TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO
VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP DẠY CÁC CHỦ ĐIỂM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 5
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Ths. Trịnh Thị Hương
Nguyễn Thụy Thi Minh
MSSV: 1110312
Lớp Sp. Tiểu học K37
Cần Thơ, 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Trịnh Thị Hương - người
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô giảng dạy trong bộ môn Toán,
trong khoa Sư phạm và các thầy cô giảng dạy trong trường Đại học Cần Thơ đã tận
Mở rộng vốn từ
NXB
Nhà xuất bản
PCTHĐTQ
Phó chủ tịch hội đồng tự quản
SGK
Sách giáo khoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu .............................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 4
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 5
6. Đóng góp của luận văn ........................................................................................ 6
7. Cấu trúc của luận văn .......................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP
NÂNG CAO VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH
LỚP 5 ..................................................................................................................... 7
1.1 Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 7
1.1.1 Một số nguyên tắc và quan điểm xây dựng chương trình Tiếng Việt ............... 7
1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt ta vốn giàu và đẹp. Đối với mỗi người Việt Nam thì không có một
ngôn ngữ nào khác hay và đẹp hơn tiếng mẹ đẻ của mình. Ngày nay, trước những
biến đổi to lớn của đất nước, trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là
đội ngũ tri thức là phải luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ sự giàu có và trong sáng của
ngôn ngữ dân tộc, để tiếng Việt mãi mãi xứng đáng với vai trò là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất của cộng đồng người Việt Nam, là công cụ bảo tồn và phát
triển nền văn hoá dân tộc. Hơn nữa, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh
tế, văn hoá, giáo dục..., những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói
chung đòi hỏi phải có sự đổi mới trong việc dạy - học Tiếng Việt trong nhà trường.
Việc đưa Tiếng Việt vào chương trình giáo dục đã được nhà nước ta chú trọng ngay
từ những ngày đầu độc lập. Giữ gìn ngôn ngữ dân tộc cũng là một cách thể hiện
lòng yêu nước của mỗi người.
Ngày nay, trong chương trình học ở đất nước ta, Tiếng Việt đã trở thành một
môn học quan trọng, đã khẳng định được vị trí cao và giá trị xã hội to lớn trong đời
sống khoa học và văn hoá Việt Nam. Việc dạy và học môn Tiếng Việt ở cấp tiểu
học lại càng quan trọng hơn hết bởi lẽ đây là cấp học đầu tiên trong cuộc đời mỗi
người. Có học tốt môn này từ những lớp đầu thì mới mong có cơ sở để học tốt nó ở
những cấp học sau và học tốt các môn học khác. Bên cạnh sự thay đổi của các
phương pháp dạy và học hiện đại, ít lý thuyết nhiều thực hành thì nhu cầu xây dựng
hệ thống bài tập càng cần thiết trong quá trình học ở các em. Môn Tiếng Việt ở phổ
thông (trong đó có môn Tiếng Việt lớp 5) trước đây là một môn học độc lập nhưng
từ năm 2004 - 2005 trở lại đây được dạy tích hợp cùng với các phân môn khác.
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 có các phân môn: Tập đọc, kể chuyện,
tập làm văn, chính tả, luyện từ và câu. Yêu cầu dạy tích hợp như vậy ít nhiều gây
khó khăn, bỡ ngỡ cho cả người dạy lẫn người học. Thực tế này đòi hỏi ngoài bộ
sách giáo khoa dùng trong nhà trường mang tính pháp lí, cần phải có thêm những
cuốn sách tham khảo dưới nhiều hình thức cho giáo viên và học sinh để góp phần
hệ thống mà là từng bài tập riêng lẻ, theo từng phân môn, chẳng hạn như:
1. Đặng Thùy Dương – Nguyễn Khánh Hà – Nguyễn Mai Phương – Nguyễn
Tú Phương (2014), Bài tập bổ trợ và nâng cao Tiếng Việt lớp 5, NXB Dân trí (Tập
1 + Tập 2).
