LỜI MỞ ĐẦU
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham
gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó, việc thiết lập các mối quan
hệ qua đó chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất đóng một vai trò quan
trọng trong xã hội. Và hợp đồng dân sự được sinh ra với vai trò như một biên
bản xác lập mối quan hệ chuyển giao đó phòng khi tranh chấp xảy ra. Và
những hợp đồng dân sự đó là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, với
những yêu cầu đảm bảo một số điều kiện nhất định. Và khi hợp đồng dân sự
vi phạm những điều kiện mà pháp luật quy định, chúng sẽ trở thành “Hợp
đồng dân sự vô hiệu”.
Vậy khi một hợp đồng dân sự bị vô hiệu thì những mối quan hệ chuyển
giao kia sẽ được giải quyết như thế nào? Em xin chọn đề bài số 5: “Đánh giá
quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu” làm đề tài
nghiên cứu cho bài tập học kì của mình.
1
NỘI DUNG
I/ Khái quát chung về hợp đồng dân sự vô hiệu
1. Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu
Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã định nghĩa về “Hợp
đồng dân sự” như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Ta có thể hiểu hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực
pháp luật, không làm phát sinh (hoặc không được pháp luật thừa nhận) quyền
và nghĩa vụ dân sự của các bên trong do vi phạm pháp luật.
Theo các quy định từ điều từ điều 122 đến 134 BLDS 2005 thì một giao
dịch dân sự được coi là vô hiệu khi không đáp ứng được một trong các điều
kiện sau:
Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.
Mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội
Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
c. Căn cứ vào mức độ vô hiệu
Theo cách phân loại này thì hợp đồng dân sự vô hiệu được chia thành 2
loại:
Hợp đồng dân sự vô hiệu toàn bộ
Hợp đồng dân sự vô hiệu một phần.
II/ Quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu theo pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại các Điều 122 về “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự”, Điều 127 về “Giao dịch dân sự vô hiệu” và Điều 410 về “Hợp đồng
dân sự vô hiệu” thì giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng
sẽ bị vô hiệu khi vi phạm vào một hoặc một số trong tổng số 4 trường hợp
sau:
Người tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự;
Mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp
luật hoặc trái đạo đức xã hội;
4
Người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện;
Giao dịch không đáp ứng được về hình thức, trong trường hợp
pháp luật có quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của
giao dịch.
Bộ luật Dân sự 2005 cũng đã đưa ra một số quy định làm rõ 4 điều trên
như sau:
Quy định tại Điều 130 về “Giao dịch dân sự vô hiệu do người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện”, làm rõ cho trường hợp
người không có năng lực hành vi dân sự không thể tham gia kí kết hợp
đồng dân sự.
Quy định tại Điều 128 về “Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm
điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội” và tại Điều 132 về “Giao
dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa”, làm rõ cho trường hợp nếu
mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
bảo các giao dịch dân sự phải đối chiếu trước khi giao kết và xác lập.
III. Đánh giá cách vận dụng giải quyết vụ việc thực tế hợp đồng
dân sự vô hiệu
Trên thực tế có rất nhiều trường hợp hợp đồng dân sự
dân sự vô hiệu như những quy định pháp luật đã quy định .
Thông qua quá trình vận dụng của toà án qua hai cấp xét xử,
ta có thể thấy được việc giải quyết vụ việc thực tế hợp đồng
dân sự vô hiệu còn tồn tại những vấn đề sau:
Hợp đồng dân sự vô hiệu rất nhiều và nó phổ biến
trong đời sống dân sự. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà
toà án buộc phải áp dụng pháp luật một cách linh động.
Trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu và đặc biệt sau đó là giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, các Tòa án địa phương phần lớn phát
sinh những quan điểm khác nhau trong việc đánh giá lỗi mà từ đó dẫn
tới việc quyết định mức bồi thường thiệt hại không giống nhau.
Do cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa Tòa án
các cấp dẫn tới một tồn tại rằng có rất nhiều những vụ án Tòa án cấp
dưới tuyên xử đúng nhưng vẫn bị Tòa án cấp trên sửa, hủy án hoặc có
vụ án Tòa án cấp dưới xử sai nhưng Tòa án cấp trên vẫn y án dẫn đến
7
có những vụ án được xét xử qua nhiều lần nhưng đương sự vẫn khiếu
nại.
Trình độ thẩm phán còn nhiều hạn chế, chưa áp dụng đúng tinh
thần của pháp luật, còn giải quyết án theo lối mòn và cứng nhắc dẫn
đến sai sót trong phán quyết của Tòa, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự.
IV. Đánh giá quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu.
1.Về ưu điểm
Qua thực tiễn thi hành BLDS 2005, các quy định của pháp luật về hợp
đồng dân sự vô hiệu cho thấy, các quy định này nhìn chung có tiến bộ, tương
giao dịch dân sự thì hợp đồng cũng "không vi phạm điều cấm pháp luật"
(Điều 123). Tuy nhiên, tại Điều 389 BLDS 2005 ghi nhận nguyên tắc "tự do
giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật".
9
Hợp đồng vô hiệu do đe dọa:
BLDS 2005 đã nêu ra quy định chung khái quát về hành vi đe dọa
nhưng chưa phân tách rõ ràng về phạm vi và điều kiện của hành vi đe dọa này.
