một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 phát hiện và tránh sai lầm khi giải toán về tỉ số phần trăm - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN
-------------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5
PHÁT HIỆN VÀ TRÁNH SAI LẦM
KHI GIẢI TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths. Dương Hữu Tòng

Võ Thị Diễm Hương
MSSV: 1110301
Lớp: SP Tiểu học K37

Cần Thơ, 04/2015


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ từ quý Thầy (Cô), bạn bè. Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nổ lực, phấn
đấu của bản thân, chúng tôi còn được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Thầy Dương

B. NỘI DUNG ................................................................................................................. 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................................... 5
1.1. Đặc điểm tâm lí cơ bản của học sinh tiểu học........................................................... 5
1.2. Đặc điểm của sự tư duy Toán học của HS tiểu học .................................................. 9
1.3. Quan điểm về sửa chữa sai lầm của các nhà lí luận ................................................ 10
1.4. Vai trò, vị trí và tầm quan trọng của hoạt động giải toán ....................................... 14
1.5. Kết luận chương 1 ................................................................................................... 15
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ SAI LẦM CỦA HỌC SINH LỚP 5 KHI GIẢI TOÁN VỀ
TỈ SỐ PHẦN TRĂM VÀ CÁC BIỆN PHÁP SỬA CHỮA SAI LẦM .................... 16
2.1. Nội dung và yêu cầu dạy toán tỉ số phần trăm ở lớp 5............................................ 16
2.1.1. Mục tiêu dạy học tỉ số phần trăm ở lớp 5............................................................. 16
2.1.2. Nội dung dạy toán tỉ số phần trăm ở lớp 5 ........................................................... 16
2.1.3. Quá trình hình thành khái niệm ban đầu về tỉ số phần trăm ở tiểu học ............... 18
2.1.4. Các dạng bài toán cơ bản về tỉ số phần trăm........................................................ 19
2.1.5. Chuẩn kiến thức kĩ năng cụ thể ở từng bài học thuộc dạng toán Tỉ số phần trăm
........................................................................................................................................ 20
2.1.6. Yêu cầu dạy toán tỉ số phần trăm ở lớp 5............................................................. 24
2.2. Một số sai lầm của học sinh lớp 5 khi giải toán về Tỉ số phần trăm và các biện
pháp sửa chữa sai lầm .................................................................................................... 26
2.2.1. Một số sai lầm thường gặp ở dạng 1: “Tìm tỉ số phần trăm của hai số”.............. 26


ii

2.2.1.1. Lẫn lộn giữa đại lượng đem ra so sánh và đại lượng chọn làm đơn vị so
sánh ..................................................................................................................... 26
2.2.1.2. Nhầm lẫn khi lấy số chữ số ở phần thập phân của tỉ số phần trăm ....... 27
2.2.1.3. HS thường hay quên nhân nhẩm thương với 100, mà chỉ tìm thương của
hai số rồi viết thêm kí hiệu % vào bên phải thương ........................................... 28
2.2.1.4. Sai lầm khi viết tỉ số phần trăm của một số thập phân thành phân số thập

Giáo án 5:

LUYỆN TẬP ........................................................................................... 66


iii

CHƯƠNG 4. KHẢO SÁT SƯ PHẠM ........................................................................ 69
4.1. Mục đích khảo sát ................................................................................................... 69
4.2. Nội dung khảo sát.................................................................................................... 69
4.3. Đối tượng khảo sát .................................................................................................. 69
4.4. Thời gian khảo sát ................................................................................................... 69
4.5. Công tác chuẩn bị .................................................................................................... 69
4.6. Tổ chức khảo sát ..................................................................................................... 71
4.7. Kết luận chương 4 .................................................................................................. 75
C. KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 78
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 79


