Tại sao nói bản chất của toàn cầu hóa kinh tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh? Việt Nam cần phải làm gì để tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế một cách có hiệu quả nhất. - Pdf 33

Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

Tại sao nói bản chất của toàn cầu hóa kinh tế là quá trình vừa hợp tác,
vừa đấu tranh? Việt Nam cần phải làm gì để tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa kinh tế một cách có hiệu quả nhất.
“Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết
các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tuỳ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế. Quan hệ đa phương, song phương giữa các quốc gia
ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trường, phòng chống
tội phạm, thiên tai và các đại dịch. . . Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu
trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế. Sự
cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng.”
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác, vừa
đấu tranh rất phức tạp , đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ
lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt
phi lý của các cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia. Đối với nước ta,
tiến trình hội nhập kinh tế trong thời gian tới được nâng lên một bước mới gắn
với việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu
quả, năng lực cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có
hiệu quả vào phân công lao động quốc tế.”
* Bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
Từ mấy kỷ cuối thế kỷ vừa qua, sự phát triển như vũ bão của lực lượng sản
xuất đã phá vỡ mọi hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người về
mọi mặt giữa các quốc gia.
Điều này đã khiến các nền kinh tế của các quốc gia gắn bó hữu cơ và tùy
thuộc vào nhau. Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế đẩy quốc tế hóa
kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Phân công
lao động quốc tế dẫn đến phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của
mình, lấy các quốc gia khác làm phân xưởng của mình đặng lợi dụng ưu thế kỹ

động quốc tế ngày càng sâu rộng, từ phân công theo sản phẩm chuyển dần sang
phân công theo chi tiết của sản phẩm. Chẳng hạn hãng Bôinh đã sử dụng 600
công ty ở các nước khác nhau để sản xuất các chi tiết, linh kiện của máy bay
Bôinh 747, hoặc một xe ô tô con của hãng Vônphaghen (Đức) được lắp ráp bằng
các chi tiết do các chi nhánh của nó sản xuất ở 16 nước. Rất rõ ràng là các nền
kinh tế quốc gia quan hệ chằng chịt, đan xen lẫn nhau đến mức tạo ấn tượng rằng
kinh tế thế giới là một “mạng lưới” khổng lồ, rất đa dạng, không thuần nhất,
trong đó các nền kinh tế quốc gia là những điểm nút, vừa bảo vệ tính tự chủ, vừa
tác động lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của cả “mạng lưới”.
Thêm vào đó là sự tác động trực tiếp rất mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại. Ở Nhật Bản, nguyên Thủ tướng Obuchi đề ra
mục tiêu của phát triển công nghệ thông tin là đến năm 2005 tạo ra một xã hội
trong đó mọi người có thể sử dụng các dịch vụ Internet và thu thập, xử lý và gửi
thông tin một cách tự do tùy ý. Một dẫn chứng nữa là sự tăng lên nhanh chóng
của việc sử dụng điện thoại di động ở Nhật bản, đặc biệt là sự bùng nổ dữ dội của
loại điện thoại di động i-mode do NTT DoCoMo cung cấp. Đây có thể là một
điềm báo trước cho sự kết thúc của một kỷ nguyên, trong đó máy tính cá nhân là
một nền móng thống trị duy nhất đối với những người sử dụng công nghệ thông
tin.
Cũng cần phải chú ý là sự phát triển của các công nghệ cao (công nghệ
sinh học, công nghệ thông tin…) đã làm thay đổi chất lực lượng sản xuất của loài
người, đã đưa loài người từ văn minh công nghiệp lên văn minh tin học, đã tạo
thành kinh tế tri thức, hình thành mạng tính toàn cầu. Chính sự phát triển của
công nghệ thông tin hiện đại đã rút ngắn đến mức cao các khoảng cách, thậm chí
còn rỡ bỏ các hàng rào ngăn cách về không gian và thời gian giữa các vùng trên
thế giới. Các thị trường và sản phẩm mang tính toàn cầu hơn. Những sản phẩm
của Nike và Virgin được toàn thế giới biết đến.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

