Đánh giá quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu. (8điểm) - Pdf 33

A. MỞ ĐẦU
Hợp đồng dân sự là một sự khái quát một cách toàn diện các hình
thức giao lưu dân sự phong phú của con người, là một trong những phương
thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp
đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên
hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo
vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước. Các bên được tự
do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự “tự do” ấy phải được đặt
trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự
công cộng. Hợp đồng dân sự sẽ vô hiệu nếu không hội tụ đủ các điều kiện về
hình thức và nội dung do pháp luật quy định, một hợp đồng dân sự vô hiệu
thì không thể phát sinh hiệu lực. Đây là một vấn đề tưởng chừng như đơn
giản, song trên thực tế lại rất phức tạp. Để tìm hiểu sâu hơn những quy định
của pháp luật vấn đề này, em xin chọn đề tài “Đánh giá quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu.”

1


B. NỘI DUNG
I. Hợp đồng dân sự vô hiệu.
1. Khái niệm hợp đồng.
Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dân sự khái quát,
ngắn gọn như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Đặc điểm của hợp đồng dân sự:
-

Là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý là: phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham

tại Điều 122 BLDS, là:
- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch phù hợp với qui định của pháp luật.
Điều 410 BLDS năm 2005 quy định:
“1. Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của
Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.
2.

Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ

trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng
chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự.
3.

Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính,

trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể
tách rời của hợp đồng chính.”
Tính vô hiệu của hợp đồng dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát
sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập

3


hợp đồng dân sự đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ dân sự của các bên mong muốn có khi xác lập hợp đồng dân sự đó.

4. Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu.
a, Phân loại dựa vào tính chất của hợp đồng dân sự.
Gồm có hai loại đó là: vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối.
- Vô hiệu tuyệt đối bảo vệ lợi ích công, có thể do mọi người có lợi ích
nêu lên, nó không thể được xác nhận và không bị hạn chế về thời gian.
- Vô hiệu tương đối vì chỉ nhằm mục đích bảo vệ người giao kết cho nên
chỉ người nào được pháp luật bảo vệ mới có quyền nêu lên. Ngoài ra, sự
vô hiệu này có thể được xác nhận và chịu một thời hiệu ngắn hơn.
Bộ luật Dân sự đã phân biệt giữa vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương
đối khi quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu (Điều 136 BLDS). Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô
hiệu vì lí do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người giao kết không có năng lực
hành vi hay không nhận thức được hành vi của mình là hai năm kể từ
ngày giao kết hợp đồng. Quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì lí
do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội, giả tạo hay
không tuân thủ các quy định về hình thức, không bị hạn chế về thời gian.
b, Phân loại dựa vào hiệu lực của hợp đồng.
Gồm có hai loại đó là: vô hiệu toàn bộ và vô hiệu một phần.
- Vô hiệu toàn bộ tức là toàn bộ nội dung của hợp đồng đều bị vô hiệu.
- Vô hiệu một phần tức là chỉ có một phần vô hiệu, nhưng không ảnh
hưởng đên hiệu lực của các phần khác, chỉ có phần vô hiệu không có hiệu
lực, còn các phần khác vẫn có hiệu lực thi hành.
c, Phân loại dựa vào điều kiện có hiệu lực.
- Vô hiệu do chủ thể không có năng lực hành vi dân sự
- Vô hiệu do vi phạm nội dung và mục đích của hợp đồng
5


- Vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí tự nguyện
- Vô hiệu do vi phạm về hình thức.

(Điều 130 BLDS 2005):
Theo điều 130 BLDS : “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó,
Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao
dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.”
Người không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi không
đầy đủ không thể có đủ điều kiện để tự do thể hiện ý chí. Vì vậy hợp đồng
của họ phải được xác lập dưới sự kiểm soát của người khác hoặc do người
khác xác lập. Tuy nhiên, hợp đồng do những người này xác lập không mặc
nhiên bị coi là vô hiệu mà chỉ vô hiệu khi có yêu cầu của những người đại
diện cho họ.
Tuy nhiên, đánh giá về quy định tại điều 130 BLDS 2005 ta thấy rằng
điều 130 mới chỉ qui định mang tính chất một chiều là bảo vệ những người
bị hạn chế năng lực chủ thể nhưng chưa tính đến trường hợp cần phải bảo vệ
người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng với người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi nhưng không
biết và không buộc phải biết đối tác là người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi. Bộ luật Dân sự 2005
cũng chưa quy định về thời điểm bắt đầu mà người đại diện có quyền yêu
cầu tuyên bố hợp đồng do người bị mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực
hành vi xác lập. Thời điểm này là thời điểm cá nhân bị mất năng lực hành vi
thực sự hay là thời điểm Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi? Bên cạnh đó
còn chưa xây dựng được chế tài áp dụng đối với trường hợp rủi ro cho bên

