Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp định hướng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và n - Pdf 33

MS3:
RÀ SOÁT NGHIÊN CỨU VỀ LĨNH VỰC THỨC ĂN

CHĂN NUÔI TRÊN PHẠM VI TOÀN CẦU

030/06VIE:
Định hướng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi giá trị
nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi

Bởi
Tiến sĩ Jo Pluske
Tư vấn SciEcons ,
PO Box 1604
Subiaco WA 6904
AUSTRALIA

Tháng 9, 2007

Tư vấn SciEcons


Tóm tắt
Giá của các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đang duy trì ở mức cao như là một hậu quả
của việc tăng cầu, và do đó việc chăn nuôi sẽ cần phải được tính toán kỹ lưỡng hơn. Ví dụ,
các nhà dinh dưỡng động vật sẽ có một vai trò nổi bật trong việc công thức hoá các chế độ ăn
uống mà theo các công thức này các thành phần thức ăn sẽ được kết hợp trong các hạt. Tuy
nhiên tính khả thi của việc phát triển chăn nuôi là khác nhau tại các nước đang phát triển và
các nước phát triển và cũng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Như là một kết quả của sự hiểu
cấu trúc và hoạt động của ngành thức ăn chăn nuôi tại các quốc gia khác nhau, trong đó sự
sẵn có của thức ăn, chuỗi thức ăn và sự cạnh tranh sẽ là các điều kiện tiên quyết cần thiết để

nhỏ cũng có vai trò và thông tin sau có sẽ sẽ có ích cho việc đạt được những nghiên cứu mới
về chủ đề này:
1. Vì mục đích của dự án nghiên cứu này, các định nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi sẽ được phát triển bởi vì có thể là tác động
đối với từng định nghĩa có thể là khác nhau và do đó chúng sẽ không được xếp vào
cùng một nhóm. Những xem xét về mặt không gian cũng có thể cần được hiểu đối
với từng nhóm.

i

Tư vấn SciEcons


2. Tài liệu về ngành thức ăn chăn nuôi của Thái Lan là hạn chế và không có sẵn và do
đó một chuyến đi nghiên cứu đã được lên kế hoạch cần phải được diễn ra một cách
chắc chắn với vai trò cố gắng tìm hiểu về các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi vừa và
nhỏ tại đó, như xác dịnh cho những doanh nghiệp tương ứng tại Việt Nam.
3. Như đã đề cập ở trên, một vài tài liệu được liệt kê ra có thể được sử dụng như một
tham chiếu để tìm ra ngành thức ăn chăn nuôi đã phát triển như thế nào theo thời
gian. Trong khi tài liệu này đã được nghiên cứu một cách tóm tắt trong báo cáo này,
nếu cần thiết thì chúng sẽ được nghiên cứu chi tiết một cách độc lập.

ii

Tư vấn SciEcons


Mục lục
Tóm tắt....................................................................................................................................................... i
Danh mục hình vẽ minh hoạ .................................................................................................................. v


Sự tiêu thụ thịt........................................................................................................................ 5

3.3.

Nhu cầu về thức ăn ................................................................................................................ 6

Ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu .............................................................................................. 9
4.1.

Toàn cảnh về ngành thức ăn chăn nuôi ................................................................................ 9

4.2.

Việt Nam và sản xuất thức ăn chăn nuôi............................................................................. 10

4.3.

Việt Nam - Một trường hợp nghiên cứu lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.................................. 16

4.4.

Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi................................................................. 17

4.5.

Thái Lan và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi...................................................................... 20

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................................................................... 22
5.1.


Hiệu quả của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi ................................................................... 34

7.4.

Sự ảnh hưởng của tự do báo chí đối với an toàn thực phẩm.............................................. 36

Chuỗi cung cấp............................................................................................................................. 36
8.1.

Chuỗi cung cấp trong ngành chăn nuôi lợn........................................................................ 36

8.2.

Xử lý và vấn đề lưu kho ....................................................................................................... 43

8.3.

Tổ chức theo không gian...................................................................................................... 44

Một khu vực sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh................................................ 44
9.1.

Kinh tế quy mô ở ngành sản xuất thức ăn gia súc .............................................................. 45

9.2.

Sự phát triển của một ngành sản xuất thức ăn gia súc mang tính cạnh tranh................... 46

iii

Các thỏa thuận và chính sách hợp lý:................................................................................. 57

10.5.

Nghiên cứu các số liệu: ....................................................................................................... 58

11.

Kết luận.................................................................................................................................... 58

12.

Hạn chế .................................................................................................................................... 59

13.

Khuyến nghị: ........................................................................................................................... 59

iv

Tư vấn SciEcons


Danh mục hình vẽ minh hoạ
Hình 1 Các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi thuộc sở hữu tư nhân ở Trung Quốc
đang mở rộng.
19
Hình 2 Hệ thống thể chế hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
28
Hình 3 Nutrace®, Tracking & Tracing

vài nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn nuôi.
15
Bảng 7 Tóm tắt những định nghĩa chủ yếu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nước
ASEAN-5
22
Bảng 8 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lao động và quy mô tài sản ở
Philippine
23
Bảng 9 Chi phí tối thiếu ước tính dành cho thức ăn chăn nuôi tại một số vùng ở Việt
Nam (2006) (VND/kg)
51

