1
CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC
KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH Ngô Anh Tuấn
Phó trưởng ban Ban quản lý
các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM
1. Giới thiệu chung:
Tính đến 31/03/2009, thành phố Hồ Chí Minh đã có 3 KCX, 10 KCN đi vào hoạt
động với 1.152 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,43 tỷ USD.
Trong đó, đầu tư nước ngoài 463 dự án, vốn đầu tư đăng ký 2,62 tỷ USD; đầu tư trong
nước 689 dự án, vốn đầu tư 27.104,24 tỷ đồng (tương đương 1,81 tỷ USD); 250.000 công
nhân; kim ngạch xuất khẩu lũy kế 20,5 tỷ USD. Tổng diện tích đất thuê lũy kế là
1.238/1.600ha đất thương phẩm được phép cho thuê của 13 KCX, KCN đang hoạt động,
đạt tỷ lệ lấp đầy 77%. Trong tổng số 1.152 dự án đầu tư còn hiệu lực, có 971 dự án đang
hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,2 tỷ USD.
2. Tình hình quản lý môi trường tại các KCX, KCN:
2.1. Cơ sở pháp lý về quản lý môi trường:
- Ngày 14/03/2008 Chính phủ ban hành Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về khu
công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, theo đó Ban quản lý sẽ thực hiện các nhiệm vụ
liên quan đến công tác quản lý môi trường như thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi
trường các dự án đầu tư trong KCX, KCN, kiểm tra, thanh tra và xử phạt hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT).
- Theo Thông tư 4/2008 TT-BTNMT ngày 18/09/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn lập, phê duyệt hoặc xác nhận đề án BVMT và kiểm tra, thanh tra việc
thực hiện đề án BVMT, Ban quản lý đã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi
trường, cụ thể đã thực hiện xác nhận và phê duyệt các đề án BVMT các doanh nghiệp đã
hoạt động trong KCX, KCN.
Từ tháng 9/2008, công việc kiểm tra định kỳ và giám sát các doanh nghiệp là nhiệm vụ của
Bộ phận BVMT các Công ty PTHT KCX, KCN; trường hợp khó khăn, HEPZA và phối
hợp Sở TNMT hỗ trợ. Định kỳ hàng tháng, HEPZA có chế độ giao ban với Bộ phận
BVMT các KCX, KCN làm luân phiên tại từng khu, có tham quan thực tế hệ thống XLNT
(xử lý nước thải) tập trung của khu để trao đổi kinh nghiệm.
2.2.2. Công tác quản lý Nhà nước về môi trường đã thực hiện:
- HEPZA đã chủ động kiểm tra và phối hợp với Sở TNMT kiểm tra, thanh tra về
môi trường các doanh nghiệp: Từ năm 2001 đến năm 2006: 2.165 lượt doanh nghiệp.
Trong năm 2007 đã xử phạt 77 trường hợp với số tiền 1.021.000.000 đồng, năm 2008 xử
phạt 184 doanh nghiệp vi phạm với số tiền phạt là 1.890.500.000 đồng.
- Từ tháng 7/2002 đến tháng 6/2006 (Thực thi quyết định 76) HEPZA đã cấp 590
Giấy chứng nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường cho các dự án đầu tư vào các KCX,
KCN của thành phố.
- Từ tháng 01/2009 đến 31/03/2009 (Thực thi Thông tư 04) HEPZA đã phê duyệt 1
và xác nhận 9 bản đề án BVMT.
- Ngoài những công tác chuyên môn, HEPZA còn hỗ trợ công tác tập huấn kiến
thức các văn bản quy định hiện hành về BVMT, sản xuất sạch…cho các doanh nghiệp
trong KCX, KCN.
- Từ tháng 9/2008, HEPZA đã có văn bản đề nghị các Công ty PTHT KCX, KCN
bắt đầu thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát về môi trường và thông báo cho các doanh
nghiệp biết để hỗ trợ thực hiện. Cho đến nay công tác này đã dần ổn định, bộ phận BVMT
các KCX, KCN đã thực hiện các cuộc kiểm tra, giám sát định kỳ về BVMT đối với các
doanh nghiệp. HEPZA cũng có văn bản yêu cầu các doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách
về BVMT.
- Công khai danh sách các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BVMT, danh sách
doanh nghiệp đã khắc phục, danh sách các đơn vị tư vấn - cung ứng dịch vụ về BVMT trên
trang Web của HEPZA để sử dụng sức mạnh của công luận và công khai thông tin về
BVMT theo quy định của pháp luật.
2.2.3. Công tác BVMT tại các KCX, KCN
2.2.3.1. Hệ thống xử lý nước thải tập trung:
hành, dẫn đến nhà máy XLNT tập trung của KCN bị quá tải về nồng độ.