7


giao kết với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến đủ 18 tuổi có tài sản
riêng mà sau khi giao kết hợp đồng tài sản riêng không còn.

này. Bên cạnh đó, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005 có cụm từ "phải thực hiện
giao dịch" khiến cho nhiều người có cách hiểu chưa thống nhất. Về đối
tượng của đe dọa: Pháp luật đã liệt kê ra hết các đối tượng có thể bị xâm hại:
tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của
cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình nhưng chưa đầy đủ. Sự chưa đầy đủ được
thể hiện trong trường hợp đối tượng của sự đe dọa có thể là tài sản của Nhà
nước, tổ chức xã hội và nhìn chung phạm vi người được bảo vệ do bị đe dọa
cần được bổ sung.
Ngoài ra phạm vi hành vi được xem là lừa dối theo Bộ luật Dân sự 2005
chưa được quy định đầy đủ. Pháp luật hiện hành mới chỉ coi những hành vi
cố ý của một bên trong hợp đồng làm cho bên kia hiểu sai mà không thừa
nhận sự im lặng hoặc không thông tin khi có nghĩa vụ thông tin đến người
cùng giao kết hợp đồng là lừa dối.
f, Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình (Điều 133 BLDS 2005).
Trường hợp này chỉ áp dụng đối với những người có năng lực hành vi
dân sự. Nếu người đó đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên
bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Việc phân định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại phụ thuộc vào lỗi của các bên tham gia hợp đồng.
g, Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134
BLDS 2005).
Điều 134 BLDSquy đinh : “Trong trường hợp pháp luật quy định hình
thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên
không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan
9


nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định
về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không

hợp đồng này vô hiệu”. Quy định này có thể hiểu đối tượng của hợp đồng
cũng là một trong những điều kiện của hợp đồng, không có đối tượng thì tất
nhiên sẽ không thể có hợp đồng dân sự.
Thực tiễn cũng cho thấy quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành đối với
hợp đồng có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai trong nhiều
trường hợp cũng chưa có sự xác định rõ ràng.
2. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
BLDS 2005 quy định hai loại thời hiệu yêu cầu toàn án tuyên vố giao dịch
vô hiệu trên cơ sở tính chất, mức độ phạm vi và tác động xấu của giao dịch
dân sự đó đối với đời sống xã hội (Điều 136 BLDS 2005) đó là:
a. Thời hiệu hai năm
Theo khoản 1 điều 136 BLDS 2005, thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên vố
giao dịch dân sự vô hiệu đối với các giao dịch: Giao dịch dân sự vô hiệu do
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế
năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; giao dịch dân sự bị vô hiệu do
nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa; do người các lập không nhận thức và làm
chủ hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức là hai năm
kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.
Sau khoảng thời gian hai năm nếu bên có quyền yêu cầu tòa án giao dịch
dân sự này là vô hiệu không thực hiện thì quyền này sẽ tự động chấm dứt.
Quy định này của pháp luật ngoài nhưng lí do về mặt thời hiệu nó còn có
một lí do khác đó là pháp luật không thể và cũng không có nghĩa vụ bảo vệ
người có quyền khi mà chính người đó cũng không quan tâm nhiều đến
quyền của mình.

11


Tuy nhiên, trong khoảng thời gian hai năm mà pháp luật quy định người
có quyền có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trên thực

Những quy định này góp phần ổn định trật tự kinh tế xã hội, ổn định các
quan hệ dân sự qua đó thúc đẩy sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội,
giúp tòa án dễ dàng điều tra chứng cứ khi giải quyết những tranh chấp để
bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch dân sự.
Đồng thời đề cao ý thức trách nhiệm của những người tham gia giao dịch
dân sự.
Tuy nhiên cũng có những bất cập, hạn chế trong việc quy định này, thể
hiện ở thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo và hợp đồng
vi phạm điều cấm pháp luật và đạo đức xã hội: Bộ luật Dân sự 2005 không
hạn chế thời hiệu đối với các trường hợp này gây khó khăn cho Tòa án hoặc
cơ quan nhà nước thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên
không chỉ trong việc xác định chứng cứ mà cả trong việc lựa chọn luật áp
dụng.
3. Giải quyết hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu.
a, Về hậu quả các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận, trước tiên hoàn trả bằng hiện vật, nếu không hoàn
trả được bằng hiện vật thì tính thành tiền để trả.
Thực tế ở nước ta cho thấy, việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
chưa thực sự đảm bảo được lợi ích của các chủ thể. Điển hình đối với những
giao dịch có đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất. Thực tế cho thấy rằng,
nguyên đơn hầu hết là bên chuyển nhượng. Đối với bên chuyển nhượng, vệc
lấy lại đất là thoả đáng. Nhưng với bên được chuyển nhượng, việc phải trả
lại đất cho bên bán là một tổn thất rất lớn với họ. Cho dù được nhận lại số
tiền đã bỏ ra trước đây, họ không bao giờ mua được diện tích đất như vậy
13