vi

Tư vấn SciEcons


1. Giới thiệu
OECD (2007) đã miêu tả nền nông nghiệp toàn cầu đang ở các đường viền bao quanh sự
tăng trưởng một cách ổn định về mặt kinh tế trên phạm vi toàn cầu theo trung hạn, sự tăng
trưởng chậm về dân số, sự tiếp tục của lạm phát thấp, và các thị trường mà đang phản ứng
một cách toàn cầu trước những thách thức của ngành nhiên liệu sinh học đang thay đổi
nhanh chóng. Họ nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng về mặt kinh tế toàn cầu được thúc đẩy
chính bởi sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế ở các nước đang phát triển như Trung
Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Thêm vào đó, sự tăng trưởng về mặt sử dụng các hàng hoá
nông nghiệp như là kho nguyên liệu cho ngành nhiên liệu sinh học là một trong những
nguyên nhân chính làm cho giá cả hàng hoá quốc tế đang cao hơn là trong các báo cáo trước
của OECD. Mặc cho những triển vọng của việc nhiên liệu sinh học tăng lên do sử dụng ngô,
OECD (2007) dự đoán rằng sự tăng lên về nhu cầu đối với các hạt thô trên thị trường thế
giới sẽ bị chi phối chủ yếu bởi sự tăng lên của nhu cầu thức ăn từ các ngành chăn nuôi đang

20 tấn/giờ).
Ghi nhận rằng có 145 thực thể đã đăng ký sản xuất ít hơn 5.000 tấn thức ăn/ năm không bao
gồm những thực thể mà đã không đăng ký với Sở Kế hoạch và Đầu tư. Các trạm nghiền nhỏ
sản xuất khoảng 10% tổng thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Một trạm nghiền nhỏ thường

1

Tư vấn SciEcons


không có văn phòng và thường kinh doanh với một điện thoại di động thường bán cho các
tiểu chủ vơi 1 hoặc 2 con lơn hoặc 100 con gà. Thường thì họ không có thiết bị của riêng họ
nhưng có thể thuê nó cùng với một vài nhà sản xuất nhỏ khác. Họ hầu hết ở khu vực nông
thôn và có thể bán thức ăn gia súc hoàn toàn hoặc cô đặc. Thường thì đó là thức ăn cô đặc
bởi vì những nông dân có các hạt riêng của họ (ngô hoặc gạo) do đó họ tự trộn thức ăn gia
súc. Các trạm nghiền nhỏ bán trực tiếp tới người nông dân và không có đại lý. Thức ăn gia
súc rẻ và thường có hàm lượng protein thấp (khoảng 10%), tuy nhiên lợn có thể vẫn tăng
trưởng tốt. Các trạm nghiền nhỏ có thức ăn bao gồm các chất gây ô nhiễm chẳng hạn như các
sâu bọ và bào tử nấm tuy nhiên các nông dân thường không biết các vấn đề này. Thường thì
việc dán nhãn là không chính xác và không có hình phạt nào cho việc này cả.
Cũng gợi ý rằng 45 doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản và lĩnh vực này cần phát triển sản
xuất hiệu quả và giảm giá thành hoặc các doanh nghiệp khác cũng sẽ gặp những khó khăn về
mặt tài chính. Các trạm nghiền nhỏ sẽ phá sản vì họ không có vốn đủ để duy trì sản xuất bởi
việ đầu tư vào trang thiết bị. Do đó thường thì họ đang dung các máy móc cũ không hiệu quả
và do đó mà chi phí sản xuất là quá cao. Cũng như vậy chi phí đầu vào đã tăng lên 3 lần
trong những năm gần đây. Các hang lớn hơn có thể đối mặt với sự tăng chi phí này tốt hơn là
các hang nhỏ. Tuy nhiên một vài người tin rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế như nhiều người tại khu vực nông thông vẫn thường
tin vào chúng và có vẻ thích hợp là làm như vậy thậm chí do sự phát triển của ngành chăn
nuôi đang tăng lên.


Tư vấn SciEcons


2. Phương pháp luận
Để đưa ra báo cáo này việc nghiên cứu tư liệu sẽ phải được tiến hành để đạt được những hiểu
biết về ngành thức ăn chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt là các động cơ đối với
những nhu cầu về ăn chăn nuôi sẽ được điều tra. Thông tin gắn liền với Việt Nam, Trung
Quốc và Thái Lan sẽ được tìm hiểu để xác định những điểm giống nhau và những bài học
mà có thể là hữu ích cho việc hiểu về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Bản chất của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các chính sách có liên quan tới vai trò của chúng trong nền
kinh tế cũng sẽ được xem xét. Thành phần thức ăn chăn nuôi, việc sản xuất và hiệu quả sẽ
được nghiên cứu rộng rãi cùng với các chuỗi cung liên quan và tài liệu cạnh tranh. Các vấn
đề mà lĩnh vực thức ăn chăn nuôi có thể đang đối mặt sẽ được điều tra một cách ngắn gọn.
Tại cuối báo cao, những đề xuất về những nghiên cứu trong tương lai liên quan đến lĩnh vực
thức ăn chăn nuôi của Việt Nam cũng sẽ được đưa ra. Thời gian giành cho nghiên cứu này là
5 ngày.

3. Các động cơ đối với những nhu cầu thức ăn chăn
nuôi
Tới một phạm vi rộng, việc sản xuất thịt và nhu cầu gián tiếp về thịt đã dẫn đến các nhu cầu
về thức ăn trong ngành chăn nuôi. Do đó việc đạt được một số hiểu biết về thị trường thịt
toàn cầu sẽ hữu ích để đạt được sự nhận thức về loại, chất lượng, khối lượng của thức ăn mà
điều này sẽ được đòi hỏi đối với các ngành chăn nuôi toàn cầu.

3.1.

