ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ CHÂU GIANG LỰA CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
MÔN HOÁ HỌC ĐẠI CƯƠNG HỆ CAO ĐẲNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HOÁ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trần Trung Ninh
HÀ NỘI – 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 3
3. Mục tiêu nghiên cứu 4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Giả thuyết khoa học 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Điểm mới của đề tài 6
9. Cấu trúc của luận văn 6
Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA ĐỀ TÀI
1.1.Cơ sở lý luận về kiểm tra - đánh giá 7
1.2.Câu hỏi, bài tập trắc nghiệm 12
1.3.Sử dụng phần mềm hỗ trợ trong kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc
nghiệm khách quan 26
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặt ở vị trí "quốc sách
hàng đầu". Trong những năm gần đây, chúng ta đang tiến hành triển khai các
chương trình và kế hoạch cụ thể để đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục
đào tạo nước nhà từ bậc học mầm non đến đào tạo cao đẳng, đại học và sau
đại học.
Việc đổi mới giáo dục bậc cao đẳng - đại học đang được Bộ Giáo dục -
Đào tạo và toàn xã hội quan tâm vì đổi mới là nhằm đáp ứng những đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đáp ứng nhu cầu học
tập của nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Theo Nghị
quyết số 14/2005/NQ- CP của Chính phủ về " Đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 " thì " Đổi mới giáo dục đại
học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ lựa chọn khâu đột phá,
lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển
rõ rệt. Việc mở rộng quy mô phải đi đôi với nâng cao chất lượng, thực hiện
công bằng xã hội phải đi đôi với đảm bảo hiệu quả đào tạo, phải tiến hành đổi
mới từ mục tiêu, quá trình, nội dung đến phương pháp dạy và học, phương
thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập "
Trong các khâu của quá trình dạy học thì kiểm tra đánh giá là khâu có ý
nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Thông
qua kiểm tra đánh giá, người dạy sẽ thu được những thông tin "liên hệ ngược"
đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng đào tạo bậc cao đẳng
chúng tôi chọn đề tài :
" Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách
quan trong kiểm tra, đánh giá môn Hoá học đại cƣơng hệ cao đẳng".
3
2. Lich sử nghiên cứu
Trắc nghiệm bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, do các nhà khoa học
Tâm lí học đề xuất nhằm đánh giá trí thông minh của con người. Ban đầu các
trắc nghiệm trí tuệ được Alfred Binet, nhà Tâm lí học người Pháp thực hiện
cho một dự án đánh giá trí thông minh của trẻ em trong chương trình giáo dục
đặc biệt. Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một học
sinh với kết quả bài trắc nghiệm của ông. Sau đó không lâu, nhà tâm lý học
người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã
phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người
trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet;
nó nhanh chóng trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ, bùng phát mạnh vào
năm 1917 khi nước Mỹ bước vào chiến tranh thế giới thứ nhất.
Phương pháp này tiếp tục được phát triển trên những lĩnh vực khác
nhau. Trong những năm gần đây, trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị
trong giáo dục. Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển trắc
nghiệm được sử dụng khá phổ biến. Đến nay hầu hết các nước đã sử dụng
phương pháp trắc nghiệm khách quan trong dạy học Hoá học, có hai nước
không sử dụng là Vương quốc Anh và Achentina.
Ở Việt Nam, trước năm 1975 việc sử dụng trắc nghiệm khách quan
phát triển khá mạnh ở miền Nam Việt Nam. Vào năm 1974, kì thi tú tài (tốt
nghiệp trung học phổ thông) ở miền Nam đã được thực hiện bằng hình thức
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Hoá học đại cương trong chương trình đào tạo
Cao đẳng gồm:
- Mục tiêu
- Nội dung
- Phương pháp
- Hình thức dạy học 5
- Phương tiện dạy học
- Kiểm tra đánh giá
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môn Hoá học đại cương -
hệ Cao đẳng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng và tuyển chọn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần
Hoá học đại cương và ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá góp phần
nâng cao chất lượng dạy học Hoá đại cương - hệ Cao đẳng.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan của môn
hoá đại cương có chất lượng tốt và ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phần Hoá học đại cương - hệ Cao
đẳng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học về phương pháp kiểm tra - đánh giá,
đi sâu về phương pháp trắc nghiệm khách quan.
- Nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, đặc
7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận về kiểm tra – đánh giá
1.1.1. Khái niệm kiểm tra - đánh giá
Kiểm tra - đánh giá là giai đoạn kết thúc của một quá trình dạy học,
kiểm tra có ba chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau đó
là đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh. Về lí luận dạy học, kiểm tra có
vai trò liên hệ nghịch trong hệ dạy học, nó cho biết những thông tin, kết quả
về tiến trình dạy của thầy và tiến trình học của trò để có những quyết định cho
sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò.
Đánh giá kết quả học tập là quá trình đo lường mức độ đạt được của
người học về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học, là mô tả một
cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính chính xác, tính đúng đắn, tính
vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các khả năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn và cả thái độ học tập của người học trên cơ sở
phân tích những thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ
hoàn thiện nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến,
Từ đó ta thấy:
Nhờ đánh giá sẽ phát hiện ra cả những mặt tốt lẫn mặt chưa tốt trong trình
độ đạt tới của người học, trên cơ sở đó tìm hiểu kỹ nguyên nhân của những lệch
lạc, về phía dạy cũng như phía học, hoặc có thể từ khách quan. Phát hiện ra lệch
lạc, tìm ra nguyên nhân của lệch lạc là rất quan trọng. Vì sự thành đạt trong kết
quả là điều đã dự kiến trong mục tiêu, còn những lệch lạc thường bị bỏ qua, mà
nếu sửa chữa loại trừ chúng thì chất lượng sẽ được tốt lên.
Từ đánh giá và phát hiện lệch lạc người thầy điều chỉnh, uốn nắn, loại trừ
những lệch lạc đó, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy chất lượng dạy
học lên rất nhiều.
Mục tiêu
đào tạo
Trình độ xuất phát
của người học
Nghiên cứu tài
liệu mới
KT-ĐG kết quả
học tập
Đánh
giá
Điều
chỉnh
Phát
hiện lệch
lạc
10
1.1.4. Những nội dung cơ bản cần kiểm tra - đánh giá của môn Hoá học
Đó là kiểm tra các sự kiện khoa học, các khái niệm, các tính chất, các
định luật, các lí thuyết về các hiện tượng hoá học và kiểm tra về thực hành hoá
học.
Mục tiêu của việc kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng hoá học : kiểm
tra mức độ nắm kiến thức, kỹ năng, khả năng vận dụng những kiến thức đó
vào giải bài tập định tính, định lượng, giải quyết những vấn đề thực tiễn một
cách độc lập, sáng tạo do vậy phải chuẩn bị nội dung câu hỏi cẩn thận chu đáo,
có hệ thống và phù hợp với đối tượng được kiểm tra.
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá
1.1.5.1. Các tiêu chuẩn về nhận thức áp dụng cho bài kiểm tra đánh giá
Theo Bloom có 6 tiêu chuẩn về quá trình nhận thức được áp dụng cho
kiểm tra, đánh giá: đó là các mức độ nhận thức đi từ thấp đến cao của hoạt
động tư duy:
- Biết: đây là khả năng thấp nhất trong lĩnh vực kiến thức.
- Hiểu: là kỹ năng học sinh hiểu được vấn đề họ biết, có khả năng áp
dụng những kiến thức đã biết vào việc giải quyết những vấn đề mới.
- Ứng dụng: là khả năng vận dụng các kiến thức quy luật, khái niệm,
định nghĩa nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể. Học sinh có khả năng tư
duy tốt sẽ vận dụng kiến thức tốt.
- Phân tích: là khả năng tách ra từng phần để nghiên cứu, để tìm hiểu rõ
đối tượng hay hiện tượng. Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc
tính riêng biệt của đối tượng hay hiện tượng đó theo một hệ thống nhất định.