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

DIỄN GIẢI

1


tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát triển các
năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp cho học
sinh. Ngoài ra, môn toán là một môn học thống nhất cơ bản về cơ sở khoa học và cấu
trúc nội dung. Việc dạy và học toán ở tiểu học được phân thành các khối lớp 1, 2, 3, 4
và 5 theo mức độ khó dần. Trong đó, toán lớp 5 chiếm một vị trí rất quan trọng và then
chốt trong chương trình toán ở Tiểu học. Nội dung cốt lõi là vẫn dạy các kiến thức và
kỹ năng cơ bản của môn toán nhưng với mức độ sâu hơn, khái quát hơn, tường minh
hơn các lớp học dưới. Từ đó, dẫn dắt các em dần dần đi vào các lĩnh vực của đời sống
đồng thời phát triển trí thông minh, óc sáng tạo cho học sinh.
Một trong năm nội dung chương trình cơ bản của toán 5 cần cung cấp và khắc
sâu cho học sinh là Giải toán có lời văn . Trong đó một trong những dạng toán hay và
mới đối với các em là phần giải các bài toán về Tỉ số phần trăm. Đây là mảng kiến thức
rất quan trọng không chỉ cung cấp đầy đủ các kiến thức về tỉ số phần trăm mà nó còn
được ứng dụng nhiều trong thực tế và có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tư duy
cho học sinh. Đồng thời rèn luyện những phẩm chất không thể thiếu của người lao
động đối với học sinh Tiểu học. Với mục tiêu đó, việc dạy dạng toán Tỉ số phần trăm
càng trở nên quan trọng, cần thiết đối với học sinh.
Giải toán tỉ số phần trăm là dạng toán hay ở tiểu học. Để giải được các bài toán
này, đòi hỏi HS phải biết vận dụng tổng hợp rất nhiều kiến thức về số học biết sử dụng
các kiến thức đó một cách sáng tạo. Trong thực tế, không phải đứa trẻ nào cũng giải tốt
được những bài toán về tỉ số phần trăm, HS còn mắc nhiều sai lầm. Tình trạng học sinh
vận dụng sai quy tắc khi tìm tỉ số phần trăm của hai số trong cách trình bày còn phổ
biến. Học sinh còn lẫn lộn trong việc lựa chọn phương pháp giải của hai dạng toán


2

phần trăm: tìm giá trị một số phần trăm của một số và tìm một số khi biết giá trị một số
phần trăm của số đó. Các kĩ năng phân tích, tổng hợp vẽ sơ đồ, bảng biểu, thiết lập mối
quan hệ giữa các dữ kiện có trong bài toán phần trăm hầu như còn hạn chế,...

 Nghiên cứu những sai lầm khi học sinh học dạng toán tỉ số phần trăm.
 Phát hiện và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai lầm.
 Tìm phương pháp thích hợp để khắc phục sai lầm.
7. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn: thông qua trao đổi, nói chuyện, phát
phiếu điều tra cho HS và giáo viên.
3. Phương pháp khảo sát: khảo sát sư phạm theo hướng đã đề xuất để xem
tính khả thi và hiệu quả của những biện pháp sửa chữa sai lầm đối với
dạng toán tỉ số phần trăm.
4. Phương pháp thống kê: thu thập thống kê số liệu, phân tích và xử lý số
liệu điều tra khảo sát.
5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: học hỏi, thu nhận và tổng kết kinh
nghiệm của những giáo viên đi trước để rút kinh nghiệm cho bản thân và
hoàn chỉnh kiến thức.
8. Cấu trúc luận văn
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Khách thể nghiên cứu
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Cấu trúc luận văn
B. NỘI DUNG

Chương 1. Cơ sở lý luận


không chủ định. Khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi tri giác ở HS
các lớp đầu tiểu học còn ít, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri
giác. Chẳng hạn khi cho các em tri giác một bức tranh rất đẹp, sau đó cất bức tranh đó
đi và yêu cầu các em vẽ lại thì thấy các em không nhận thấy được rất nhiều chi tiết.
Các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, dễ nhầm lẫn. Ví dụ:
Các em khó phân biệt cây mía với cây sậy, hình có năm cạnh với hình có sáu cạnh...
Tuy vậy, ta cũng không nên nghĩ rằng các em chưa có khả năng phân tích để tách các
dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó.
Ở HS tiểu học tri giác không chủ định vẫn chiếm ưu thế. So với trẻ mẫu giáo thì
thị giác của HS tiểu học nhạy bén hơn, độ nhạy đó tăng lên trong suốt thời kì học tiểu