Việc sản xuất thịt

Den Hartog (2005) đề xuất rằng việc xuất khẩu thịt lợn đên lại lợi nhuận gấp 4 lần việc xuất

tăng.
Bảng 1 Xuất nhập khẩu thịt lợn đối với một số nước: 1.000 m3 (trọng lượng thịt sống
tương đương).

Nguồn: FAS 2006
Dữ liệu năm 2006 là dữ liệu ban đầu. Dữ liệu năm 2007 là dự b.

Xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng lên từ năm 2003 đến năm 2004 tuy nhiên sau đó thì duy
trì không thay đổi (Bảng 1). Bệnh tật và chất lượng có thể là một nhân tố làm giảm nhưng
theo như Fabiosa (2005) giải thích, nhu cầu đối với thịt lợn đang tăng nhưng nhân tố giới hạn
là việc cung cấp hạt. Để giải quyết sự tăng lên về nhu cầu của các sản phẩm từ động vật,
Trung Quốc đã giải quyết vấn đề này bằng cách đề ra các cải cách về mặt cấu trúc thông qua
việc phân quyền và tư nhân hoá điều mà đã làm tăng cả đầu tư tư nhân trong nước cũng như
là đầu tư trực tiếp nước ngoài, dẫn đến kết quả là một sự mở rộng về khả năng tạo ra năng
suất của nó (Fabiosa 2005). Niềm hi vọng cũng là để tăng sản xuất thịt lợn trong khu vực các
nhà sản xuất nhỏ, có một sự khác biệt giữa nội bộ các nhà sản xuất hiệu quả nhất và các nhà
sản xuất kém hiệu quả nhất (Fabiosa 2005).
Như đã được đưa ra bởi (Dinh et al. ?), tiểu chủ nuôi lợn chiếm khoảng 80% của lượng thịt
lợn được sản xuất tại Việt Nam, hệ thống này được xác định bằng các trang trại đang tăng
lên từ 1 đến 3 lợn nái hoặc không nhiều hơn 15 lợn đang béo lên hoặc một sự kết hợp tương
ứng của từng loại với định hướng để phát sinh thu nhập và để sản xuất phân bón hữu cơ cho
việc trồng trọt (Dinh et al. ?). Bán lợn thịt đến các lò giết mổ địa phương hoặc bán lợn con

4

Tư vấn SciEcons


cho các hang xóm khác hoặc cho những thưong lái trong làng là thực tiễn kinh doanh phổ
biến (Dinh et al. ?). Những trang trại nuôi lợn bán thương mại (3 đến 10 lợn nái với 15 đến

nuôi đã được thúc đẩy bởi sự tăng lên về cầu của các sản phẩm từ vật nuôi, được bắt nguồn
từ sự tăng lên của thu nhập dẫn đến việc thay đổi về khẩu vị và sở thích (Hall et al. 2006).

3.2.

Sự tiêu thụ thịt

Việc tiêu thụ thịt ở các nước đang phát triển đã tăng lên nhanh gấp 3 lần so với các nước
phát triển từ những năm 70 đến những năm 90, phần lớn là được giải thích bởi tiêu dung ở
Châu Á (FAO 2004). Từ năm 1995 đến 2020, khoảng 97,5% dân số toàn cầu tăng lên là ở
các nước đang phát triển, cũng trong thời gian đó thì 84% dân số thế giới (khoảng 6,3 tỷ) sẽ
sống ở các quốc gia đang phát triển và nhu cầu về thịt và sữa ở thế giới đang phát triển được
dự báo là sẽ tăng gấp đôi vào chậm nhất là năm 2020 (FAO 2004). Sự tăng trưởng về tiêu
thụ thịt và sữa tại thế giới đang phát triển được dự báo là 2,8 và 3,3% hàng năm từ 1990 đến
2020, ngược lại là từ 0,6% đến 0,2% tại các nước đang phát triển (FAO 2004).

5

Tư vấn SciEcons


Vào năm 2005, lượng tiêu thụ thịt trung bình tại Việt Nam là 34,2 kg/người, trên mức trung
bình của Châu Á (33 kg/người) và vượt xa mức của các nước đang phát triển (28 kg/người),
trong khi bình quân của thế giới là 39,9 kf/người (Hall et al. 2006). Ví dụ sự tăng lên về

tiêu thụ thịt lợn tại Việt Nam trong 5 năm qua là khoảng 5 kg/người, trong khi con số
này của Australia là khoảng giữa 1 đến 2 kg và ở Mỹ tiêu dung có vẻ đang giảm
xuống (Bảng 2). Tiêu dung được hi vọng là sẽ tiếp tục tăng trưởng với sự tăng lên
của thu nhập tại Việt Nam (Hall et al. 2006).
Bảng 2 Lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại một số nước (kg/người)

