì còn phải được sự đồng ý của người đó”.
Mặt khác, không phải tất cả mọi người phụ
nữ đơn thân đều có thể thực hiện quyền
làm mẹ bằng việc sinh con ngoài giá thú.
Nhiều người phụ nữ đơn thân không thể
đình và xã hội có trách nhiệm bảo vệ phụ
nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt
chức năng cao quý của người mẹ”. Từ nội
dung có tính chất định hướng trong việc
bảo vệ quyền của người phụ nữ, quyền của
người phụ nữ đơn thân đặc biệt được chú
trọng. Theo đó, quyền làm mẹ không chỉ là
quyền của những người phụ nữ có chồng
mà còn là quyền cho tất cả mọi người phụ
nữ. Chính vì lẽ đó, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 cũng đã cụ thể hoá việc bảo
vệ quyền của người phụ nữ đơn thân thông
qua các quy định cho phép người phụ nữ
có thể thực hiện thiên chức làm mẹ qua các
quy định về quyền sinh con và quyền nhận
nuôi con nuôi. Về điểm này, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 có những điểm thể
hiện tính hơn hẳn, vượt trội so với Luật
hôn nhân và gia đình trước đó trong việc
bảo vệ quyền của người phụ nữ đơn thân,
thể hiện qua những nội dung sau:
Thứ nhất, đảm bảo quyền được sinh
con cho người phụ nữ đơn thân, Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam tiếp tục ghi
nhận việc cho phép người con ngoài giá
thú có quyền thưa kiện trước toà án để xác
nhận cha mẹ của mình. Về thực chất, quy
định này gián tiếp bảo vệ quyền được sinh
con ngoài giá thú của người phụ nữ. Tuy
nhiên, trong Luật hôn nhân và gia đình
chức làm mẹ của người phụ nữ, đặc biệt là
người phụ nữ đơn thân “… người phụ nữ
độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sỹ
chuyên khoa”. Như vậy, vì hoàn cảnh
người phụ nữ không có chồng mà muốn
sinh con nếu không thể bước qua dư luận
để “xin” một đứa con thì vẫn được làm mẹ
với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật. Tuy
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi
nghiªn cøu - trao ®æi
nhiên, để bảo vệ mối quan hệ tự nhiên huyết
thống giữa người mẹ và đứa trẻ, đảm bảo
cho đứa trẻ sinh ra khoẻ mạnh và phát triển
toàn diện, người phụ nữ đơn thân muốn sinh
con theo phương pháp này đòi hỏi phải đáp
ứng những điều kiện nhất định:
“Phải là người từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi.
Có đủ sức khoẻ để thụ thai, mang thai và
sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua
đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần,
bệnh truyền nhiễm hay các bệnh khác.
Không tìm hiểu về tên, tuổi, địa chỉ và
hình ảnh người cho.