2

(WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Các tổ chức này có vai trò ngày
càng to lớn đối với quá trình toàn cầu hóa. Sự ra đời của chúng là kết quả của quá
trình toàn cầu hóa kinh tế, do nhu cầu của toàn cầu hóa kinh tế, nhưng đến lượt
mình, chúng lại trở thành nhân tố thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế cả bề rộng lẫn
chiều sâu.
WTO là một thể chế kinh tế toàn cầu chi phối hơn 90% tổng kim ngạch
thương mại thế giới. Chức năng chủ yếu của WTO là điều hành và thực thi các
hiệp định thương mại đa phương và hiệp định giữa một số bên cấu thành WTO;
hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa
phương tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thương mại, giám sát các chính
sách thương mại quốc gia, và hợp tác với các thiết chế quốc tế khác liên quan tới
hoạch định chính sách toàn cầu. Nhưng trong thực tế hoạt động của mình, WTO
không dừng ở phạm vi thương mại mà đã can thiệp sâu vào nhiều lĩnh vực của
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

3


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

đời sống xã hội, vượt qua mọi biên giới quốc gia, áp đặt lên toàn thế giới những
luật lệ có lợi cho sự thống trị của chủ nghĩa tư bản.
Cũng trên phương hướng ấy, IMF và WB cũng can thiệp sâu vào các nước
thông qua các luật lệ của mình về tín dụng, tài chính, đầu tư. Điều đó thể hiện rất
rõ qua việc IMF và WB tham gia giải quyết khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở Thái
Lan, Inđônêxia, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Braxin… trong thời gian vừa qua.
Có thể nói IMF, WB và WTO là những tổ chức đặt dưới sự chi phối của
chủ nghĩa tư bản do Mỹ đứng đầu, là những công cụ của các công ty xuyên quốc


4


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á) các nước đang phát triển tiếp nhận
129 tỉ USD FDI và đầu tư ra nước ngoài 51 tỉ. Đến năm 1999 FDI vào các nước
này tăng lên mức kỷ lục: 198 tỉ USD trong đó 97 tỉ vào Mỹ Latinh (Braxin chiếm
31 tỉ), châu Á: 91 tỉ (Trung Quốc chiếm 40 tỉ). Các nước đang phát triển nắm giữ
11 công ty xuyên quốc gia của thế giới, trong đó lớn nhất là Petroleos
(Vênêxuêla), có tổng trị giá tài sản 47,1 tỉ USD. Cơ cấu kinh tế đã có nhiều biến
đổi theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ. Trong lĩnh vực xuất khẩu (chỗ dựa của tăng trưởng kinh tế ở các nước
này), cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện, chất lượng hàng hóa được nâng cao
hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế, tỷ trọng thành phẩm trong xuất khẩu đã tăng từ
5,65 (1980) lên 77,7% năm 1994. Cơ sở hạ tầng về kinh tế được phát triển, thu
nhập của người dân tăng lên, đời sống được cải thiện trên một số mặt. Còn nhiều
yếu tố khác đưa tới kết quả phát triển ở các nước NIC châu Á, nhưng trong chừng
mực nhất định, có thể nói giai đoạn tăng trưởng nhanh của một số nước Đông Á
là một thí dụ về cơ hội và lợi ích mà toàn cầu hóa kinh tế mang lại cho các nước
đang phát triển.
Tuy nhiên, trong khi một số nền kinh tế đã biết tận dụng toàn cầu hóa
thông qua việc đề ra các chiến lược phát triển dựa trên quyết tâm mở cửa kinh tế
và xuất khẩu như đã thấy trình bày ở trên thì một số nền kinh tế khác dường như
vẫn còn đứng ngoài lề.
Thực tế khác biệt này được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau của
toàn cầu hóa (tài chính và sản xuất kinh doanh). Thí dụ, tỷ trọng của châu Phi