Trung Quốc đang trải qua thời kỳ mà lĩnh vực chăn nuôi tăng trưởng tốt, trên mức của các
quốc gia còn lại trong vùng như Lào, Campuchia, Việt Nam và Philipine, các nước này cũng
đang trải qua sự tăng trưởng tốt (hơn 50% trong 10 năm) (IFFT 2005). Trường hợn nghiên
cứu sự thay đổi trong việc sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Trung Quốc là hứa hẹn nhiều thú
vị. Fabiosa (2005) đưa ra một nét phác thảo về lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và ghi nhận rằng
việc triển vọng tối với lĩnh vực thức ăn trộn là rất lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển của
lĩnh vực nguyên liệu thô, như là ngô, đậu nành, cũng như là sự phát triển của lĩnh vực đầu ra
cuối cùng, như là thịt lợn và gia cầm. Với gần một nửa việc sản xuất thức ăn thương mại1
được sử dụng để nuôi lợn, nhu cầu đối với thức ăn trộn là lớn được thúc đẩy bởi sự phát triển
của lĩnh vực nuôi lợn (Fabiosa 2005). Nhu cầu về thức ăn cho lợn đã bị tác động bởi 2 nhân
tố: sự mở rộng ngành nuôi lợn và việc chuyển đổi cấu trúc của ngành (Fabiosa 2005). Trong
khoảng thời gian một thập kỷ thị phần về các trang trại lợn thiến đã giảm 14%, từ khoảng
95% xuống gần 81% (Fabiosa 2005). Thị phần các hộ gia đình chuyên môn hóa tăng 12%
điểm, từ chỉ dưới 4% tới gần 15% (Fabiosa 2005). Vì thực tế chăn nuôi của các hệ thống sản
xuất này là khá khác biệt so với nhau (đặc biệt là về tỷ lệ của các thức ăn trộn lẫn trong khẩu
phần ăn), việc chuyển đổi cơ cấu đã có những tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thức ăn chăn
nuôi (Fabiosa 2005). Các hoạt động kinh doanh mà với ít hơn 31 con lợn thiến thì có được
phần lớn nhất về khẩu phần ăn là các loại hạt thô, vào khoảng 57 đến 66% (Fabiosa 2005).
Đối với loại sản xuất nhỏ, các nhà sản xuất có từ 31 đến 100 con lợn chiếm tỷ lệ cao nhất về
1

Một thức ăn dinh dưỡng toàn phần bao gồm 3 thành phần: nguồn năng lượng ( điển hình là các hạt m
(thô), nguồn đạm (điển hình là các khẩu phần hạt dầu), và các chất phụ thêm (vitamin, khoáng chất,
thuốc) (Crook et al. 1999). Như được xếp loại tại thông báo thống kê của Trung Quốc, thức ăn hỗn
hơn là một loại hỗn hợp dinh dưỡng toàn phần của các thành phần, thức ăn cô đặc bao gồm nguồn
đạm và các chất phụ them được trộn lẫn sẵn, chất trộn lẫn sẵn bao gồm các chất phụ them kết hợp với
một chất rắn ăn được để làm cho chúng dễ dàng có thể được trộn đều (Crook et al. 1999).

7


được mang lại từ chi phí thấp của họ trong các thành phần còn lại như là chi phí của các nhà
chăn nuôi lợn và nhân công lao động (Fabiosa 2005). Tuy nhiên, tại rất nhiều nước đang phát
triển (ví dụ tại Ấn Độ), các cố gắng đang được thực hiện để tận dụng các nguồn nguyên liệu
thức ăn gia súc phong phú tại địa phương, đặc biệt là các nguyên liệu có protein (FAO
2004).
Các hệ thống chăn nuôi hỗn hợp sẽ bị hạn chế về việc sử dụng một số loại thức ăn (chẳng
hạn như là phế liệu của nhà hàng gia đình, (phổ biến ở rất nhiều nước đang phát triển) do
những khó khăn trong việc xuất khẩu các sản phẩm từ các động vật được nuôi bằng các thức
ăn này (Zhou 2004). Zhou (2004) dự báo rằng việc chăn nuôi động vật tại các nước đang
phát triển sẽ trở nên tập trung hơn vì các nông dân từ bỏ cách chăn nuôi truyền thống với quy
mô nhỏ do chi phí cơ hội cao đi cùng với nó và do đó nhu cầu đối với các loại ngũ cốc để
chăn nuôi sẽ tăng lên nhiều hơn 2 lần, tăng từ 222 triệu tấn vào năm 1997/1998 tới 573 triệu
tấn vào năm 2003. Điều này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về các loại ngũ cốc tại các nước đang
phát triển ở mức từ 190 đến 265 triệu tấn vào năm 2015 và 2030 một cách tương ứng (Zhou
2004).
Le (2007) báo cáo rằng các nhà sản xuất ở Việt Nam đang phải đối mặt với sự tăng lên về
giá cả của thức ăn chăn nuôi, chủ yếu là do việc nhập khẩu 1/3 tổng nhu cầu. Bàn luận trong
Le (2007) tập trung vào sự tưới nước đang tăng lên và do đó làm tăng việc sản xuất ngô từ
khoảng 3,5 tấn/ha/năm lên 11 tấn/ha/năm (như con số có thể đạt được ở Mỹ) và sự phát triển

8

Tư vấn SciEcons


của ngành thuỷ sản. Trong năm qua, giá của thức ăn cho gia cầm đã tăng từ 27.500 VNĐ lên
33.000 VNĐ/túi 25kg và túi thức ăn 25 kg của lợn tăng từ 40.000 VNĐ lên 50.000 VNĐ/túi
(Le 2007).
Mục này đã đưa ra bằng chứng chứng minh rằng việc sản xuất thịt và tự tiêu thụ đặc biệt là
tại các nước đang phát triển tại Châu Á đang tăng lên. Do đó những nhu cầu về thức ăn chăn

thương mại quốc tế với sự thành công của ngành qua quá trình hội nhập, thương mại quốc tế
của nước này chiếm 80% tổng sản xuất (NFPC 2003). Ví dụ Công ty Lar Agroindustrial
Cooperative ở nằm ở phía Nam của Brazil khẳng định bản thân trên thị trường trong mặt
hàng đậu nành, dầu và bột xay và các sản phẩm từ ngô, với 2 trạm nghiền thức ăn, một trạm
nghiền sắn, một nhà máy chế biến rau, một đơn vị đóng trứng thương mại và một nhà máy
chăn nuôi gia cầm (lĩnh vực lớn nhất của Công ty) với sở trường về các sản phẩm đã được
nấu chín. Công ty cũng đã xây dựng một trạm nghiền thức ăn giành riêng cho gà giò, là một
phần của chương trình hợp tác cung cấp thông tin về sản phẩm đối với 388 nhà sản xuất
(nằm trong phạm vi 40 km của nhà máy chế biến gia cầm), các doanh nghiệp này nhắm vào
thị trường xuất khẩu (NFPC 2003). Chi phí vận chuyển thấp đối với tất cả các nhà sản xuất
nằm trong phạm vi 40 km từ trạm nghiền thức ăn có hợp tác (NFPC 2003).