2
Nội dung cuốn sách đưa ra thêm một số bài tập mở rộng và nâng cao trên cơ
sở "chuẩn", giúp các em có thêm hứng thú làm bài, nâng cao trình độ. Cuốn sách
gồm hai phần: Phần I gồm các dạng bài tập tự luận và các bài trắc nghiệm, phần II
là những gợi ý, đáp án giúp các em có thể tham khảo sau khi đã hoàn thành các bài
tập ở phần một. Hạn chế của bài tập là ngữ liệu được lấy từ SGK cũng như xây
dựng bài tập chưa theo hệ thống tích hợp, liền mạch mà xây dựng bài tập theo từng
phân môn cũng như từng chủ điểm riêng lẻ.
2. Lưu Đức Hạnh – Lê Phương Nga – Trịnh Vĩnh Long (đồng chủ biên)
(2009), Ôn tập – kiểm tra đánh giá Tiếng Việt 5 (Theo chuẩn kiến thức, kĩ năng),
NXB giáo dục Việt Nam (Tập 1 + Tập 2).
Trong quyển sách này, các tác giả đã đề cập các vấn đề thiết kế các bài tập
tích hợp với nhiều hình thức trắc nghiệm và tự luận giữa các phân môn với nhau
theo từng tuần học kèm theo cách giải và cách chấm điểm từng bài cụ thể. Đóng
góp của công trình này là bổ sung cho GV rất nhiều bài tập tham khảo, bên cạnh đó,
phụ huynh và các em HS cũng có thể dùng sách để đo kiến thức của các em. Tuy
nhiên, ngữ liệu những bài tập đưa ra ở đây đều được lấy từ SGK Tiếng Việt 5 nên
đều là những bài tập quen thuộc với cả GV và HS, hơn nữa, chúng chưa có tính hệ
thống.
3. Ngô Thị Yến – Cao Thị Hằng (2012), Tiếng việt nâng cao tiểu học lớp 5,
NXB Dân Trí.
Quyển sách này chỉ đi sâu vào 2 phân môn là Luyện từ và câu và Tập làm
văn. Là sách chuyên dùng để các em tự đọc và tự học hằng ngày, nên các bài học và
bài tập đều bám sát vào từng tiết, từng tuần theo SGK Tiếng Việt 5. Các em sẽ nhận
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Chương trình Tiếng Việt lớp 5, với có 10 chủ điểm được sắp xếp theo trình
tự sau:
Chủ điểm 1: Việt Nam – Tổ quốc em.
Chủ điểm 2: Cánh chim hòa bình.
Chủ điểm 3: Con người với thiên nhiên.
Chủ điểm 4: Giữ lấy màu xanh.
Chủ điểm 5: Vì hạnh phúc con người.
Chủ điểm 6: Người công dân.
Chủ điểm 7: Vì cuộc sống thanh bình.
4
Chủ điểm 8: Nhớ nguồn.
Chủ điểm 9: Nam và nữ.
Chủ điểm 10: Những chủ nhân tương lai.
Luận văn cũng chỉ dừng lại ở việc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao và trò
chơi học tập theo 10 chủ điểm trên.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi
học tập theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 5.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đây:
5.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng internet chúng tôi tiến
hành thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài nghiên
cứu.
5.2 Phương pháp điều tra
Việt lớp 5 trong nhà trường.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học
tập theo chủ điểm cho HS lớp 5
Chương 2. Thiết kế hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo chủ điểm
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG
BÀI TẬP NÂNG CAO VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM
CHO HỌC SINH LỚP 5
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số nguyên tắc và quan điểm xây dựng chương trình Tiếng Việt
1.1.1.1 Các nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt
Các nguyên tắc được sử dụng để xây dựng chương trình Tiếng Việt gồm có:
Nguyên tắc khoa học, nguyên tắc sư phạm, nguyên tắc thực tiễn.
a) Nguyên tắc khoa học
- Cấu trúc nội dung môn học là sự tiếp nối kiến thức của các lớp trước. Trong
sách Tiếng Việt lớp 5 ta nhận thấy có rất nhiều kiến thức lớp trước được đề cập lại
nhưng với mức độ và yêu cầu cao hơn.
