TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
BÙI THỊ PHƢƠNG ANH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
BÙI THỊ PHƢƠNG ANH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ LAN ANH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 6
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
7. Cấu trúc đề tài............................................................................................ 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄNTRONG
VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮCNGHIỆM
KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC LỚP 4 ............................................................................................ 8
1.1. Cơ sở lí luận .......................................................................................... 8
1.1.1. Một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá ....................................... 8
1.1.2. Một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
mônTiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới .................................... 18
1.1.3. Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học ............................................................................................................ 23
1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................... 24
1.2.1. Khảo sát .......................................................................................... 24
1.2.2. Nhận xét kết quả khảo sát .............................................................. 29
1.3. Vài nét về trắc nghiệm khách quan .................................................. 31
1.3.1. Khái niệm trắc nghiệm khách quan ................................................ 32
1.3.2. Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan .......................... 32
1.3.3. Vai trò của trắc nghiệm khách quan trong dạy học ........................ 33
1.4. Phân loại trắc nghiệm khách quan ................................................... 34
điều này đã làm cho các em linhhoạt hơn, thực tế hơn, hiểu biết nhiều hơn. Từ
thực tiễn đó đòi hỏingành Giáo dục và Đào tạo phải có những đổi mới nhất
định.
Đứng trước nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,việc làm
này đã đem lại cho giáo dục nước ta một sự thay đổi đáng kể, đặc biệt là
cải cách giáo dục trong nhà trường Tiểu học.
Giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Mục tiêu của giáo dục tiểu học là “Giúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (theo Điều 23 Luật
Giáo dục –1998). Vì vậy, giáo dục tiểu học đã trang bị những cơ sở ban đầu
quan trọng nhấtcho sự phát triển toàn diện của người công dân: có trí thức, có
tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ và sáng tạo.
Mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên rất vô tư trong sáng.
Tư duy của các em chủ yếu là tư duy trực quan cụ thể, trong các em luôn tiềm
tàng khả năng phát triển, điều quan trọng là nhà trường phải biết cách khơi
dậy và phát triển đầy đủ những tiềm năng đó của mỗi học sinh.
Hiểu được tầm quan trọng đó nên mục tiêu khi dạy các môn học đều
được chú trọng nhằm phát triểntoàn diện nhân cách cho trẻ. Đặc biệt đối với
môn Tiếng Việt, đây là môn họcgiúp cho học sinh phát triển các kỹ năng
1
nghe, nói, đọc, viết. Giúp các em đọcthông viết thạo, có một vốn từ phong
phú cũng như có những kiến thức văn họcnhất định, phục vụ cho học tập và
lao động sau này để các em thực sự trở thànhnhững chủ nhân tương lai của
đã soạn thảo cuốn “Các trắc nghiệm và đo lường trí tuệ” nhằm sử dụngtrắc
nghiệm vào việc đo trí thông minh, năng khiếu, hướng nghiệp và được
ápdụng trong phân tích thống kê.
Cũng trong thời kỳ này tạiPháp vào năm 1905 nhà tâm lý học A.Binet
đã cộng tác với bác sĩ T.Simon xâydựng trắc nghiệm trí tuệ của trẻ từ 3 đến
15 tuổi với bộ test “chọn lọc các trẻ emthiểu năng” (1908).
Trắc nghiệm Binet - Simon được đánh giá rất cao vì nómang tính chuẩn
mực về phương pháp, là trắc nghiệm được chuẩn hóa đầu tiên,không chỉ phản
ánh ở nội dung trắc nghiệm mà còn phản ánh ở thủ tục thực hiệnvà cách xử lý
những tài liệu thu được. Với bộ trắc nghiệm này đã đóng góp thêm cho nước
Pháp một nền tự hào về ngành khoa học nghiên cứu.
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) là một chương trình
đánh giá có quy mô rộng lớn, tập trung đánh giá năng lực Toán học, Khoa học
và Đọc hiểu của học sinh. Có thể nói PISA đã thể hiện một cách sâu sắc và rõ
nét 3 đặc trưng cơ bản của xu hướng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theohướnghiệnđại. Bám sát đặc trưng này, tinh thần thiết kế câu hỏi PISA tập
trung đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh, xem xét mức độ “Hiểu, sử
dụng, phản ánh và liên kết các văn bản nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân,
phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội”.