9

Tư vấn SciEcons


Trong tương quan với Mỹ, các nước EU và Brazil, ngành chăn nuôi tập trung của Australia
chỉ sử dụng hơn 10 triệu tấn thức ăn chăn nuôi hàng năm với hơn 50% là được sản xuất tại
120 trạm nghiền hoạt động liên kết với các nhà chăn nuôi và cá công ty chế biến thức ăn
chăn nuôi thương mại (Spragg 2004). Do các điều kiện kiểm dịch nghiêm ngặt. rất ít thức ăn
chăn nuôi được nhập khẩu vào Australia và như được gián tiếp đề cập bởi Campbell (2006),
có sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi ở đó.
Sự đầu tư liên tục vào tất cả các nước của các Công ty lớn như Charoen Pokphand (CP) cũng
sẽ là rất quan trọng. E-News (2007) báo cáo rằng CP đang lập kế hoạch xây một trạm nghiền
với công suất 144.000 tấn/năm tại Lào để hỗ trợ cho hoạt động chăn nuôi gia cầm và lợn với
công ty CP tại Lào của mình. Nghề nuôi trồng thuỷ sản đang mở rộng đặc biệt là tại khu vực
các nước Châu Á và điều này sẽ dẫn đến một nhu cầu tăng lên về thức ăn gia súc. CP đang
tăng cường lợi ích của mình tại các sản phẩm thức ăn cho thuỷ sản bằng cách bán các tài sản
của nhà máy sản xuất thức ăn thuỷ sản tại Malaysia và đang tiến hành nhiều dự án nuôi trồng

gia cầm là nổi bật tại Đồng bằng Sông Hồng, tiếp sau là Khu Đông Bắc và Khu
duyên hải Bắc Trung Bộ (Hall et al. 2006). Sau thời gian bùng nổ dịch cúm gia cầm,
hơn 15% đàn gia cầm của cả nước đã bị loại. Mặc dù McCarty (2006) đã gợi ý rằng các

10

Tư vấn SciEcons


chi phí kinh tế của bệnh dịch vì thế đã bị hạn chế tương đối, chúng có thể tăng lên đáng kể
với các chi phí kinh tế trực tiếp kết hợp với sự thiệt hại về đàn gia cầm và có nhiều tác động
gián tiếp lan rộng ra các ngành khác như là buôn bán gia cầm, nghiền thức ăn, các trang trại
chăn nuôi và cuộc sống. Những thay đổi về cơ cấu tiếp tục vì những người nông dân hoặc là
tái tăng đàn dưới những điều kiện với của sản xuất hoặc chuyển sang các lĩnh vực khác (Hall
et al. 2006).
Từ khi có sự ra đời của Luật đầu tư mới năm 1994, đầu tư vào ngành chăn nuôi đã tăng lên
chủ yếu là từ đầu tư của khu vực tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) (IFPRI 2001). Do
máy móc và thiết bị lạc hậu, cũng như là các vấn đề về quản lý, Livingstone (2000) đã nghi
nhận rằng vào năm 1994, các trạm nghiền vỏ khô thuộc sở hữu nhà nước đã hoạt động ở
mức 20% công suất tuy nhiên sự tăng lên của các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ,
được xuất phát từ sự xuất hiện của các nhà doanh nghiệp, đã nhìn thấy sự xuất hiện của các
máy móc chế biến quy mô nhỏ. Vào năm 1994, lượng tiêu thụ hang năm chỉ là 154.000 tấn,
với thức ăn thưong mại chiếm khoảng 25 % của tổng lượng thức ăn đậm đặc tiêu thụ, và
0.6% tổng lượng thức ăn và nguyên liệu thô được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi (IFPRI
2001).
Việc sản xuất thức ăn chăn nuôi đã tăng lên với tỷ lệ là 23% trong thời gian từ năm 1988 đến
1998 và tỷ lệ của việc tiêu thụ thức ăn thương mại đã tăng lên từ khoảng 1 đến 27% (IFPRI
2001). Đến năm 1999, việc sản xuất thương mại thức ăn chăn nuôi tại miền Nam Việt Nam
là khoảng 1.7 triệu tấn, với 10 trạm nghiền lớn nhất, trong đó 50% là thuộc sở hữu bởi khu
vực tư nhân ở địa phương, sản xuất gần 81% thức ăn chăn nuôi và việc sản xuất bởi các trạm