Ví dụ: Ở phân môn tập làm văn lớp 4, học sinh được học viết đoạn văn miêu
tả và được mở rộng thành bài văn miêu tả ở phân môn tập làm văn lớp 5.
- Xác định tư tưởng chủ đạo khuynh hướng mới của sự phát triển khoa học
và có thể dạy khoa học cho học sinh Tiểu học nên trong chương trình đưa vào nhiều
bài như “ Tiếng đàn ba-lai-ca trên sông Đà”, “ Một chuyên gia máy xúc”. Những
bài này đề cập về quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giúp các em
thấy được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật trong cuộc sống hôm nay. Đồng
quả học tập cao nhất. Và thay đổi một số nội dung trong trương trình SGK đã thể
hiện được sự đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra. Trong điều kiện xã hội đang phát triển
nhanh chóng như hiện nay, HS có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, được chuẩn bị
tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, nhu cầu và hứng thú học tập cũng thay đổi theo
chương trình đổi mới hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu đó.
- Những kiến thức SGK đưa ra phù hợp với HS và giúp các em có thể áp
dụng vào thực tiễn.
Ví dụ: Trong phân môn Tập làm văn có bài: “Lập biên bản cuộc họp”.
- Có những nội dung bài cung cấp kiến thức lịch sử, phong tục, tập quán, có
thể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của các em.
8
Ví dụ: Bài “Luật tục xưa của người Ê-đê”. (SGK trang 56-Tập 2)
Bài “Phong cảnh đền Hùng”. (SGK trang 68-Tập 2)
1.1.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình Tiếng Việt được xây dựng dựa trên các quan điểm sau: Quan
điểm giao tiếp, quan điểm tích hợp, quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh.
a) Quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và
phương pháp dạy học.
- Về nội dung, thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và
câu, Chính tả, Tập làm văn, môn Tiếng Việt tạo ra những môi trường giao tiếp có
chọn lọc để học sinh MRVT theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát
triển những kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.
- Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được hình thành thông qua
nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự
nhiên.
Việc dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp được thể hiện về cả phương
pháp và nội dụng dạy học:
Tích hợp chương trình (progam intergraytion) được hiểu là sự liên kết, hợp
nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung,
gần gũi với nhau nhằm làm giảm bớt được những phần kiến thức trùng nhau, tạo
điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Thuật ngữ tích hợp có nội hàm chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác
giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một (hoặc một số)
văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn. Trong SGK Tiếng Việt lớp 5 ta thấy
quan điểm tích hợp thể hiện rõ hầu hết trong các tiết học. Mỗi tiết học không chỉ
cung cấp cho HS kiến thức mà thông qua đó còn giáo dục cho trẻ nhiều mảng kiến
thức khác nhau, là sự kết hợp lồng ghép nhiều nội dung, học đi đôi với hành nhằm
thực hiện mục đích giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đầy đủ Đức – Trí – Thể - Mĩ –
Lao động. Tích hợp có 2 dạng là tích hợp ngang (đồng quy) và tích hợp dọc (đồng
tâm).
10
- Xét về mặt tích hợp ngang:
+ Được thể hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập có liên hệ chặt chẽ
với nhau, tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học (trích
đoạn những tác phẩm văn học lớn như: Hạt gạo làng ta, Ê-mi-li, con…, Đất nước,
Bầm ơi,..), những bài viết về vẻ đẹp thiên nhiên và giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường (Sắc màu em yêu, Bài ca về trái đất, Kì diệu rừng xanh…), con người và xã
hội theo hướng đồng qui với mười chủ điểm: Việt Nam – Tổ quốc tôi, Cánh chim
hòa bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người,
Người công dân, Vì cuộc sống hòa bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân
tương lai.