lượng vốn kinh doanh chứng khoán rót vào các nước đang phát triển.
Tỷ trọng của châu Phi trong kim ngạch trao đổi hàng hóa và dịch vụ toàn
cầu không ngừng giảm sút từ 5% vào năm 1950 xuống còn 2% vào năm 1998
(WTO 1999). Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu tính theo GDP cũng giảm xuống. Hơn
nữa, xuất khẩu luôn tập trung vào các sản phẩm sơ đẳng, còn quan hệ mậu dịch
thì ngày càng đi xuống. Vấn đề chủ yếu mà các nền kinh tế châu Phi phải đương
đầu chính là cơ cấu sản xuất công nghiệp và mức độ chuyên môn hóa của họ.
Một thực tế nữa buộc ta phải thừa nhận là trào lưu toàn cầu hóa song hành
cùng tình trạng chênh lệch nghiêm trọng giữa các nước giàu và các nước nghèo
vẫn tồn tại dai dẳng. Phát biểu về vấn đề này, nhà nghiên cứu Francoise Nicolas
đã chỉ ra Đông Á là khu vực duy nhất rút ngắn được khoảng cách về mức sống
với các nền kinh tế phát triển: mức thu nhập tính theo đầu người của khu vực này
đã tăng trung bình 6% mỗi năm trong thập kỷ vừa qua (tuy nhiên cũng nên nhớ
rằng, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998, mức thu nhập
tính theo đầu người đã giảm (-1,1%) vào năm 1998), trong khi chỉ số đó ở các
nền kinh tế châu Phi lại giảm cũng trong cùng thời gian (-0,3% mỗi năm trong
giai đoạn 1989 – 1998). Thu nhập trung bình đầu người của khu vực châu Phi
vào năm 1998 tính theo giá trị thật gần như không hề thay đổi so với mức của
năm 1970. Trong khối các nước đang phát triển, chỉ có các nước Ả Rập mới có
những chỉ số kinh tế phát triển kém đến như vậy.
Để có một cái nhìn bao quát hơn, có lẽ cũng cần nêu thêm là sau một số
năm tham gia toàn cầu hóa, nợ nần của các nước đang phát triển ngày thêm
chồng chất và khoản nợ này quả là đồ sộ (trên 2000 tỉ USD). Theo báo cáo của
Ngân hàng thế giới (WB) về tình hình tài chính toàn cầu năm 1999, tỷ lệ nợ nước
ngoài so với GNP của Braxin là 24%, Mêhicô: 38%, Inđônêxia: 65%, Philippin:
53%, Thái Lan: 63%; Malaixia: 51%.
Một điểm sau cùng cần lưu ý là do nền kinh tế chưa đủ sức chịu đựng cái
gọi là “chu kỳ kinh doanh” (các nước có nền kinh tế phát triển cao có thể sử dụng
nhiều cơ chế phúc lợi khác nhau để đối phó với thất nghiệp, tỷ lệ xí nghiệp phá
sản cao trong thời kỳ kinh tế suy thoái) hầu hết các nước đang phát triển do thực

ích quốc gia, vai trò điều tiết của Nhà nước, chủ quyền kinh tế của đất nước mà
các nước đang phát triển phải đối mặt, một phong trào chống toàn cầu hóa đã
bùng nổ cách đây trên năm năm, phong trào này nhanh chóng mở rộng và đã thu
hút hàng trăm ngàn người có cảm tình và hoạt động trên quy mô thế giới, từ
Xingapo đến San Francisco.
Phong trào khởi đầu năm 1995 khi các công ty đa quốc gia cùng chính phủ
các nước phát triển và các tổ chức tài chính quốc tế thầm lặng thương lượng một
hiệp định đa phương về đầu tư nhằm tạo ra những quyền hạn cực kỳ rộng rãi cho
các tập đoàn đầu tư lớn, gây thiệt thòi cho những quốc gia muốn bảo vệ môi
trường và người lao động, sức khỏe của công dân nước mình. Nhưng tài liệu bị lộ
ra ngoài; lập tức báo động được phát ra, bản dự thảo được công bố trên Internet.
Các nhóm phản đối được hình thành trong nhiều nước, tạo một áp lực mạnh trên
các chính phủ ở châu Âu, buộc họ cuối cùng phải tạm gạt bỏ ý đồ.
Theo báo Thụy Sĩ Die Weltwoche thì những người cầm đầu phong trào
phản kháng đó là Susan George, Chủ tịch “Tổ chức quan sát toàn cầu hóa” được
sáng lập năm 1996, có trụ sở tại Paris, nữ luật sư Mỹ nổi tiếng Lori Wallach,
Martin Khor người Malaysia thuộc Third World Network (Mạng lưới thế giới thứ
ba), Naomi Kleir, người Canada, nữ tác giả cuốn “No logo” được xem như thánh
kinh của những người chống toàn cầu hóa cùng nhiều người khác nữa.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