Ngày nay, ở nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật, Thái Lan, Trung
Quốc có các dịch vụ tiêu chuẩn hoá để tuyển sinh, với nền tảng tri thức là kiến
thức phổ thông trung học. Đề thi được soạn hoàn toàn hoặc chủ yếu là trắc
nghiệm tiêu chuẩn hoá: tổ chức thi thường thống nhất theo quy mô cả nước.
3
2.2. Ở Việt Nam
Từ đầu những năm 70, đã có một số công trình nghiên cứubước đầu
vận dụng phương pháp này vào kiểm tra kiến thức học tập của họcsinh chủ
đại học, Bộ giáo dục và Đào tạo cùng các trường Đại học đã tổ chức các cuộc
hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá
của sinh viên trong nước và trên thế giới, các khóa tập huấnvà cung cấp
những hiểu biết cơ bản về đánh giá giáo dục và các phương pháp trắc nghiệm
khách quan.
Ở nước ta, điểm thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm
khách quan đã được tổ chức đầu tiên tại trường Đại học Đà Lạt tháng 7 năm
1996 và đã thành công.
Như vậy, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các
nước phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và được
đánh giá cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm
khách quan còn khá mới mẻ và hạn chế nhất là ở các trường phổ thông. Khi
công việc đó thành công hứa hẹn một sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp
trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam.
Tuy đã có một số chuyên đề và công trình nghiên cứu về kiểm tra đánh
giábằng hình thức trắc nghiệm khách quan môn Toán và môn Tiếng Việt.
Nhưng chưa có tác giả nào xây dựng cụ thể về “Hệ thống bài tập trắc nghiệm
khách quan trong kiểm tra đánh giá”học sinh Tiểu học để từ đó phát triển
những kĩ năng (logic, ngôn ngữ, phân tích, kĩ năng sống…) của các em.
Nhữngtài liệu trên là cơ sở lí luận hết sức quý giá và là minh chứng
mang tính chất gợiý, cung cấp cho chúng tôi những thông tin và kĩ năng cần
thiết để xây dựng nênkhóa luận này.
5
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm kiểm tra đánh giá
kết quả học tập phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
đánh giá phân môn Tập đọc lớp 4 và thể nghiệm.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄNCỦA VIỆC XÂY
DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮCNGHIỆM KHÁCH
QUAN TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá
1.1.1.1. Khái niệm về kiểm tra
Kiểm tra là theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học
nhằmthu thập những thông tin cần thiết cho đánh giá. Kiểm tra cho biết
những thôngtin về kết quả dạy của thầy và quá trình học của trò, để từ đó có
quyết định cho sựđiều khiển tối ưu của cả thầy và trò. Học sinh học tốt hơn
nếu thường xuyên đượckiểm tra và được đánh giá một cách công bằng,
nghiêm túc và đạt kết quả tốt.Vì vậy, kiểm tra là công cụ, là phương tiện chủ
yếu để đánh giá chất lượng học tập của học sinh. Kiểm tra phù hợp với mục
tiêu chương trình, đảm bảo tính toàn diện, khách quan, chính xác, công khai
và kịp thời, nhận biết được sự phânhóa chất lượng học sinh.Theo một số tài
liệu đã nghiên cứu thì kiểm tra thường được tiến hành theoba hình thức sau:
* Kiểm tra thường xuyên là tiến trình thu thập thông tin về việc học tập
của học sinh một cách liên tục trong lớp học. Các hình thức kiểm tra thường
xuyên dùng để đánh giá những phương diện cụ thể hay những phần của
chương trình học. Kết quả của kiểu kiểm tra này được dùng để theo dõi sự
tiến bộ của người học trong quá trình giảng dạy và cung cấp những phản hồi
liên tục cho học sinh và giáo viên, nhằm giúp giáo viên có những biện pháp
điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy, cũng như giúp học sinh nhận ra những tiến
giáo dụccho xã hội. Cũng là động lực để đổi mới phương pháp dạy và học sao
cho phùhợp với mục tiêu đặt ra. Đánh giá trong giáo dục cần bám sát mục tiêu
9
trongtừng giai đoạn (từng bài, từng chương, từng học kỳ, từng năm học...) mới
phảnánh được chất lượng giáo dục nói chung, ở mỗi môn học nói riêng.