nữa vì những năm qua giá trị quyền sử dụng đất ở nước ta tăng nhanh chóng
mặt. Trong trường hợp bên chuyển nhượng có lỗi trong việc xác lập giao
dịch này, bên nhận chuyển nhượng được bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên,

lẫn song phương hoặc bên bán không có lỗi khi tại thời điểm giao kết hợp
đồng không biết hoặc không thể biết đối tượng hợp đồng không thực hiện
được do quyết định của cơ quan nhà nước.
c, Tài sản giao dịch, hoa lợi lợi tức bị tịch thu trong trường hợp pháp
luật có quy định khác
Vẫn theo Khoản 2 Điều 137 BLDS: “khi giao dịch dân sự vô hiệu thì
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền,
trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo
quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Có thể
thấy, quy định tịch thu tài sản giao dịch , hoa lợi, lợi tức thu được khi hợp
đồng vô hiệu được đua ra nhằm xử lý những tài sản là đối tượng của hợp
đồng , nhưng thuộc diện tài sản Nhà nước tịch thu, sung công quỹ. Tuy
nhiên Bộ luật Dân sự lại chưa quy định rõ thời điểm tài sản giao dịch, hoa
lợi, lợi tức thu được bị tịch thu là trước hay sau khi giao dịch bị tuyên bố vô
hiệu. Việc xác định rõ thời điểm tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được
bị tịch thu là trước hay sau khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu là rất cần thiết,
bởi lẽ nó sẽ là một trong các căn cứ xác định chủ thể chịu trách nhiệm (đã có
trường hợp, tài sản là đối tượng của hợp đồng dân sự, nhưng đã bị tịch thu
trong một vụ án khác, trước khi Tòa án tuyên hợp đồng này vô hiệu). Bộ luật
Dân sự chưa có quy định rõ ràng .Quy định này còn mang tính chung chung,
chưa được hướng dẫn cụ thể do đó khó áp dụng trong thực tế. Cho đến nay
chưa có văn bản pháp luật nào quy định phải tịch thu tài sản giao dịch, hoa
lợi, lợi tức.
15


d, Hậu quả pháp lí của hợp đồng dân sự vô hiệu trong trường hợp tài sản
đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình
Hợp đồng vô hiệu ngoài liên quan tới các bên tham gia trong hợp

chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa( Điều 138 BLDS 2005)
Quy định này nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của việc đăng ký quyền sở
hữu cũng như thể hiện tính đặc thù của đối tượng là động sản đối với bất
động sản. Pháp luật quy định một số loại tài sản nhất định phải đăng ký
quyền sở hữu để công nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu, chống lại xâm
phạm của người thứ ba và khi có tranh chấp thì chủ sở hữu có thể dễ dàng
chứng minh được đâu là đối tượng của hợp đồng đã vô hiệu căn cứ vào giấy
tờ chứng nhận quyền sở hữu. Mặt khác vì giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu
tài sản đứng tên không phải là người giao kết với người thứ ba do đó khó
chứng minh được tính ngay tình hay không ngay tình của người thứ ba.
4. Đánh giá chung các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng
dân sự vô hiệu.
Bộ luật Dân sự đã cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về bảo
vệ, tôn trọng quyền sở hữu và tự do hợp đồng, góp phần thúc đẩy việc xây
dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các
quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 nói chung, chế định hợp đồng nói riêng
đã có tính khái quát cao hơn. Đặc biệt đã ghi nhận một cách đầy đủ các
quyền tự do ý chí của con người trong quan hệ dân sự.
Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2005 còn bộc lộ một số hạn chế trong quy
định về xử lý hợp đồng vô hiệu, ví dụ như:
- Điều kiện vô hiệu của hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự
hiện hành là quá rộng, còn chung chung;
- Quy định về điều kiện hình thức của hợp đồng còn chưa thống nhất nên
có những cách hiểu và vận dụng khác nhau;
17


- Các quy định về lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn được quy định trong Bộ luật
Dân sự 2005 nhìn chung là còn quá chung chung, mang tính hình thức, do
đó rất khó áp dụng trong thực tiễn.