- Tổng hợp: là kỹ năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái
chung, cái bản chất nhất của đối tượng hay hiện tượng, tức là những dấu hiệu
trong một tổng thể phân tích và tổng hợp có sự liên kết mật thiết với nhau là
12
1.1.6.1. Kiểm tra miệng:
Kiểm tra miệng là kiểm tra vấn đáp, là hình thức kiểm tra thường
xuyên, nó thường được thực hiện qua các bài ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu
bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Kiểm tra miệng giúp GV
kịp thời phát hiện lệch lạc của học sinh để điều chỉnh cách học và cách dạy. Ở
bậc đại học, cao đẳng thì hình thức kiểm tra vấn đáp cũng được áp dụng ở một
số học phần nhưng tốn nhiều thời gian nếu có nhiều người tham gia kiểm tra
và kết quả kiểm tra không khách quan và phụ thuộc nhiều vào người chấm.
1.1.6.2. Kiểm tra viết:
Hình thức kiểm tra này được thực hiện ở nhiều cấp học, bậc học với
thời gian tuỳ thuộc vào mục đích của cuộc thi và thường tổ chức dưới hình
thức tự luận.
Với một khoảng thời gian nhất định chỉ có thể kiểm tra một phần kiến
thức rất hạn chế của nội dung chương trình học do số lượng câu hỏi ít, công cụ
đánh giá thiếu chính xác do người học có thể quay cóp bài, chép bài của nhau
trong lúc kiểm tra và phụ thuộc vào chủ quan của người chấm bài.
1.1.6.3. Bài kiểm tra trắc nghiệm:
Hiện nay phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra kiến thức kỹ
năng của người học bằng hệ thống các câu hỏi và các câu trả lời ngắn đã được
sử dụng. Với dạng kiểm tra này cách cho điểm hoàn toàn khách quan không
phụ thuộc vào người chấm và có thể sử dụng phương tiện kỹ thuật trong kiểm
tra. Đây cũng là một trong những phương hướng đổi mới phương pháp kiểm
tra đánh giá trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
1.2. Câu hỏi, bài tập trắc nghiệm
1.2.1.Khái niệm
Tiếng Anh TEST – Sự thử : là một bài tập làm trong một thời gian ngắn
nhất mà việc thể hiện (hoàn thành) bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng
14
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ
quan, điểm bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một
bài tự luận thường có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời.
Khi viết câu hỏi tự luận, giáo viên cần phải diễn đạt câu hỏi một cách rõ
nghĩa, đầy đủ, cần làm rõ những yêu cầu trong câu trả lời cả về độ dài của nó;
việc chấm bài tốn thời gian.
b. Các dạng câu hỏi TNTL.
- Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tương đối
rộng và khái quát học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trong câu
trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận. Loại câu trả lời này được
gọi là tiểu luận.
- Câu tự luận với sự trả lời có giới hạn. Loại này thường có nhiều câu hỏi với
nội dung tương đối hẹp. Mỗi câu trả lời là một đoạn ngắn nếu việc chấm điểm
dễ hơn.
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn.
+ Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản. Đó là một nhận định viết dưới dạng
mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà học sinh phải trả lời
bằng một câu hay một từ (trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết).
+ Loại câu từ trả lời đoạn ngắn trong đó học sinh có thể trả lời bằng hai hoặc 3
câu trong giới hạn của giáo viên.
+ Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để ra một kết quả cụ
thể đúng theo yêu cầu của đề bài.
1.2.2.2. Trắc nghiệm khách quan
a. Khái niệm. 15
TNKQ là phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh bằng hệ
thống câu hỏi TNKQ gọi là "khách quan" vì hệ thống cho điểm hoàn toàn
Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường
trích nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới
hạn vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn
những dạng câu hỏi TNKQ khác.
Dạng 2 : Câu trắc nghiệm ghép đôi.
Phần câu dẫn : ở cột I gồm một phần của câu (Câu chưa hoàn chỉnh) hay một
yêu cầu.
Phần trả lời : ở cột II gồm phần còn lại của câu hoặc một đáp số mà ta phải
chọn để ghép với cột I cho phù hợp.
