LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận văn này là
công trình nghiên cứu hoàn toàn của tôi dưới
sự hộ trợ của giáo viên hướng dẫn. Các nội
dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất cứ công trình nào. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm về Luận văn này nếu có sự tranh chấp.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Duy
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................................1
MỤC LỤC...............................................................................................................................2
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1............................................................................................................................6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH.............................................................6
1.1. KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH.................................................................................................6
1.1.1. Gia đình theo quan điểm triết học........................................................................6
1.1.2. Gia đình theo quan điểm xã hội học ...................................................................8
1.1.3. Gia đình theo quan điểm luật học......................................................................11
1.2. VAI TRÒ VÀ CÁC CHỨNG NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ XÃ HỘI HIỆN NAY............................................................................................17
1.3. NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIA
ĐÌNH TRONG CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ......................................................................20
1.3.1. Đạo đức..............................................................................................................20
1.3.2. Yếu tố văn hóa, phong tục tập quán..................................................................22
1.3.3. Yếu tố kinh tế - xã hội – khoa học kỹ thuật........................................................23
có quy định Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn
nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 88 Luật
hôn nhân gia đình 2014. Như trên đã trình bày thì thời điểm chấm dứt hôn nhân ở
đây được hiểu là thời điểm bản án, quyết định của Tòa án về việc ly hôn của vợ
chồng có hiệu lực hoặc kể từ thời điểm người cha chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã
chết mà không phải là thời điểm hai bên không chung sống với nhau. Trên thực tế có
nhiều trường hợp hai vợ chồng ly thân một thời gian dài trước khi bản án, quyết định
ly hôn chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên trong khoảng thời gian trong vòng 300 ngày
sau khi hôn nhân chấm dứt thì người vợ sinh con thì theo quy định trên người chồng
vẫn được coi là cha của đứa bé do người vợ sinh ra. Đối với trường hợp sinh con
ngoài giá thú thì Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận
là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp người cha không nhận con thì nó là
con riêng của vợ và sau này, người con có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó
là cha mình khi chứng minh được. Và khi người cha không nhận con thì phải có
chứng cứ chứng minh được người con đó không phải là con của mình mà là con của
một người khác.............................................................................................................84
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con...........................................................91
Nghĩa vụ và quyền của con. .......................................................................................94
Kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình 1986,
luật hôn nhân và gia đình năm 2000, luật hôn nhân gia đình 2014 quy định: Điều 70.
Quyền và nghĩa vụ của con..........................................................................................94
2.3. QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN KHÁC TRONG GIA ĐÌNH.............................97
2.3.1. Quan hệ giữa anh, chị, em với nhau..................................................................97
Ngoài ra, anh chị em còn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau theo quy định tại điều 112
luật hôn nhân gia đình. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em.................................98
2.3.2. Mối quan hệ giữa ông bà và cháu......................................................................99
2.3.3. Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu ruột.....................................101
CHƯƠNG 3........................................................................................................................103
người nữ có đăng ký kết hôn. Quan hệ huyết thống dường như cũng chỉ
được hiểu là quan hệ giữa những người có cùng huyết thống về trực hệ và
những người có họ trong phạm vi ba đời. Trong quan hệ nuôi dưỡng cũng
chỉ có quan hệ giữa cha mẹ và các con của người nhận nuôi với người con
nuôi. Các thuật ngữ mà trong đời sống hàng ngày người Việt Nam vẫn sử
dụng như quan hệ họ hàng, thân thích, thân thuộc.
1
Trước thực tiễn đó đòi hỏi phải nghiên cứu để làm sáng tỏ về gia đình phải
có sự nghiên cứu và tìm hiểu về, để từ đó xây dựng những quy phạm pháp
luật điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình, sao cho các hành vi của các
thành viên gia đình phải đúng chuẩn mực đạo đức xã hội. Nghiên cứu đề
tài “Gia đình trong luật hôn nhân gia đình Việt Nam” để phục vụ cho mục
đích đó.
2.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều học giả nghiên cứu về gia đình, không chỉ có
riêng ngành luật mà nhiều ngành khoa học khác cũng tham gia vào vấn đề
này. Trong lĩnh vực pháp luật, chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình đã
có nhiều bài viết về các khía cạnh của gia đình như: Quan hệ nhân thân
giữa vợ chồng; quan hệ cha mẹ con, … Một số đề tài hiện đã đề cập đến
thành viên gia đình như: Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam , Tập I – Gia đình , NXB Trẻ TP.HCM của TS.Nguyễn Ngọc
Điện (2002); Việt Nam dân luật lược giảng – Luật gia đình. Quyển tập 1,
tập 1 của Vũ Văn Mẫu (1973); ... Tuy nhiên, những tác phẩm này còn phân
tích một cách rời rạc và chưa tạo ra cách nhìn có hệ thống về gia đình
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận về gia đình theo quan điểm
luật học mà chủ yếu là luật HNGĐ. Những quy định của pháp luật điều
chỉnh về gia đình và các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về gia đình
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn, vấn đề gia đình được xem xét, nghiên cứu
theo Luật HN&GĐ năm 2014 theo 3 mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình
là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa
các thành viên khác trong gia đình. Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh,
đối chiếu với các quy định điều chỉnh về gia đình trong hệ thống pháp luật
HNGĐ Việt Nam. Trên cơ sở đó đánh giá về hiệu quả điều chỉnh, việc áp
dụng các quy định hiện hành về gia đình để phát hiện những điểm vướng
mắc, bất cập và đưa ra các đề xuất, kiến nghị.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, hệ thống, diễn giải, quy nạp ..để thực
hiện các mục tiêu đã đặt ra
6. Tính mới và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện, có hệ
thống về sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình từ góc độ lý luận và thực
các hình thái kinh tế xã hội. Theo quan điểm triết học, hôn nhân và gia
đình không ngừng vận động và phát triển. Theo C.Mac – Ph.Anghen thì có
ba hình thức hôn nhân chính tương ứng với ba giai đoạn phát triển của nhân
loại: Ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế
độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ một vợ một chồng [2
tr55129].