bằng Sông Hồng ở phía Bắc Việt Nam chiếm khoảng 26% số lượng trạm nghiềm và hơn

11

Tư vấn SciEcons


35% lượng sản xuất (Nguyen 2005). Các hãng nghiền thức ăn chăn nuôi chủ chốt là Tập
đoàn CP (Thái Lan); Proconco (Pháp); Cargill (Mỹ); TTC (Đài Loan); New Hope (Trung
Quốc) và Tập đoàn Cheil Jedang (Hàn Quốc) cùng với một số các công ty Việt Nam như là
DABACO (Bắc Ninh), VINA, Thanh Bình, Long Châu (Đồng Nai), VIC (Hải Phòng), Hoàn
Duơng (Hà Nội), NOPICO An Khánh, Trạm nghiền thức ăn gia súc Ngọc Hồi, và AFIMEX
(An Giang) (Nguyen 2005).
Các công ty nước ngoài và các liên doanh thống trị lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
(Bảng 5) với nhà sản xuất lớn nhất là Proconco, một liên doanh giữa Việt Nam và Pháp,
công ty này đã được thành lập vào năm 1991 (Burch và Rickson 2006). Các doanh nghiệp
Việt Nam tham gia vào việc sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng đã tăng lên đáng kể trong vòng
10 năm qua, tuy nhiên công suất của từng hãng thì vẫn còn nhỏ và ở khoảng 1.000 đến 5.000
tấn/năm (Burch và Rickson 2006Ít hơn một nửa thức ăn chăn nuôi được sản xuất ở nội địa là
từ các nguồn thương mại với phần còn lại bao gồm các phế thải gia đình và các nguồn khác,
và chủ yếu được dùng để nuôi lợn (Burch và Rickson 2006). ). Điều quan trọng là nhận ra
rằng thị phần trên được tính toán như là thị phần của lĩnh vực thương mại (Burch và Rickson
2006).

Bảng 5 Các hãng nghiền thức ăn gia súc đang thống trị sản xuất tại Việt Nam năm 2006

Công ty

Công suất (tấn/năm)


(Tran 2007). Theo Tran (2007), 3 trạm nghiền mới đã được đi vào hoạt động vào năm 2006
với mục tiêu giành một tỷ lệ lớn từ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại gia đình mà hiện
nay nó đang chiến hơn 65% thị trường thức ăn chăn nuôi. Thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi, không giống như là thức ăn chăn nuôi được sản xuất
tại gia đình bởi các nông dân về lượng các sản phẩm từ rau và đồ ăn thừa, được lấy tứ từ các
chất đã được tiêu chuẩn hoá đây, trong đó ngô là thành phần đầu tiên (Tran 2007).

12

Tư vấn SciEcons


Một cách cục bộ các doanh nghiệp chế biến với quy mô nhỏ đã mang lại lợi thế về trạng thái
ở gần kề cho các nông dân ở địa phương những người phải chế biến sản phẩm của họ (ví dụ
gạo và đậu nành) cũng như là phải phân tán, những người tiêu dùng ở nông thông người mà
mua bản phẩm (Livingstone 2000). Hall et al. (2006) đã đồng ý rằng cũng có khả năng

giảm các chi phí của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi với việc sử dụng ngày càng
tăng lên những trạm nghiền thức ăn chăn nuôi ở địa phương với quy mô nhỏ bằng
việc tạo ra sự tiếp cận ở địa phương tới thức ăn chăn nuôi với chất lượng và giá cả ổn
định. Thêm vào đó họ đã bảo vệ những hiểu biết ngày càng tăng lên về quản lý thức
ăn chăn nuôi và giảm thực phẩm chất lượng thấm và ghèo dinh dưỡng có sẵn ở địa
phương (ví dụ một số nông dân nuôi lợn với quy mô nhỏ chỉ sử dụng thức ăn chăn
nuôi là đồ thải trong gia đình) và do đó mà làm tăng tính cạnh tranh trong ngành
chăn nuôi. Livingstone (2000) gợi ý rằng có một cơ hội lớn cho việc sự hiện đại hoá ngành
chế biến thông qua sự phát triển của chế biến được tiến hành bởi doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Một lợi thế khác của các doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ là chúng có thể có mặt ở địa
phương, với doanh nghiệp chỉ là một góc cửa hàng, sự kết hợp của các hoạt động: xay gạo,
trồng đậu nành, nghiền sắn, bóc vỏ lạc, bóc vỏ cà phê và thức ăn gia súc (Livingstone 2000).
Tuy nhiên, Livingstone (2000) báo cáo rằng tín dụng có thể là một trở ngại lớn đối với các


Tư vấn SciEcons


hoặc là họ sẽ cần tăng một cách ổn định đầu tư của mình để thành công rực rỡ với các nhà
sản xuất thức ăn chăn nuôi quy mô lớn (IFPRI 2001).
Trong khi chất lượng, cung và cầu thức ăn chăn nuôi thương mại đều đang tăng và giá cả lại
đang giảm, ngành này bị tác động bởi một số vấn đề mà các vấn đề này đang kìm hãm sự
phát triển của một ngành thức ăn chăn nuôi giàu có, có lãi và đang tác động sự thừa nhận
thức ăn chăn nuôi thương mại của các nhà sản xuất (IFPRI 2001). Giá cả đối với thức ăn
chăn nuôi ở Việt Nam là cao hơn bởi các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là đối với các nguyên
liệu thô giầu protein như là ngô và đậu nành (IFPRI 2001) với với ví dụ Mỹ đang có một lợi
thế về các chi phí của thức ăn chăn nuôi (Hall et al. 2006). Các loại thức ăn chăn nuôi ở