+ Các kiến thức tích hợp với kĩ năng, các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết kết
hợp với nhau. Các phân môn tuy cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ khác nhau
nhưng cũng tập trung lại quanh trục chủ điểm và các bài học để thể hiện nội dung
chủ điểm đó.
chủ động nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh. SGK không trình bày những
kiến thức như là những kết quả có sẵn mà đòi hỏi HS phải đầu tư tìm tòi, suy nghĩ
để chiếm lĩnh kiến thức thông qua những câu hỏi gợi mở bắt đầu là tại sao, vì sao,
theo em… Bắt buộc HS phải trải qua quá trình động não mới có được kiến thức.
Nhìn chung, ta thấy SGK Tiếng Việt lớp 5 trình bày tranh ảnh đẹp nội dung phong
phú, câu hỏi mềm dẻo linh hoạt đầy sức hút gây nhu cầu học tập cho học sinh.
Chương trình Tiếng Việt lớp 5 xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm
hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động tự tìm ra kiến thức và phát triển các kĩ năng
cũng như khả năng tư duy.
Quan điểm tích cực hóa hoạt động của HS thể hiện qua các hoạt động nhóm,
tự phân vai và đóng kịch, diễn lại đoạn đối thoại, làm bài tập cá nhân, khai thác vốn
từ, kể chuyện bằng lời của học sinh …
1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy – học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy - học
12
Như GS.TS Lê A đã khẳng định: "Trong khoa học giáo dục và lí luận dạy
học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất về
thuật ngữ phương pháp dạy học".
Có nhiều quan niệm về phương pháp dạy học, có thể dẫn ra một vài định
nghĩa phương pháp dạy học như sau:
"Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và
của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo
viên sự hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh, nhằm thực hiện tốt
những nhiệm vụ dạy học theo hướng mục tiêu".
- Kai - ro VLA lại quan niệm: "Phương pháp dạy học là cách thức làm việc
giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng
và kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực".
phẩm riêng dưới nhiều hình thức thích hợp.
- Bước 4: Đánh giá chất lượng lời nói trong sự đối chiếu với mẫu.
Dựa vào đặc điểm của mẫu, GV sẽ đánh giá kết quả luyện tập của HS.
b) Phương pháp phân tích ngôn ngữ
- Khái niệm: Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp trong đó GV
hướng dẫn HS tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, trên cơ sở đó rút ra những nội
dung lí thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ.
- Cơ sở khoa học: Dựa trên đặc điểm, quy luật hoạt động của Tiếng Việt để
tổ chức cho HS nhận thức về các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu.
- Sự thể hiện của phương pháp: Sự thể hiện của phương pháp nằm ở chính
quá trình phân ngữ liệu ra thành từng bộ phận theo nguyên tắc cấp bậc để phân tích.
- Quy trình vận dụng: Gồm 4 bước:
+ Bước 1: Cung cấp ngữ liệu hoặc cung cấp hiện tượng ngôn ngữ cần phân
tích. Ngữ liệu phải đảm bảo tính đặc trưng, chuẩn mực của ngôn ngữ, được mọi
người thừa nhận không gây tranh cãi; ngắn gọn, phù hợp với tâm lí tiếp nhận của
học sinh.
+ Bước 2: Giáo viên hướng dẫn HS quan sát, phân tích ngữ liệu theo định
hướng của nội dung bài học thông qua một hệ thống câu hỏi gợi ý có tính định
hướng cho các em.
+ Bước 3: Khái quát những điều đã phân tích thành lí thuyết để cung cấp cho
HS. Từ kết quả của việc phân tích trên một ngữ liệu cụ thể, GV khái quát nâng lên
thành nội dung lí thuyết cần ghi nhớ.
+ Bước 4: Củng cố và vận dụng lí thuyết đã học vào việc luyện tập phân tích
một số hiện tượng ngôn ngữ.
* Lưu ý: Để giúp HS hiểu sâu và củng cố nội dung lí thuyết vừa học, GV cần
cho HS luyện tập thông qua hệ thống bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.
c) Phương pháp giao tiếp
15
e) Phương pháp thực hành
16
Hình thức cốt lõi để thực hiện phương pháp thực hành là ra bài tập và làm bài
tập. Phương pháp luyện tập thực hành giúp cho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu
sâu sắc khái niệm hơn.