Gia đình là một phạm trù lịch sử, các hình thái và chức năng của gia
đình là do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng như trình độ
phát triển văn hóa của xã hội quyết định. Trong lịch sử đã trải qua bốn hình
thái gia đình, đó là gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình cặp đôi,
gia đình một vợ một chồng.
Gia đình huyết tộc là hình thái gia đình đầu tiên trong lịch sử. Lúc này
các tập đoàn hôn nhân đều phân theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả
ông và bà đều là vợ chồng với nhau; các con của ông bà tức là các người
cha và các bà mẹ cũng là vợ chồng với nhau; đến lượt con cái của những
người này tức là cháu của ông bà cũng hợp thành một nhóm vợ chồng thứ
ba; đến lượt con cái của những người con ấy là chắt của ông bà nói đầu
tiên lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tư. Như vậy, những người cùng thế
6
hệ là vợ chồng của nhau, những người khác thế hệ không có quyền và
không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau.
Gia đình punaluan: Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất
định, một hay nhiều nhóm chị em gái trở thành hạt nhân của một cộng
đồng, còn những anh em trai cùng mẹ của họ lại trở thành hạt nhân của
một cộng đồng khác. Bằng cách này mà từ hình thái gia đình huyết tộc đã
xuất hiện hình thái gia đình punaluna. Theo hình thái gia đình punaluan,
một số chị em gái cùng mẹ hay xa hơn đều là vợ chung của những người
hưởng tài sản của người cha với tư cách là người kế thừa trực tiếp. Gia
đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ở chỗ là quan hệ vợ
chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không còn có thể tùy ý bỏ nhau được
nữa.
Qua bốn hình thái gia đình trên ta thấy triết học không nghiên cứu gia
đình cụ thể ở từng giai đoạn mà nghiên cứu sự vận động và phát triển của
nó theo các hình thái kinh tế xã hội. Các hình thái gia đình cũng vận động
và phát triển theo quy luật của sự vận động phát triển của các hình thái
kinh tế xã hội.
1.1.2. Gia đình theo quan điểm xã hội học
Rất nhiều ngành cùng tham gia nghiên cứu về gia đình cố gắng đưa ra
khái niệm về gia đình như các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học, văn
hóa… nhưng chưa có ngành nào nghiên cứu về gia đình nhiều như ngành xã
hội học. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về gia
đình. Tùy vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà mỗi nhà khoa học lại có một
khái niệm gia đình riêng phù hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Có thể
8
nói, chưa có ngành nào lại đưa ra nhiều khái niệm gia đình như ngành xã
hội học.
Trong Tập bài giảng Xã hội học của Trường Đại học luật Hà nội,
nhóm tác giả đã nêu hai khái niệm về gia đình để phục vụ cho việc giảng
dạy:
Gia đình là một thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ
ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là một phạm trù biến
đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia
đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội
[8 tr335].
riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về
tái sản xuất con người [35 tr310]. Khái niệm do tác giả đưa cũng chưa
phản ánh đầy đủ về gia đình bởi hình thức gia đình rất đa dạng. Khái niệm
này khá tương đồng với quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000.
Mặc dù chưa có một khái niệm chung về gia đình nhưng các nhà xã
hội học đều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành
viên có quan hệ quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi
dưỡng, cùng chung sống. Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ
một khái niệm nào về gia đình cũng trở nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên
nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học, nó đã và đang thách thức các nhà
khoa học xã hội học đưa ra một định nghĩa đầy đủ về khái niệm gia đình.
Xã hội học coi gia đình là một thể chế xã hội luôn vận động và phát
triển. Vì gia đình là một thể chế nên mỗi con người từ khi sinh ra đã đặt
vào những quan hệ nhất định. Gia đình là một cơ thể sống, nằm trong quá
10
trình phát triển không ngừng, gắn với sự phát triển chung của xã hội. Khi
xã hội phát triển, sự phân chia lao động càng được đẩy mạnh, gắn liền với
quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa sẽ dẫn đến sự xé nhỏ gia đình, từ
gia đình lớn trong đó có nhiều thế hệ chuyển sang gia đình nhỏ chỉ có bố
mẹ và con cái. Sự phát triển từ gia đình gia trưởng sang gia đình hạt nhân
trở thành một quá trình có tính quy luật.