6

học. Các em từ 7 – 10 tuổi đã biết phân biệt được những màu cơ bản, nhưng chưa phân
biệt được sắc điệu của mỗi loại màu. HS tiểu học nhạy cảm với các tác động từ bên
ngoài vì hoạt động của các hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế. Các em chưa
phân biệt chính xác được các sự vật giống nhau, đó là khả năng phân tích khi tri giác
còn yếu do trẻ có khuynh hướng đoán vội vàng
Ở các lớp đầu bậc tiểu học thì tri giác của các em thường gắn với những hành
động và hoạt động thức tiễn của các em. Vì vậy, tất cả các hình thức tri giác trực quan
bằng sự vật, bằng hình ảnh và bằng lời nói cần được sử dụng trong các giờ lên lớp ở
bậc tiểu học. K.Đ.Usinxki viết: “Khi bắt đầu học, trẻ em không chỉ cần hiểu điều mình
đọc, mà còn biết nhìn sự vật đúng mà tính, biết nhận thấy những đặc điểm của sự vật.
Không chỉ học suy nghĩ mà học cả quan sát nữa và thậm chí học quan sát trước khi học
suy nghĩ”.
Tri giác của HS tiểu học còn mang tính trực quan và mang tính cảm xúc nhiều.
Nên trong quá trình dạy học GV không chỉ dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn phải biết xem
xét sự vật, biết phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng. Không chỉ
dạy trẻ biết nghe mà còn dạy trẻ biết cách lắng nghe. Điều này không chỉ được thực

không sắp xếp lại để diễn đạt theo lời lẽ của mình.
Nhiều HS tiểu học còn chưa biết tổ chức ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng
sơ đồ logic và dựa vào các điểm tựa đề ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần
ghi nhớ, không biết chia tài liệu cần ghi nhớ ra từng phần nhỏ, không biết dùng sơ đồ,
hình vẽ... để ghi nhớ. Các em thường ghi nhớ một cách máy móc, ghi nhớ theo trang.
Nếu được hướng dẫn thì trẻ em biết cách ghi nhớ tài liệu một cách hợp lý, biết lập dàn
ý để ghi nhớ, khuynh hướng nhớ từng câu, từng chữ giảm dần, ghi nhớ ý nghĩa tăng
lên.
Ở HS tiểu học việc ghi nhớ các tài liệu trực quan hình tượng có nhiều hiệu quả
nhất. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này hiệu quả của việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ (cụ thể và
trừu tượng) tăng rất nhanh. Trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ nhất là các tài liệu từ
ngữ trừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững
chắc.
1.1.4. Tư duy


8

Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức
bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật hiện tượng cụ thể.
J.Piagiê cho rằng: “Tư duy của trẻ từ 7 – 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao
tác cụ thể”. Ví dụ: Trong các giờ toán đầu tiên ở bậc tiểu học, khi giải các bài toán HS
phải dùng que tính, dùng các ngón tay làm phương tiện tính toán... Có một số em
không biết cách học nên khi lên lớp 2 vẫn phải dùng đốt ngón tay hay vẫn phải nói
thành lời khi tính toán. Việc sử dụng những vật ở bên ngoài và dùng lời nói để tính
toán là cần thiết, nhưng GV cũng cần rèn luyện cho các em khả năng thực hiện phép
toán ở trong đầu (tính nhẩm). Ví dụ: Khi GV yêu cầu HS thực hiện phép tính sau:
(1250 + 15 : 0.5) – 11 x 12 : 0.25 = ? thì nhiều em vẫn thực hiện theo lối tư duy máy
móc. Với cách học như vậy không rèn luyện được kỹ năng tính toán cho các em.
Tư duy của HS tiểu học còn mang tính cảm xúc. Trẻ dễ xúc cảm với những đều