Để tìm hiểu thêm về đánh giá ta cần tìm hiểu một số loại đánh giá kết
quảhọc tập của học sinh như sau:
Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy một chương hay một
vấn đề quan trọng nào đó, giúp giáo viên nắm được kiến thức có liên quan
đến học sinh, những điểm học sinh nắm vững, những lỗ hổng cần bổ
khuyết,…đểquyết định cách dạy cho thích hợp.
Đánh giá từng phần được tiến hành trong giảng dạy nhằm cung cấp
thôngtin ngược cho giáo viên và học sinh, để có cách điều chỉnh thích hợp
trong quátrình dạy và học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực
hiện chươngtrình một cách vững chắc.
Đánh giá tổng kết tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng
những kỳthi tổng kết, đối chiếu với mục tiêu. Dựa vào định hướng trong đánh
giá mà giáo viên đưa ra những quyết định về biện pháp cụ thể để giúp đỡ học
sinh trong quá trình học tập.
1.1.1.3. Mục đích của kiểm tra đánh giá
Như chúng ta đã biết kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng của quá
trình dạy học. Nó nhằm thực hiện những mục đích sau đây:
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh giúp giáo viên có một
cáinhìn đúng đắn về kết quả học tập cũng như xác định được những nguyên
nhân cơ bản gây khó khăn cho học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức. Trên
cơ sởđánh giá giáo viên điều chỉnh hoạt động học của học sinh và hướng học
sinh tựđiều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học cho chính bản thân mình.
thuộc vớimọi học sinh. Đồng thời ngôn ngữ sử dụng trong bài kiểm tra cần
đơn giản, rõràng, phù hợp với trình độ của học sinh, bài kiểm tra không chứa
những hàm ýđánh đố học sinh.
* Đánh giá đảm bảo tính toàn diện: trong kiểm tra đánh giá tính toàn
diệnluônđược coi trọng. Vì vậy một yêu cầu đặt ra đối với các bài kiểm tra là
11
phảiđánh giá được đầy đủ các mặt, các khía cạnh cần đánh giá theo yêu cầu và
mụcđích đề ra, tránh sự đánh giá phiến diện dẫn đến kết quả thiếu chính xác.
Do đó, để đảm bảo được tính toàn diện cần phải chú ý đến cáckhía cạnh
sau:
- Nội dung kiểm tra đánh giá cần bao quát được toàn bộ các nội dung
trọng tâm.
- Mục tiêu đánh giá cần phải bao quát nhiều loại kiến thức, kỹ năng và
các mức độ nhận thức khác nhau.
- Công cụ đánh giá cần đa dạng.
- Công cụ kiểm tra không chỉ nhằm mục đích đo lường khả năng nhớ
lại, mà còn nhằm đánh giá khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh
giá.
- Công cụ kiểm tra không chỉ đánh giá kiến thức, kỹ năng môn học mà
còn đánh giá các phẩm chất và kỹ năng xã hội.
Do vậy, nếu quá trình đánh giá đảm bảo được tính toàn diện sẽ giúp
người giáo viên có được cái nhìn bao quát và chính xác hơn về mỗi học sinh
từ đó mà có những biện pháp cụ thể để giúp các em phát triển toàn diện hơn.