Nhìn chung thì các nhà xã hội học vẫn nhìn nhận gia đình là một thiết
chế xã hội gồm những người dựa trên ba mối quan hệ truyền thống là quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng mà chưa có nhà
xã hội học nào mở rộng ba mối quan hệ trên khi nghiên cứu về gia đình.
1.1.3. Gia đình theo quan điểm luật học
1.1.3.1. Gia đình theo luật La Mã
đối ngẫu với sự phụ thuộc vào một gia chủ đã là sự biểu hiện rõ nhất về
quyền lực gia chủ Pater familias. Trong trường hợp con gái đã đi lấy chồng
thì không còn quan hệ với gia đình đối ngẫu nữa.
Vào thời cổ xưa quyền lực của gia chủ là vô hạn. Tuy nhiên, dần dần
quyền lực đó cũng bắt đầu có những giới hạn nhất định, manus Pater
familias – nội dung quyền lực của chủ hộ qua từng thời k ỳ t ồn t ại phát
triển của nhà nước La Mã cũng thay đổi. Tư cách của những người phụ
thuộc vào gia chủ đã được công nhận trong luật dân sự, những thành viên
gia đình về sau đã có quyền tư pháp. Sự suy yếu quyền lực của gia chủ là
hậu quả của những biến đổi các quan hệ sản xuất của sự tan rã gia đình
phụ hệ, sự phát triển thương mại và tiếp theo là sự khẳng định vai trò của
những thành viên lớn tuổi trong gia đình, những người này đã có sự độc lập
tương đối. Quan hệ họ hàng dần dần đã thay thế cho các quan hệ đối ngẫu.
12
Như vậy, hình thái gia đình La Mã là hình thái chuyển tiếp của chế độ gia
đình phụ hệ với đặc thù quyền lực tập trung trong tay chủ hộ.
Với các đặc trưng của thời kỳ bấy giờ nên khái niệm gia đình trong
thời kỳ La Mã theo các tư liệu lịch sử cổ đại là sự liên minh, liên kết giữa
chồng, vợ, con, những người thân thuộc ruột thịt và cả nô lệ dưới quyền
của chủ hộ [6 tr39].
Từ khái niệm trên của gia đình La Mã cho ta thấy trong gia đình của
người La Mã có các thành viên: Chủ hộ, vợ, con cái, họ hàng, nô lệ và
người làm thuê. Trong đó chủ hộ (pater familias) là người có quyền lực
tuyệt đối, những thành viên khác trong gia đình như vợ, con cái, những
người thân thuộc ruột thịt và nô lệ được coi là lực lượng lao động trong gia
đình.
1.1.3.2. Gia đình theo pháp luật Việt Nam
Luật học nhìn nhận gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ
quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, pháp luật dân sự và các quy
định khác của pháp luật có liên quan”. Theo quy định trên người con nuôi có
đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật
hôn nhân và gia đình. Người con nuôi sẽ bình đẳng với mọi người con khác
trong gia đình về quyền và nghĩa vụ. Những người này có quan hệ với nhau
do cùng quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần,
cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình và cũng cùng nhau vun đắp phát triển
khối tài sản chung của gia đình. Trong trường hợp, nếu một trong số những
người này có khối tài sản riêng thì người đó phải đóng góp tài sản để duy
trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tiễn của mình.
Những thành viên gia đình là những người tích cực trong việc giúp đỡ nhau
14
về mặt tinh thần, là chỗ dựa tinh thần của nhau, là nơi động viên, an ủi
những thành viên khác tốt nhất khi gặp khó khăn, thất bại trong cuộc sống.
Đồng thời, gia đình cũng là nơi để các thành viên gia đình chia sẻ thành
công của nhau một cách chân tình nhất. Các thành viên gia đình có quyền và
nghĩa vụ tương ứng với nhau, nghĩa vụ của người này là quyền của người
kia và ngược lại.
Không phải gia đình nào cũng có đầy đủ các mối quan hệ nêu trên,
trong từng trường hợp cụ thể, gia đình có thể chỉ có một mối quan hệ như
chỉ có quan hệ hôn nhân hoặc chỉ có quan hệ nuôi dưỡng, cũng có thể có
hai, ba hoặc có nhiều mối quan hệ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình
năm 1986 không giải thích về gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
tại khoản 10 Điều 8 đã giải thích: “Gia đình là tập hợp những người gắn
bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi
dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định
của Luật này”.
thực tiễn, gia đình không chỉ có ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và
nuôi dưỡng mà còn có những mối quan hệ khác phát sinh từ ba mối quan hệ
trên. Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, em mạnh dạn đưa ra khái
niệm gia đình của mình:
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan
hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng hay những người không có ba
mối quan hệ trên nhưng từ ba mối quan hệ đó mà cùng sống chung với
nhau, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa những người này với nhau
theo quy định của pháp luật.
16