những tưởng tượng ngông cuồng, xa thực tế nhưng không làm hạn chế tính sáng tạo
của trẻ trong quá trình tưởng tượng.
1.1.6. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của HS tiểu học đã phát triển rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Do
nội dung học tập đã mở rộng, nên ngôn ngữ của các em vượt ra khỏi phạm vi những từ
sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng. Vấn đề học viết
đúng chính tả, đặc câu đúng ngữ pháp, giúp HS có thể lựa chọn một cách có ý nghĩa
những từ ngữ và các hình thức ngữ pháp để diễn đạt ý nghĩa của mình. HS tiểu học
chưa sử dụng tốt ngôn ngữ bên trong để học bài. Một số em còn nói ngọng, phát âm
sai, viết sai chính tả, sai ngữ pháp, câu rườm rà. Nhiệm vụ của GV là phải kịp thời sửa
chữa những sai sót trong các giờ học, nhất là những giờ tập đọc và ngữ pháp.
1.2. Đặc điểm của sự tư duy Toán học của HS tiểu học
Lứa tuổi tiểu học (6 – 7 tuổi đến 11 – 12 tuổi) là giai đoạn mới của phát triển tư
duy- giai đoạn tư duy cụ thể. Trong một chuẩn mực nào đó, hành động trên các đồ vật,
sự kiện bên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy. Các thao tác tư duy đã
liên kết với nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa hoàn thành tổng quát. HS có
khả năng nhận thức về cái bất biến và hình thành khái niệm bảo toàn, tư duy có bước
tiến rất quan trọng, phân biệt được phương tiện định tính với định lượng- điều kiện ban
đầu cần thiết để hình thành khái niệm “số”. Chẳng hạn: HS lớp 1 đã nhận thức cái bất
biến là sự tương ứng 1-1 không thay đổi khi thay đổi cách sắp xếp các phần tử (dựa


10

vào lớp các tập hợp tương đương), từ đó hình thành khái niệm bảo toàn “số lượng” của
các tập hợp trong lớp các tập hợp đó; phép cộng có phép toán ngược trong tập hợp các
số tự nhiên.
Học sinh cuối cấp học có những tiến bộ về nhận thức không gian như phối hợp
cách nhìn một hình hộp từ các phía khác nhau, nhận thức được các quan hệ giữa các
hình với nhau ngoài các quan hệ trong nội bộ một hình.

hay.
“Sai lầm của HS khi giải toán” có nghĩa là: điều trái với yêu cầu khách quan
(yêu cầu bài toán) hoặc lẽ phải (khái niệm, định nghĩa, tính chất, quy tắc, phương pháp
suy luận...), dẫn tới không đạt được yêu cầu của việc giải toán.
1.3.2. Ý nghĩa và tác dụng của việc sửa chữa sai lầm
Sửa chữa sai lầm có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển tư duy HS,
củng cố kiến thức kĩ năng của các em. Qua sửa chữa sai lầm, nhận thức đúng của HS sẽ
được củng cố chắc chắn hơn. Hiểu rõ những sai lầm mắc phải, HS sẽ có ý thức hơn
trong khi làm bài tập, đề phòng được những sai lầm khác trong học tập.
1.3.3. Nguyên nhân của những sai lầm và phương pháp sửa chữa
Sai lầm của HS biểu hiện muôn hình muôn vẻ và do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Theo Phạm Đình Thực, tác giả quyển Phương pháp dạy học toán tiểu học - Tập
hai của NXB Giáo dục (2009), trích trong tài liệu tham khảo [11, tr17 – 20]. Ta có thể
chia thành ba loại chủ yếu sau:
- Sai lầm do lơ đãng, thiếu thận trọng, chủ quan khi làm bài.
- Sai lầm do không nắm vững kiến thức.
- Sai lầm về ngôn ngữ.
1.3.3.1. Sai lầm do lơ đãng, thiếu thận trọng, chủ quan khi làm bài
Do sức chú ý chưa bền vững, dễ bị hoàn cảnh bên ngoài lôi cuốn, lúc làm bài
HS hay vội vàng, có khi làm cẩu thả, thiếu thận trọng, tính toán nhầm lẫn, bỏ sót các
đơn vị; có em chủ quan, làm xong không thử lại, không xem lại đã vội vàng nộp bài.
Để khắc phục những sai lầm đó, GV không những phải luôn luôn nhắc nhở HS
phải chú ý, thận trọng mỗi khi làm bài, mà còn phải rèn luyện cho HS những thói quen
cần thiết trong học tập toán. Lúc giảng dạy toán, GV phải thật gương mẫu, khi viết bài
trên bảng, khi trình bày các phép tính và bài toán. Tác phong của GV có ảnh hưởng đến