Việt Nam thường đắt hơn so với các nước trong vùng từ 20 đến 25% (Hall et al.
2006). Ví dụ, thức ăn toàn phần giành cho lợn vỗ béo ở Việt Nam thì cao hơn khoảng
28% đối với ở Malaysia trong đầu năm 2000, và thức ăn mới bắt đầu cho gà giò là
khoản 285 đô la Mỹ ở Việt Nam, và khoảng 213 đô la Mỹ ở Malaysia (IFPRI 2001).
Góp phần làm cho chi phí của các nguyên liệu thô giầu protein cao hơn bao gồm các
nhân tố kết hợp với sự sản xuất ở địa phương còn hạn chế, sản lượng thấp, và các
loại thuế nhập khẩu (IFPRI 2001). Thức ăn thương mại ở Việt Nam hoạt động như là một
một thị trường không có người thống trị, với rất ít người tham gia và sở hữu bị thống trị bởi
nước ngoài với nhân công lao động chất lượng tốt hơn và các chi phí đầu tư cao hơn là khu
vực nội địa (Hall et al. 2006). Các trạm nghiền địa phương cung cấp gần 4.6 triệu tấn (40%
tổng nhu cầu), và hơn 60% các nguyên liệu thô của thức ăn chăn nuôi là được nhập khẩu
hang năm (Hall et al. 2006).
Lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nguyên liệu
được nhập khẩu và trong quá khứ việc nhập khảu thức ăn chăn nuôi chủ yếu là protein, với
nhu cầu năng lượng được cung cấp ngay tại địa phương (Tran 2007). Như được bàn bởi
Livingstone (2000), việc đưa ngô vào Việt Nam vào năm 1996 tới các khu vực nghèo đã

Bảng 6 Giá thức ăn chăn nuôi (2006) tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam đối với một vài
nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn nuôi.
Nhóm vật nuôi và các giai đoạn chăn
Cả nước
nuôi
Giá thức ăn cho lợn (VND/kg)
Bắt đầu (1-15 kg)
7724
Tiền trưởng thành (15-30 kg)
4305
Trưởng thành (30-60 kg)
4020
Kết thúc (60- off take)
3723
Lợn nái mang bầu
3847
Lợn nái nuôi con
4168

Miền
Bắc

Miền
Nam

7048
4341
4140
3596
3894

Giá các loại nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi (VND/kg)
Ngô
2600
Gạo vỡ
3615
Cám gạo
2770
Bánh đậu nành
3880
Các loại đậu nành
6000

2543
3771
2200
4600
4650

2350
3516
2200
5350
6200
Nguồn: (Hall et al. 2006)

Với việc phải cạnh tranh giành đất từ công nghiệp, đất ở, và đất trồng các loại cây có giá trị
cao khác ngoài vật nuôi, câu trả lời là không đơn giản vì việc phân lại vung đất cho các mục
đích sản xuất thức ăn chăn nuôi (Hall et al. 2006). Họ nhận ra rằng giá của thức ăn chăn nuôi
đang giảm theo sự suy giảm của các loại thuế giá trị gia tăng đánh vào thức ăn chăn nuôi

tăng hơn vì nhu cầu là cao hơn. Dự thay đổi nhẹ về nhu cầu trong năm tại Việt Nam là khác
với Trung Quốc. Nhu cầu từ Tháng 8 đến Tháng 11 tại Trung Quốc tăng nhiều do Tết Trung
thu và Quốc Khánh. Họ chỉ bán cho đại lý và không bán trực tiếp cho nông dân và không có
khách hàng tại khu vực miền núi. Họ không có bất kỳ nông dân nào ký hợp đồng. Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hỏi tại sao họ không bán trực tiếp cho nông dân. Gần như
bởi vì là nông dân nghèo và đại lý trả họ tín dụng. Đại lý phải trả cho công ty và điều này thì
tốt hơn là cố gắng thu tiền từ nông dân.
Trạm nghiền thức ăn nội địa bắt đầu sản xuất tại Việt Nam vào năm 1996 như là một công ty
liên kết giữa tư nhân và nhà nước (Nhà nước sở hữu 45%, tư nhân sở hữu 55%) Có 4 công ty
tại Miền Bắc Việt Nam và 2 công ty tại miền Nam Việt Nam và họ có Chứng chỉ về hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Công ty sản xuất thức ăn toàn phần và thức ăn đậm đặc
(đóng túi) và họ cũng có hợp đồng với người căhn nuôi gia cầm và lợn (tất cả nhu cầu thức
ăn chăn nuôi của những người này sẽ được họ cung cấp). Tổng sản lượng thức ăn cho lợn,
gia cầm, cá và gia súc là vào khoảng 250.000 tấn/năm với 95% là được đóng thành dạng
viên. Trong đó, toàn bộ hợp chất khẩu phần ăn chiếm 85% tổng sản lượng với 15% là thức
ăn đậm đặc (nông dân thêm các loại hạt và các thức ăn khác nữa). Thức ăn cũng được cung
cấp cho các đại lý để phân phối tới nông dân. Trong khi bàn luận cần nghi nhớ là một sự
thiếu hụt về đầu vào đang hạn chế sự tăng trưởng của công ty. Ngô được nhập khẩu chủ yếu
từ Trung Quốc nhưng kiến nghị là ngô của Việt Nam có chất lượng tốt hơn và do đó Công ty
sẽ chỉ nhập khẩu ngô khi mà không có ở Việt Nam. Tất cả đậu nành là được nhập khẩu từ
Argentina, Brazil, Mỹ và Ấn Độ. Đầu vào được mua dựa trên giá và chất lượng. Trạm
nghiền thức ăn có đủ khả năng dự trữ trong 8 tháng tuy nhiên nhận ra rằng việc dự trữ đầu
vào cũng có thể là đắt đỏ phụ thuộc vào giá được trả cho họ. Công ty đã tiếp cận một phóng
thí nghiệm trên thực địa để kiểm tra chất lượng của đầu vào và đầu ra (ví dụ là protein, chất
béo, độc tố, nấm, năng lượng và độ ẩm).
Một ví dụ về một doanh nghiệp nhỏ trộn thức ăn gia súc ngay ngoài Hà Nội trộn 100 tấn
thức ăn đậm đặc/tháng và không sản xuất thức ăn toàn phần. Điều này tương đương với 4
đến 5 tấn/ngày và việc sản xuất tăng nếu nhu cầu tăng. Việc kinh doanh gặp một vấn đề là
tìm kiếm đầu vào và không có nhiều không gian để dự trữ nhưng cố gắng mua hàng hoá đầu
vào chất lượng tốt để bảo đảm rằng đầu ra sẽ có chất lượng cao. Các trở ngại bao gồm việc


4.4.