Phải là người được cơ sở y tế xác định
có noãn bảo đảm chất lượng để thụ thai”.(1)
Như vậy, hạnh phúc được làm mẹ của
mẹ, con giống như tinh thần của Thông tư
số 15-TATC trước đây. Theo quy định của
pháp luật hiện hành thì trong trường hợp
kiện xác nhận cha cho con ngoài giá thú,
người có nghĩa vụ chứng minh là người có
yêu cầu. Điều này thực sự khó khăn cho
người phụ nữ đơn thân nhất là trường hợp
người phụ nữ bị lừa dối do nhẹ dạ cả tin
rồi sinh con ngoài giá thú. Ở vào tình thế
đó, người phụ nữ muốn bảo vệ được quyền
lợi cho mình và con thì phải chứng minh
thông qua hình thức giám định gen, trong
khi đó chi phí cho giám định gen lại quá
cao không phải mọi người đều có thể thực
hiện được. Vì thế, nhiều người phụ nữ đơn
thân ở vào tình trạng phải nuôi con một
mình trong sự vất vả và kỳ thị của những
người xung quanh khi cha của đứa trẻ từ
chối nhận đứa trẻ là con mình. Tuy nhiên,
cần nhấn mạnh rằng để bảo vệ thiên chức
làm mẹ của người phụ nữ đơn thân, pháp
luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng
nghiêm cấm việc sinh con dưới hình thức
"chửa hộ, đẻ thuê". Trong những năm gần
đây, hiện tượng xã hội này đang nổi lên và
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học. Nhiều quan điểm trái ngược nhau đã
được đưa ra trao đổi. Chấp nhận hay không
chấp nhận hiện tượng này? Rõ ràng đó là
những vấn đề hết sức tế nhị liên quan trực
nuôi con nuôi. Theo đó, người phụ nữ đơn
thân có quyền xin nuôi con nuôi khi họ
tuân thủ đầy đủ điều kiện nuôi con nuôi
theo quy định của pháp luật. Các quy định
về điều kiện nuôi con nuôi, quyền và nghĩa
vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, vấn đề
chấm dứt việc nuôi con nuôi đều được Luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
quy định cụ thể. Chính vì thế, nhiều người
phụ nữ đơn thân vẫn có hạnh phúc được
làm mẹ nếu như không có may mắn sinh
46
cho chính mình một đứa con. Tuy nhiên,
để thực hiện quyền làm mẹ, người phụ nữ
đơn thân phải tuân thủ chặt chẽ các quy
định của pháp luật về điều kiện áp dụng
việc sinh con theo phương pháp khoa học,
điều kiện để được xin nuôi con nuôi và
điều quan trọng là phải tuân thủ các chính
sách về kế hoạch hóa gia đình để thực hiện
tốt thiên chức làm mẹ của mình là nuôi dạy
con cái trở thành những công dân có ích
cho xã hội.
3. Như vậy, nhìn một cách tổng thể các
quy định về bảo vệ quyền làm mẹ của
người phụ nữ đơn thân, pháp luật hôn nhân
và gia đình hiện hành đã có những điểm ưu
việt nhất định. Tuy nhiên, theo chúng tôi
để bảo vệ tốt hơn nữa quyền làm mẹ của
minh, nếu các chứng cứ mà người phụ nữ
xuất trình không đủ căn cứ để toà án xác
nhận cha cho đứa trẻ, người phụ nữ muốn
trưng cầu giám định gen nhưng quá khó
khăn về kinh tế không thể có chi phí cho
việc trưng cầu giám định gen, cũng nên
buộc người kia phải có nghĩa vụ chứng
minh khi họ từ chối nhận đứa trẻ là con
mình bởi vì trên thực tế rất nhiều người
phụ nữ đơn thân ở vào cảnh ngộ bị lừa dối
rồi sinh con nhưng không có chứng cứ
thuyết phục để chứng minh trước toà, nếu
không có điều kiện để chi phí cho việc
trưng cầu giám định gien thì theo pháp luật
hiện hành toà án sẽ đình chỉ việc giải quyết
vụ án. Đây là thiệt thòi rất lớn đối với
người phụ nữ đơn thân.
Thứ ba, cần phải có các chế tài nghiêm
khắc đối với những người thực hiện các
hành vi “chửa hộ, đẻ thuê”nhất là các
trường hợp môi giới cho việc “chứa hộ, đẻ
thuê”. Việc xuất hiện các hành vi môi giới
này đã tạo điều kiện để nhiều người phụ nữ
nói chung và phụ nữ đơn thân nói riêng tự
bán rẻ thiên chức của mình bằng những
hành vi không phù hợp với đạo đức xã hội,
trong nhiều trường hợp do không ý thức
được hành vi sai trái của mình, người phụ
nữ coi đó như một nghề để kiếm sống làm
liên quan đến các quy định về bảo vệ quyền
làm mẹ của người phụ nữ đơn thân, hy vọng
rằng những quy định này sớm được khắc
phục để quyền lợi của người phụ nữ đơn
thân được bảo vệ một cách triệt để./.
(1).Xem: Điều 8, 9 Nghị định số 12/CP ngày 12/02/2003
của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học.
47