12

những thói quen của HS trong học tập. Khi sửa chữa những sai lầm đó, cần phân tích

13

Trong trường hợp HS không thể tự mình tìm ra sai lầm, không biết sai lầm từ
đâu, thì GV phải dùng phương pháp so sánh, cụ thể hóa để các em nắm vững nội dung
bài toán và phương pháp giải.
Ví dụ: Xét bài toán “Một em đếm từ cửa phòng bưu điện đến cửa trường thấy ở
một bên đường có 24 cây. Biết rằng các cây đều cách nhau 15m. Hỏi khoảng cách từ
gốc cây từ phòng bưu điện đến gốc cây ở cửa trường dài bao nhiêu?”. Có nhiều em làm
sai như sau:
15 x 24 = 360 (m)
Đáp số: 360m.
(Còn phải làm một phép tính nữa mới đúng 360 - 15 = 345 (m)). Khi chữa bài
này, GV có thể đưa ra bài toán cùng loại nhưng đơn giản hơn để các em so sánh: "Từ
đầu lớp đến cuối lớp có 4 cột. Cột nọ cách đều cột kia là 3m. Hỏi lớp học dài bao
nhiêu?" và vẽ sơ đồ lên bảng. Bằng cách đó HS có thể suy ra cách giải đúng bài toán
trên, tìm ra sai lầm trong cách giải đã nêu.
Phương pháp sửa chữa sai lầm như vậy có tác dụng phát triển tư duy rất lớn và
gây được một ấn tượng sâu sắc đối với HS, vì rằng các em chỉ có thể nhớ kĩ cách sửa
chữa những sai lầm đó thông qua sự hoạt động tích cực của mình, đồng thời nó đem lại
nhiều hứng thú đối với các em.
1.3.3.3. Sai lầm về ngôn ngữ
Nguyên nhân của những sai lầm này do các em không hiểu rõ ý nghĩa của các
từ, dùng từ không chính xác, câu rườm rà, thiếu ý, thiếu điều kiện (nhất là khi phát biểu
những quy tắc về đổi số đo chiều dài, diện tích, thể tích, từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ và
ngược lại, hoặc khi phát biểu các quy tắc về tính nhẩm, khi trả lời các bài toán,...). Ví
dụ có HS nói: “Khi đổi số đo chiều dài từ đơn vị lớn ra đơn vị nhỏ thì đơn vị nhỏ giảm
từ đơn vị kia đi 10 lần”. Đúng ra phải nói “Muốn đổi số đo chiều dài từ đơn vị lớn ra
đơn vị nhỏ liền kề, ta gấp số đó lên 10 lần”.
Vấn đề rèn luyện ngôn ngữ toán học là một trong những yêu cầu của môn toán.
Người GV không những phải dạy cho các em biết làm tính đúng, tính nhanh mà còn

và hạn chế của bản thân để có cách khắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học toán.
Qua hoạt động giải toán, HS rèn những đức tính và phong cách làm việc trong
khoa học như ý chí khắc phục và vượt qua khó khăn, lòng say mê tìm tòi, sáng tạo