* Đánh giá phải đảm bảo tính công khai: đảm bảo tính công khai trong
đánh giá tức là học sinh cần phải được biết các tiêu chuẩn và yêu cầu đánh giá
của các nhiệm vụ hay bài tập, bài kiểm tra mà học sinh sẽ thực hiện, học sinh
cần được biết cách thực hiện các nhiệm vụ ấy để có thể đạt được tốt các tiêu
Nói chung, quy trình đánh giá cơ bản bao gồm 5 bước sau:
Bước 1: Xây dựng hệ thống tiêu chí về nội dung đánh giá (đánh giá cái
gì?, đánh giá như thế nào?) tương ứng với hệ thống mục tiêu dạy học đã được
cụ thểhóa đến chi tiết. Ở bước này sẽ giúp người đánh giá đi đúng hướng
trong quá trình đánh giá. Nó đóng vai trò như cái mốc để người đánh giá đưa
vào đó đểthiết kế công cụ rồi tiến hành thực hiện.
13
Bước 2: Thiết kế công cụ đánh giá và kế hoạch sử dụng chúng: tùy theo
mục đích của kiểm tra đánh giá mà có thể lựa chọn các dạng kiểm tra. Ở bước
này người đánh giá cần có sự cân nhắc khi lựa chọn, tránh sử dụng không phù
hợp các dạng kiểm tra mà dẫn đến việc đánh giá không có hiệu quả. Vì vậy
muốn nhận định đúng thì người đánh giá cần thông hiểu các dạng kiểm tra,
đặc điểm, tính chất, ưu và nhược điểm của chúng.
Bước 3: Thu thập số liệu đánh giá: Dựa trên đáp án, giáo viên chấm bài
kiểm tra, thống kê điểm kiểm tra. Tiến hành cho học sinh thể hiện trình độ của
mình trên công cụ đã thiết kế, từ đó người đánh giá thực hiện quá trình đánh
giá của mình thông qua sản phẩm bài làm của học sinh.
Bước 4: Xử lý số liệu: Từ các điểm kiểm tra đã được thu thập, trong
bước này tập trung vào việc phân tích, đánh giá trình độ học sinh. Xử lý đúng
số liệu sẽgiúp người đánh giá đưa ra được nhận định chính xác về từng học
sinh, từng lớp, từng khóa học.
Bước 5: Hình thành hệ thống kết luận về kiểm tra đánh giá và đưa ra
đềxuất điều chỉnh quá trình dạy học. Yêu cầu của bước cuối cùng trong khâu
kiểm tra đánh giá là cần phải chính xác trong các kết luận, các kết luận cần
chặt chẽ, lôgic và đúng đắn, chính xác để quá trình kiểm tra có hiệu quả cao,
đạt được mục tiêu đề ra.
1.1.1.6. Nội dung đổi mới kiểm tra đánh giá
trường, kỹnăng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề gần gũi với cuộc
sống là điều mà mục tiêu giáo dục đặt ra hàng đầu đối với nền giáo dục,
chuẩn bị cho học sinh hội nhập và bước vào nền kinh tế tri thức.
Từ đó ta thấy rằng kỹ năng mới là điều học sinh cần, trong khi một số
kiến thức họ có thể quyên đi khi bước vào cuộc sống. Bởi vậy kỹ năng là hết
sứcquan trọng và là mục tiêu đánh giá của giáo dục hiện nay.
1.1.1.6.3. Đổi mới mục đích đánh giá
Nếu như trước đây đánh giá chỉ nhằm một mục đích là xác định kết
quảhọc tập của học sinh, rồi từ đó giáo viên đánh giá quá trình học tập, phấn
15
đấu của học sinh để khen thưởng, đưa lên lớp. Đồng thời qua đó nhà trường
đánh giá kết quả học tập của cả lớp, biểu dương tinh thần làm việc tận tụy của
giáo viên, bên cạnh đó là phê bình những giáo viên chưa đạt được mục đích
giảng dạy. Ngày nay những mục đích trên vẫn được áp dụng, nhưng thêm vào
đó là việc cung cấp những thông tin phản hồi về quá trình dạy học, về những
mặt được và chưa được của chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng
dạy và kể cả những bài kiểm tra cụ thể. Qua những thông tin thu được các nhà
hoạch định chính sách, các nhà soạn thảo chương trình, sách giáo khoa sẽ có
những điều chỉnh cần thiết, để chương trình học và phương pháp dạy học phù
hợp hơn với giáo viên, học sinh trong giai đoạn hiện nay.