410 BLDS chúng ta có thể hiểu các điều kiện được quy định tại Điều 122
BLDS chính là những điều kiện cần và đủ để hợp đồng có hiệu lực. Nói
cách khác, chỉ khi một hợp đồng dân sự vi phạm một trong các điều kiên
trên thì mới có thể bị coi là vô hiệu, ngoài ra không còn bất cứ trường
hợp vô hiệu nào khác. Tuy nhiên, Điều 411 BLDS lại quy định trường
hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
Như vậy cho thấy sự thiếu bao trùm của Điều 127 BLDS hay sự thiếu
thống nhất trong quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu. Để tránh nhược
điểm này, Điều 127 cần được sửa lại theo hướng mềm dẻo hơn và bao
quát hơn, đó là thay cụm từ mang tính dân dã “không có” bằng cụm từ
mang tính pháp lí “vi phạm” tại Điều 127 BLDS, cụ thể là: “Giao dịch
dân sự vi phạm một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của
Bộ luật này thì vô hiệu”. Bên cạnh đó, chúng ta nhận thấy quy định tại
Điều 411 BLDS, khoản 1: “Trong trường hợp ngay từ khi kí kết hợp
đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp
đồng này bị vô hiệu” là quy định chỉ rõ đối tượng của hợp đồng cũng là
một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tương tự như pháp luật
các nước (mặc dù không được quy định một cách minh thị). Nói cách
khác, nếu không có đối tượng của hợp đồng thì sẽ không thể có hợp
đồng. Tuy nhiên. Quy định này chỉ được đề cập đến trong từng chế định
cụ thể của giao dịch dân sự chứ không được quy định bao quát tại Điều
122 BLDS – điều luật quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự (hợp đồng dân sự). Do đó nên bổ sung thêm điều kiện về đối
tượng vào các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 122
19


BLDS đồng thời lược bỏ các quy định tại Điều 411 khoản 1 và Điều 667
khoản 3 BLDS.
b, Sửa đổi về các trường hợp tuyên bố hợp đồng vô hiệu

+ Hợp đồng vô hiệu do đe dọa tại Điều 132 Bộ luật Dân sự: Có thể
sửa đổi ngôn từ tại Điều 132 theo hướng: thay thế cụm từ "phải thực hiện
giao dịch" bằng "…buộc phải giao kết giao dịch…". Về đối tượng của đe
dọa: Pháp luật bổ sung thêm đối tượng của sự đe dọa có thể là tài sản của
Nhà nước, tổ chức xã hội mà họ có trách nhiệm quản lý hay vì lợi ích
chung của xã hội, của cộng đồng.
+ Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức: Điều 134 được
sửa đổi theo hướng:Khi Tòa án có đủ căn cứ chứng minh các bên đã tự
do thỏa thuận hợp đồng đã xác lập nhưng chưa thỏa mãn quy định về
hình thức thì Tòa án buộc các bên thực hiện quy định về hình thức trong
một thời hạn, quá thời hạn đó mà các bên không thực hiện thì hợp đồng
được coi là tuân thủ về hình thức. Trong trường hợp này, Tòa án cũng có
thể ra một quyết định để công nhận hợp đồng đó và buộc các bên phải
tuân theo những nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
Sửa đổi Điều về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu như sau:
Đối với hợp đồng vô hiệu vì bản thân hợp đồng không đem lại lợi ích
cho ít nhất một bên chủ thể như mong muốn của họ như: hợp đồng vô
hiệu do lừa dối, nhầm lẫn thì giải quyết hậu quả sự vô hiệu là các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

21


C. KẾT LUẬN
Vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự năm
2005 có ý nghĩa rất quan trọng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, nhằm đảm
bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể, lợi ích chung của xã hội, của Nhà
nước. Tuy nhiên, trong thực tế, các quy định về vấn đề này đã bộc lộ những
bất cập, đó là: có quy định còn chung chung, chưa bao quát được các trường
hợp hợp đồng vô hiệu, các quy định có phần cứng nhắc, có chỗ còn thiếu


5.

Bộ luật dân sự năm 2005;

23


MỤC LỤC:
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Hợp đồng dân sự vô hiệu....................................................................2
1. Khái niệm hợp đồng.........................................................................2
2. Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu................................................3
3. Mục đích của các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu................4
4. Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu.................................................5
a, Phân loại dựa vào tính chất của hợp đồng dân sự...............................5
b, Phân loại dựa vào hiệu lực của hợp đồng............................................5
c, Phân loại dựa vào điều kiện có hiệu lực...............................................5
II. Các quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu theo Bộ
luật Dân sự 2005.....................................................................................6
1. Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu......................................6
2. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu..................11
a. Thời hiệu hai năm................................................................................11
b. Thời hiệu không bị hạn chế..................................................................12
3. Giải quyết hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu................................13
4. Đánh giá chung các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng
dân sự vô hiệu.........................................................................................17
III. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng
dân sự vô hiệu.........................................................................................18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status