15

trong học tập. Đồng thời, thông qua hoạt động giải toán hình thành cho HS thói quen
xét đoán vấn đề có căn cứ, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuối cùng, từng
bước hình thành và rèn cho HS thói quen suy nghĩ độc lập, linh hoạt. Từ đó, hình thành
khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề một cách chặt chẽ và mạch lạc.
Qua hoạt động giải toán, HS được củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng về
tiếng Việt, tự nhiên và xã hội, giáo dục môi trường,...
Khi giải toán, ta quan tâm đến hai vấn đề lớn: nhận dạng bài toán và lựa chọn
phương pháp thích hợp để giải. Thực hành giải toán là rèn luyện kĩ năng cho hai hoạt
động đó.
1.5. Kết luận chương 1
Qua việc đưa ra các cơ sở lý luận, chương 1 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
hoạt động giải toán cho HS tiểu học, phần nào giúp GV nắm được những đặc điểm tâm
lí cơ bản của trẻ. Mặt khác, việc tìm hiểu những lí luận về sửa chữa sai lầm đã hỗ trợ
GV có cơ sở để tìm ra nguyên nhân và đề ra những biện pháp thích hợp nhằm khắc
phục từng sai lầm của HS trong hoạt động giải toán.


16

CHƯƠNG 2. MỘT SỐ SAI LẦM CỦA HỌC SINH LỚP 5
KHI GIẢI TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM
VÀ CÁC BIỆN PHÁP SỬA CHỮA SAI LẦM

- Mối quan hệ giữa tỉ số phần trăm với phân số thập phân, số thập phân và phân số.
- Giải các bài toán về tỉ số phần trăm:
+ Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
+ Tìm giá trị một số phần trăm của một số đã biết.
+ Tìm một số biết một giá trị phần trăm của số đó.
Các dạng bài toán về tỉ số phần trăm không được giới thiệu một cách tường minh
mà được đưa vào chủ yếu từ tiết 74 đến 79, sau đó học sinh tiếp tục được củng cố thông
qua một số bài tập trong các tiết luyện tập trong phần ôn tập cuối năm học.
Các bài học cụ thể thuộc dạng Tỉ số phần trăm trong Toán lớp 5:
Tuần

15

16

17

Tiết số

Tên bài

71

Luyện tập.

72

Luyện tập chung.

73


81

Luyện tập chung

82

Luyện tập chung

83

Giới thiệu máy tính bỏ túi

84
85

Sử dụng máy tính bỏ túi để giải toán về tỉ số
phần trăm
Hình tam giác


18

2.1.3. Quá trình hình thành khái niệm ban đầu về tỉ số phần trăm ở tiểu học
Ở SGK Toán 5, khái niệm tỉ số phần trăm được giới thiệu lần lượt như sau:
- Nêu bài toán (ví dụ 1 trang 73), yêu cầu HS tìm tỉ số của diện tích trồng hoa hồng và
diện tích vườn hoa.
Vì HS đã học về tỉ số và đã biết lập tỉ số của hai số đo đại lượng cùng loại, cùng đơn vị
đo (ở Toán 4) nên HS tìm được tỉ số của diện tích trồng hoa hồng và diện tích vườn
hoa là 25 : 100 hay

chưa phải là tỉ
400

số phần trăm. HS phải chuyển tỉ số vừa lập được thành tỉ số phần trăm:
80
20
=
= 20%
400
100

- GV có thể nêu câu hỏi để khi trả lời HS nhận biết được ý nghĩa của tỉ số phần trăm.
- GV hướng dẫn HS làm các bài tập để củng cố về:
+ Kĩ năng lập tỉ số phần trăm (của hai số đo đại lượng cùng loại, cùng đơn vị).


19

+ Nhận biết ý nghĩa cụ thể của tỉ số phần trăm trong từng tình huống thực tế.
2.1.4. Các dạng bài toán cơ bản về tỉ số phần trăm
Các bài toán về “tỉ số phần trăm” thực chất là các bài toán về “tỉ số”. Do đó
trong toán lớp 5, các bài toán về tỉ số phần trăm được xây dựng theo ba bài toán cơ bản
về tỉ số:
- Bài toán dạng 1: Tìm tỉ số phần trăm của hai số
Ví dụ: Trường Tiểu học Vạn Thọ có 600 HS, trong đó có 315 HS nữ. Tìm tỉ số phần
trăm của số HS nữ và số HS toàn trường.
Bài giải
Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS toàn trường là:
315 : 600 = 0,525
0,525 = 52,5%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status