1.1.1.6.4. Đổi mới bộ công cụ đánh giá
Trước tiên ta cần hiểu: bộ công cụ đánh giá là phương tiện, kỹ thuật để
đánh giá. Câu hỏi kiểm tra kiến thức trên lớp, bài làm trên lớp hoặc ở nhà, các
câu hỏi vấn đáp trong khi kiểm tra hay trong các bài thi, các bài kiểm tra 15
đến 30 phút hay một tiết (45 phút)... hai tiết (90 phút). Các bài tập thí nghiệm,
thực hành, bảng câu hỏi phỏng vấn (theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho - kỷ
yểu hội thảo khoa học “Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề khiểm tra
phải đổi mới, cho phù hợp với thời đại. Ở đây cách đánh giá được đổi mới
trên những khâu sau:
- Thứ nhất: phải khẳng định việc đưa câu hỏi trắc nghiệm vào hệ thống
kiểm tra đánh giá là một điều mới. Bởi vì trắc nghiệm cho phép ta kiểm tra
kiến thức ở diện rộng, chứ không gò bó trong phạm vi hẹp như kiểm tra tự
luận. Đồng thời trắc nghiệm còn cho phép tích hợp kiến thức ở mức độ thấp
của nhiều môn học.
- Thứ hai: bên cạnh việc chú ý đến các kiến thức sách vở, chúng ta cần
chú ý đến nhiều kỹ năng vận dụng kiến thức. Các kỹ năng đó cần phải gắn kết
chặt chẽ nữa với kỹ năng mà học sinh sẽ sử dụng trong đời sống thực. Do đó,
đánh giá là đánh giá kiến thức, năng lực và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống
thực chứkhông phải cho hoàn cảnh giả định.
17
Ví dụ: Học sinh học viết đơn là có thể viết tất cả các loại đơn từ có thực
trong đời sống, chứ không phải là lý thuyết đơn từ trong sách Tập làm văn.
- Thứ 3: trước đây chỉ có thầy cô đánh giá học sinh khi nhận xét, cho
điểm các bài tập và bài kiểm tra, giờ đây học sinh sẽ tham gia vào quá trình
đánh giá.
Các em nhận xét cách trình bày, trả lời của các bạn khi các em đã nắm
vững nộidung bài học, sau đó giáo viên mới nhận xét và chỉnh sửa. Cuối cùng
là đánh giá bài thực hành của cả nhóm, đánh giá năng lực hợp tác, phối hợp
thực hiện nhiệm vụ mà nhóm được giao. Đây là một phương thức đánh giá
mới.
Trước đây chúng ta chỉ đánh giá khả năng của cá thể mỗi học sinh,
nhưng thực tế có những công việc và bài tập đòi hỏi phải làm việc tập thể. Đó
cũng là một cách để việc đánh cái không phải chỉ dựa trên sự giả định mà là
tình huống ấy sẽ diễn ra trong đời sống thực của các em sau này.
trướccác kết quả khả quan đạt được, hoặc được thêm ý chí, quyết tâm vượt
qua nhữngkhó khăn, yếu kém trong kỹ năng dùng tiếng Việt, những chỗ còn
yếu kém về trithức tiếng Việt.
Đánh giá kết quả học tập còn độc lập với quá trình dạy học tiếng
Việt.Muốn vậy đánh giá phải dựa trên trình độ chuẩn của môn Tiếng Việt.
Nhằm đảm bảo kết quả đánh giá mới khách quan, chính xác. Từ năm 1996,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành “Yêu cầucơ bản về kiến thức và kỹ năng
mônToán và Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5”. Đó là bộ trình độ chuẩn kiến thức
đầu tiên của môn Tiếng Việt. Hiện nay, để chuẩn bị cho việc thực hiện
chương trình tiểu học mới ban hành, việc xây dựng văn bản chuẩn của quy
trình này đang được xúctiến.
1.1.2.3. Tiêu chí đánh giá kết quả học tập
Việc đánh giá kết quả học tập chỉ có tác dụng tích cực khi đảm bảo bốn
yêucầu: Độ tin cậy, tính khả thi, khả năng phân loại tích cực, có tính giá trị.
19