Ngoài ba phương pháp dạy học vừa trình bày, dạy Tiếng Việt ở cấp Tiểu học
còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thuyết trình, phương pháp
đàm thoại...
Tóm lại, nói đến dạy - học ta không thể không bàn đến phương pháp dạy học.
Có nhiều quan niệm về phương pháp dạy học cũng như có nhiều phương pháp dạy
học khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu thế riêng nhưng cũng có những
hạn chế nhất định khi vận dụng trong dạy học tiếng. Hạn chế của phương pháp phân
tích ngôn ngữ là sự trừu tượng, phức tạp; Phương pháp giao tiếp là sự tiêu tốn một
lượng thời gian khá lớn; Phương pháp luyện theo mẫu là sự nhận thức nhiều khi
mang tính chất cảm tính ở học sinh. Vì vậy, chúng ta cần biết phối hợp các phương
pháp này khi sử dụng trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học sao cho phù hợp với
từng nội dung bài học.
Các bước trong mỗi quy trình cần được vận dụng một cách linh hoạt và sáng
tạo. Tuỳ thuộc vào từng tình huống, nội dung dạy học và đối tượng dạy học cụ thể,
GV linh hoạt rút gọn hoặc mở rộng triển khai các bước theo quy trình trên cơ sở
đảm bảo mục tiêu của bài học.
1.1.3 Tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học Tiếng Việt bằng hệ thống
bài tập và trò chơi học tập
1.1.3.1 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập và trò chơi học tập trong dạy học
Tiếng Việt ở tiểu học
Bài tập có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học
tiếng Việt nói riêng. Nó là phương tiện hiệu quả không thể thay thế được trong việc
giúp HS hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ. Thông qua bài tập có thể phát
Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thức dạy
học thay đổi không khí lớp học, GV vẫn cho HS nắm bắt mọi nội dung bài học
trong tâm thế thoải mái, tự giác cao. Trò chơi góp phần đổi mới phương pháp dạy
học. Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là giải pháp, là cơ hội thuận lợi
nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện để trẻ phát triển tâm lực,
thể lực, trí lực một cách tổng hợp. [4, tr14]. Trò chơi giúp cho HS phát triển thêm
những điều mới mà các em đã tiếp cận trong SGK, luyện tập những kĩ năng thao tác
18
mà các em được học tập. Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống
khác nhau buộc mình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những
điểm mạnh, điểm yếu, những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của bản
thân. Tổ chức trò chơi khoa học hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể chất một
cách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám đông. Đặc biệt sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát triển tư duy khả năng
điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển chuẩn xác. Ngoài ra, sân
chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cần thiết: Kĩ năng tổ chức, kĩ
năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh giá...
Việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực, góp
phần tạo không khí hào hứng thoả tâm sinh lí trẻ, thúc đẩy tính tích cực hoạt động
sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái.
1.1.3.2 Mục tiêu của bài tập
Mục tiêu là cái đích mà thầy trò cần hướng tới trong quá trình dạy học nói
chung và quá trình thực hiện bài tập Tiếng Việt nói riêng. Mục tiêu dạy học chi phối
cả quá trình dạy học, từ nội dung chương trình, phương pháp dạy học đến cách đánh
giá kết quả học tập.
Trong thực tế, giáo viên chưa chú trọng đúng mức việc xác định mục tiêu
dạy học trên từng tiết học, từng bài tập nên đã bỏ sót nội dung dạy học hoặc triển
khai bài dạy không đúng hướng dẫn đến không xử lí linh hoạt quá trình dạy học,
vận động biến đổi.
+ Luôn coi trọng các yếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại để dấu ấn trong sử
dụng ngôn ngữ như: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp…
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về chương trình Tiếng Việt lớp 5
1.2.1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt
a) Đối tượng
20