Bên cạnh đó, Điều 132 BLDS 2005 có cụm từ "phải thực hiện giao dịch"
khiến cho nhiều người có cách hiểu chưa thống nhất. Về đối tượng của đe
dọa: Pháp luật đã liệt kê ra hết các đối tượng có thể bị xâm hại: tính mạng, sức
khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ,
chồng, con của mình nhưng chưa đầy đủ. Sự chưa đầy đủ được thể hiện trong
trường hợp đối tượng của sự đe dọa có thể là tài sản của Nhà nước, tổ chức xã
hội và nhìn chung phạm vi người được bảo vệ do bị đe dọa cần được bổ sung.
Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn
Điều 131 BLDS 2005 quy định: hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu do
nhầm lẫn nhưng chưa đưa ra định nghĩa chính xác về "nhầm lẫn", chưa phân
loại được các yếu tố nhầm lẫn trong hợp đồng và từ đó có chế tài xử lý khác
nhau, không đề cập tới trường hợp nhầm lẫn về chủ thể của hợp đồng, không
quy định chế tài xử lý trong trường hợp nhầm lẫn từ hai bên chủ thể của hợp
đồng.
Hợp đồng vô hiệu do lừa dối
Phạm vi hành vi được xem là lừa dối theo BLDS 2005 chưa được quy
định đầy đủ. Pháp luật hiện hành mới chỉ coi những hành vi cố ý của một bên
trong hợp đồng làm cho bên kia hiểu sai mà không thừa nhận sự im lặng hoặc
10
không thông tin khi có nghĩa vụ thông tin đến người cùng giao kết hợp đồng
là lừa dối.
Hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thực hiện được
Thực tiễn cũng cho thấy quy định của BLDS hiện hành đối với hợp
Nhà nước và lợi ích của xã hội. Có nhiều khi tự do giao kết hợp đồng
không trái với các điều cấm của pháp luật nhưng vẫn có thể chống lại
trật tự công. Bởi vậy, các điều cấm của pháp luật quá cứng nhắc có thể
không bảo vệ được lợi ích chung của cộng đồng. Nếu sử dụng mềm
dẻo thuật ngữ "trật tự công" thì các lợi ích chung được bảo vệ tốt hơn.
• Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung trường hợp đồng vô hiệu
có đối tượng không thể thực hiện được quy định tại Điều 411 BLDS
2005 vào phần quy định chung về điều kiện giao dịch dân sự vô hiệu
và Điều 127 về khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu. Quy định như vậy
nhằm thống nhất về mặt nội dung, tránh tình trạng tản mát, tách rời các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
12
Sửa đổi và bổ sung về các trường hợp tuyên bố hợp đồng vô
hiệu:
•Trường hợp hợp đồng vô hiệu do người giao kết hợp đồng bị hạn chế
năng lực hành vi, mất năng lực hành vi tại Điều 130 Trong mục này, có
thể bổ sung thêm qui định cho phép bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng với người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi
trong trường hợp những người này không biết và không buộc phải biết
đối tác của họ là những người nêu trên. Và kiến nghị cần có hướng dẫn
cụ thể của pháp luật về tiêu chí "không thể nhận thức, làm chủ được
hành vi" để làm căn cứ áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, BLDS 2005
cũng cần quy định bổ sung về thời điểm bắt đầu mà người đại diện cho
người mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng được
thiết lập kể từ thời điểm xác định người mất năng lực hành vi, hạn chế
năng lực hành vi trên thực tế để thống nhất phương hướng xét xử của
Tòa án các cấp. Điều đó sẽ đảm bảo lợi ích hợp pháp của những đối
tượng bị hạn chế năng lực giao kết hợp đồng.
Mặt khác, cần bổ sung trong BLDS 2005 chế tài áp dụng đối với
Điều kiện về hình thức của hợp đồng cần quy định như sau:
"Điều kiện về hình thức không được xem là căn cứ để tuyên bố hợp
đồng vô hiệu. Đối với những giao dịch không tuân thủ về hình thức theo
pháp luật quy định nhưng sau khi giao kết hợp đồng, một bên đã thực
hiện nghĩa vụ, đối phương chấp nhận thì hợp đồng vẫn được pháp luật
công nhận và bảo vệ".
KẾT THÚC’
Qua những thông tin trên ta có thể phần nào thấy được vai trò và tầm
quan trọng của chế định “Hợp đồng dân sự vô hiệu” trong việc giúp đỡ nhà
nước định hướng cho các loại hợp đồng đi đúng hướng và đảm bảo tốt nhất lợi
ích của người tham gia giao kết hợp đồng. Cũng từ những tìm hiểu trên ta có
thể nhận ra tuy các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu khá đầy đủ nhưng
cũng còn tồn tại đó một số thiếu sót cần hoàn thiện thêm để các quy định này
có thể điều chỉnh tốt hơn loại giao dịch dân sự quan trọng đó.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật dân sự 1 và 2 – Trường ĐH Luật Hà Nội – NXB
công an nhân dân.
2. Bộ luật dân sự của nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
3. Luật đất đai 2003 – NXB Lao động.
4. Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 – NXB Lao động
5. Xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự
Việt Nam – Nguyễn Thị Thanh - Luận văn thạc sĩ luật
học.
6. Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện ý chí chủ thể -
Bùi Thị Thu Huyền – Luận văn thạc sĩ luật học 2010.
7. www.luathoc.cafeluat.com
8. www.danluat.thuvienphapluat.vn
9. www.toaan.gov.vn