Trung Quốc và việc sản xuất thức ăn chăn nuôi

Trung Quốc là nước sản xuất lợn lớn nhất thế giới (Bảng 3) với các trạm nghiền thứ ăn được
đặt một cách điển hình tại các khu vực chăn nuôi bởi vì việc vận chuyển và cơ sở hạ tầng có
liên quan là rất nghèo nàn (Crook et al. 1999). Den Hartog (2005) đã đưa ra rằng vì Trung
Quốc tiếp tục tăng sản xuất thịt lợn, hơn 50% lượng thịt lợn được sản xuất trên thế giới trong
tương lai là sẽ được sản xuất tại nước này.
Khi Đảng Cộng sản lên nắm quyền tại đại lục năm 1949 thì vào thời điểm này Trung Quốc
không có một ngành thức ăn chăn nuôi hiện đại và cơ khí hoá và sự phát triển đã không thực
sự diễn ra ở lĩnh vực này cho tới giữa những năm 1950 khi mà các nhà lãnh đạo Đảng Cộng
sản tập thể hoá nông nghiệp (Crook et al. 1999). Các chính sách của chính phủ và thiếu sự
khuyến khích đối với các nhà sản xuất đã dẫn đến kết quả là tại các trạm nghiền gạo có quy
mô lớn của họ việc sản xuất cám gạo để làm thức ăn chăn nuôi diễn ra ở mức độ thấp (Crook
et al. 1999). Từ năm 1976 đến 1985, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chuyển chính sách cơ
bản của họ từ phụ thuộc chủ yếu vào kế hoạch trung ương, hạn chế hoạt động ngoại thương
và nhấn mạnh trọng tâm vào khả năng của bản thân sang dựa chủ yếu vào các thị trường, mở
rộng ngoại thương, và sẵn sàng chấp nhận những ý kiến, kỹ thuật, thể chế, và kỹ thuật từ
phần còn lại của thế giới (Crook et al. 1999). Kết quả là, chăn nuôi đã tăng lên và do đó, nhu
cầu đối với thức ăn gia súc được sản xuất cũng tăng lên (Crook et al. 1999).
Thêm vào đó Công xã nhân dân đã được thay thế bằng chính quyền ở các quận, huyện và các
hợp tác xã kinh tế ở làng và nông dân đã được thuê các thửa đất trong thời gian dài, đã được
bảo đảm nhiều hơn cho sự linh hoạt trong việc ra quyết định kinh tế của họ, và đã được
3

Tất cả các quy đổi trong mục này được tính theo tỷ giá 1USD=16.000 VND

17

cho các trang trại thuộc sở hữu nhà nước), Vụ Thuỷ sản (để cung cấp cho ngành nuôi cá) và
vụ Chăn nuôi với Bộ Thương mại, chuyên môn hoá vào sản xuất thức ăn chăn nuôi hỗn hợp
(Crook et al. 1999). Bộ hoá chất và Văn phòng dược tiến hành các hoạt động về thức ăn chăn
nuôi và Bộ Cơ khí, thường xuyên kết hợp với các thực thể khác, vận hành các trạm nghiền
thức ăn chăn nuôi để nắm được thực tế về hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi phục vụ cho
việc sản xuất các thiết bị nghiền thức ăn chăn nuôi (Crook et al. 1999). Bộ Ngoại thương đã
hợp tác với các hãng nước ngoài để xây dựng các liên doanh nghiền thức ăn chăn nuôi, và
các đơn vị quân đội đã cùng nhau tiến hành chăn nuôi và quản lý các trang trại để cung cấp
thực phẩm cho quân nhân và đến năm 1996 họ đã có 50 trạm nghiền thức ăn (Crook et al.
1999).
Các trạm nghiền theo mô hình hợp tác xã ở vùng ngoại ô và các làng thì thường được gọi là
Các doanh nghiệp làng xã (TVEs), và được sở hữu tập thể bởi các nông dân và được quản lý
trên danh nghĩa bởi các công chức từ Bộ Nông nghiệp (Crook et al. 1999). Trong những năm
80, rất nhiều các Doanh nghiệp làng xã nhỏ, không hiệu quả chống lại các áp lực cạnh tranh,
các giám đốc của các doanh nghiệp mà còn tồn tại được thì đều là những người có năng lực
về tổ chức và sản xuất (Crook et al. 1999).
Tại Trung Quốc, các trạm nghiền thức ăn có thể được phân chia thành 3 loại sở hữu: nhà
nước; tập thể; và tư nhân, tư nhân thì bao gồm các liên doanh của tư nhân và liên doanh của
nhà nước và tập thể, sở hữu đơn lẻ, và các loại sở hữu khác; và sở hữu nước ngoài gồm liên
doanh giữa Trung Quốc và nước ngoài, các trạm nghiền thức ăn chăn nuôi được đầu tư bởi

18

Tư vấn SciEcons


Trích đoạn Thế nào làm ột doanh nghiệp vừa và nhỏ? SMEs trong nền kinh tế Thành phần của thức ăn chăn nuôi Quy định về chất lượng thức ăn chăn nuôi Hiệu quả của việc sản xuất thức ăn chăn nuôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status