* Ưu điểm:
Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng loại này thích hợp với học sinh cấp
THCS. Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó
đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập
các mối tương quan.
* Nhược điểm:
Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định
các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức, để soạn loại câu hỏi này
để đo mức trí nâng cao đòi hỏi nhiều công phu. Hơn nữa tốn nhiều thời gian
đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi của học sinh.
Dạng 3: Câu trắc nghiệm "đúng, sai"
Phần câu dẫn : Là một câu có nội dung cần phải xác định đúng hay sai
Phần trả lời : Gồm chữ Đ và S, phải khoanh tròn khi xác định 17
* Ưu điểm:
Trắc nghiệm đúng sai là loại câu đơn giản dùng để trắc nghiệm kiến
thức về những sự kiện, vì vậy soạn loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít
phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm.
* Nhược điểm:
- Độ tin cậy cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu
hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, học sinh buộc phải xét
đoán, phân biệt kỹ trước khi trả lời câu hỏi.
- Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn có thể đo
được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật… rất có hiệu quả.
- Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào
chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh hoặc chủ quan của người chấm.
* Nhược điểm:
- Loại câu này khó soạn và phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn
những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Ngoài ra phải soạn
câu hỏi sao cho có thể đo được các mức trí nâng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
- Không thoả mãn với những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra
những câu trả lời hay hơn đáp án.
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi
và khả năng giải quyết vấn đề khéo kéo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng
loại câu TNTL soạn kỹ. 19
- Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu
hỏi.
* Điểm cần chú ý khi soạn thảo câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn
- Chọn câu dẫn là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn chỉnh (câu bỏ lửng) là
tuỳ theo hình thức nào dễ hiểu và trực tiếp hơn.
- Cần soạn 4- 5 phương án lựa chọn trong đó có một phương án đúng hay
đúng nhất, các phương án còn lại gọi là câu “nhiễu” hay câu “mồi”; không
nên soạn các phương án lựa chọn qua ít (2 hoặc 3 ) hoặc quá nhiều (6 hoặc 7).
- Phương án đúng phải duy nhất.
- Sắp xếp câu đúng một cách ngẫu nhiên không theo một thói quen nào.
- Trong việc soạn các phương án lựa chọn thì câu nhiễu là khó nhất. Câu nhiễu
Trong phương pháp phân tích câu hỏi của một bài kiểm tra TNKQ
thành quả học tập, người ta thường so sánh câu trả lời của học sinh ở mỗi câu
hỏi với điểm số chung của toàn bài kiểm tra, với sự mong muốn có nhiều học
sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở nhóm điểm thấp trả lời đúng một câu
hỏi.
Việc phân tích thống kê nhằm xác định các chỉ số: độ khó, độ phân biết
của một câu hỏi. Để xác định thống kê độ khó, độ phân biệt người ta tiến hành
như sau:
- Chia học sinh làm 3 nhóm làm bài kiểm tra:
+ Nhóm điểm cao (H): từ 25% - 27% số học sinh đạt điểm cao nhất
+ Nhóm điểm thấp (L): từ 25% - 27% số học sinh đạt điểm thấp nhất
+ Nhóm điểm trung bình (M): từ 46% - 50% số học sinh còn lại. 21
- Nếu gọi: N là tổng số học sinh tham gia làm bài kiểm tra
N
H
là số học sinh nhóm giỏi chọn câu hỏi đúng
N
M
là số học sinh nhóm trung bình chọn câu hỏi đúng
N
L
là số học sinh kém chọn câu hỏi đúng
+ Độ khó của câu hỏi được tính bằng công thức:
K =
N
NNN
LMH
P
1 )
P của phương án đúng càng dương thì câu hỏi đó càng có độ phân biệt cao.
P của phương án nhiễu càng âm thì câu nhiễu đó càng hay vì nhử được nhiều
học sinh kém chọn. Theo các chuyên gia đánh giá thì:
0,4
P : Câu phân biệt rất tốt
0,3
P
0,39 : Câu phân biệt tốt
0,2
P
0,29 : Câu phân biệt trung bình