Về tình hình đấu nối nước thải, cho đến nay, cơ bản tất cả các doanh nghiệp tại
12/13 KCX, KCN đều đã đấu nối vào mạng lưới thu gom nước thải để đưa về nhà máy xử
lý nước thải tập trung của KCN. Một vài trường hợp do KCN đang tiến hành hoàn chỉnh hệ
thống thu gom nước thải nên các doanh nghiệp chưa đấu nối hoàn chỉnh vào (Khu A KCN
Hiệp Phước, Tân Phú Trung).
2.2.3.3. Tình hình xử lý khí thải tại các KCX, KCN:
Trong tổng số 971 doanh nghiệp đang hoạt động, có 174 trường hợp phát sinh bụi,
khí thải đặc trưng, chủ yếu bao gồm các tác nhân chính như: Khí thải lò hơi, hơi axít từ quá
trình xi mạ, hơi dung môi của công đoạn sơn, mùi hôi của quá trình thuộc da…và bụi từ
các công đoạn sản xuất gỗ, đánh bóng. Hiện đã có 92 doanh nghiệp lắp đặt thiết bị thu
gom, xử lý bụi thải, khí thải đặc trưng, 82 doanh nghiệp còn lại chủ yếu có phát sinh khí
thải lò hơi.
2.2.3.4. Thu gom và xử lý CTR (chất thải rắn), chất thải nguy hại (CTNH) tại
các KCX, KCN:
- Hiện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh có khoảng hơn 20 doanh nghiệp thực hiện
công việc thu gom, trung chuyển, phân loại và xử lý chất thải rắn, CTNH. Các doanh
nghiệp này đều được Bộ/Sở TNMT cấp Giấy phép hành nghề và thực hiện công tác thu
gom chất thải trong KCX, KCN.
- Tuân thủ theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 và
của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quyết định về việc ban hành Danh mục chất thải nguy
hại và Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường số 12/2006/TT-BTNMT ngày
26/12/2006 hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành
nghề, mã số quản lý CTNH, các doanh nghiệp KCX, KCN đã từng bước xác lập cho công
ty mình một quy trình thu gom, lưu trữ, chuyển giao chất thải theo đúng quy định hiện
hành. Cho đến hết tháng 3/2009, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã cấp trên 400
Sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại cho các doanh nghiệp trong KCX, KCN. 4
BVMT.
- Sự hỗ trợ tích cực của Sở TNMT trong công tác kiểm tra, thanh tra và xử phạt các
đơn vị vi phạm về môi trường trong các KCX và KCN.
- Việc hình thành và hoạt động lực lượng cảnh sát môi trường cũng góp phần nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm về
BVMT.
- Chi cục BVMT phối hợp tốt trong công tác thu phí BVMT đối với nước thải công
nghiệp trong các KCX và KCN.
- Các Công ty PTHT KCN phối hợp thường xuyên trong công tác kiểm tra và giải
quyết các vấn đề môi trường phát sinh đặc biệt là vai trò của bộ phận BVMT của các KCX,
KCN.
- Các KCX và KCN đã cơ bản xây dựng hoàn chỉnh hệ thống XLNT và đưa vào
vận hành ổn định. Ý thức của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao trong công tác
BVMT thông qua việc đầu tư, vận hành các trạm XLNT.
- Phản ánh kịp thời và hiệu quả của các cơ quan thông tấn cũng góp phần nâng cao
nhận thức BVMT, phê phán những hành vi vi phạm của các doanh nghiệp. 5
3.2. Khó khăn:
3.2.1. Về cơ sở pháp lý:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, vừa
thiếu vừa chồng chéo, chưa có hệ thống chế tài nghiêm khắc đủ sức răn đe sự vi phạm nên
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về BVMT thấp.
- Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh
phòng, chống tội phạm về môi trường (Cảnh sát môi trường) chưa cụ thể, rõ ràng và thống
nhất nên hoạt động đang gặp một số khó khăn, lúng túng, chưa phát huy tốt hiệu lực, hiệu
quả trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật về BVMT.
- Các nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường bên trong KCX, KCN
chưa được quy định cụ thể (quản lý nước thải, quản lý chất thải rắn, quản lý khai thác nước
tháng/lần là không hợp lý).
- Việc quản lý chất thải rắn, CTNH phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp còn nhiều khó khăn như đối với các trường hợp doanh nghiệp chỉ phát sinh
một lượng CTNH khối lượng nhỏ (giẻ lau nhiễm dầu, bóng đèn) thì khó hợp đồng với các
đơn vị thu gom, xử lý dẫn đến việc bị xử lý vi phạm trong công tác quản lý CTNH. Còn
nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng chuyển giao xử lý chất thải nguy hại nhưng tuân thủ đúng