7


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

Mùa thu năm 1989, khi Bộ trưởng các nước từ khắp thế giới họp hội nghị
của WTO ở Seattle, 50.000 người chống toàn cầu hóa đã kéo đến đấy. Tổ chức

toàn cầu hóa quyết liệt đến như thế. Tại nơi diễn ra Hội nghị, có rất nhiều người
đã từng xuống đường biểu tình ở Seattle phản đối toàn cầu hóa, nhân Hội nghị
của Tổ chức thương mại thế giới WTO, nay lại có mặt tại Đavốt. Nhưng đáng lưu
ý hơn cả là lần đầu tiên có hẳn cả một “Diễn đàn xã hội” hay còn gọi là diễn đàn
chống Đavốt diễn ra cách đó ¼ vòng trái đất ở Pooctô Alêgri (Braxin). Tuy
không có mục tiêu làm đảo lộn chương trình nghị sự như các cuộc biểu tình trước
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

8


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

đây đã làm bên Hội nghị của WTO tại Seattle, nhưng “Diễn đàn xã hội” lần đầu
tiên này lại tỏ ra có hiệu quả hơn nhiều. Nó được đánh giá như mốc khai sinh của
một phong trào quốc tế mới chống lại những bất công do quá trình toàn cầu hóa
gây ra.
Số lượng người tham gia Diễn đàn này đã vượt quá mức dự đoán của
những người tổ chức. Theo dự kiến, sẽ có 2.500 người đến dự Diễn đàn, nhưng
trên thực tế đã có tới hơn 10.000 đại biểu từ 120 nước tham dự cùng hơn 1000
nhà báo. Tuy Diễn đàn xã hội thế giới Pooctô Alêgri không đưa ra một bản tuyên
ngôn quan trọng nào, nhưng đây sẽ là bước khởi đầu của một giai đoạn mới trong
việc khẳng định vai trò của các tổ chức xã hội thế giới trong cuộc đấu tranh
chống mặt trái của quá trình toàn cầu hóa. Mục tiêu đầu tiên của Diễn đàn xã hội
thế giới về cơ bản đã thành công: đó là nâng cao nhận thức đầy đủ và toàn diện
hơn về toàn cầu hóa cũng như phát triển mạng lưới hoạt động chống lại mặt tiêu
cực của quá trình này. Diễn đàn đã nhận được sự hậu thuẫn tích cực của khoảng
500 nghị sĩ đại diện cho hơn 100 quốc gia từ cả năm châu lục có mặt tại Diễn đàn

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

ta; kết hợp nội lực với ngoại lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp của sự nghiệp phát
triển đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là nhằm xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đáp ứng yêu cầu và lợi ích của quốc gia, đồng thời thông qua hội
nhập kinh tế quốc tế để phát huy vai trò và tiềm năng của nước ta trong quá trình
hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới, tranh thủ các nguồn vốn thiết bị, vật
tư, thành tựu khoa học công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị
trường, tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi, làm cho nước ta phát triển ngày
càng nhanh và bền vững hơn.
Nhưng, do xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang bị một số nước phát triển và
các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối chứa đựng nhiều mâu thuẫn
vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, nên Đảng đã lưu ý tất cả chúng ta ở mỗi
ngành, mỗi cấp là trong hội nhập kinh tế quốc tế phải nắm vững phương châm
chủ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo, nhằm bảo vệ
được lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tranh thủ được các thời cơ thuận lợi
trong hội nhập. Ngoài ra, còn cần thường xuyên đề cao cảnh giác, không mơ hồ
trước những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn lợi dụng quan hệ
kinh tế thương mại để thực hiện “diễn biến hòa bình”, xâm nhập, phá hoại chế độ
ta.
Thực hiện một cách nghiêm túc những điều căn dặn trên, chúng ta sẽ vững
chắc tiến bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trong qua trình hội nhập kinh tế thế giới và chúng ta cần có chủ trương
chủ động và hơn nữa tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu
hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan và nhất là khi Việt Nam ta đã trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), để thực
hiện thắng lợi chủ trương này, một mặt, chúng ta cần phải chủ động và tích cực
hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song
phương; đồng thời thực hiện hội nhập có trọng điểm, theo lộ trình phù hợp với
chiến lược phát triển đất nước. Mặt khác, chúng ta phải bảo đảm xây dựng nền

tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội trên thế giới”.
Có thể nói, chủ trương chủ động và hơn nữa, còn tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế mà Đảng ta đã đề ra là hoàn toàn đúng đắn trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế đã trở thành"một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham
gia" và nhất là khi Việt Nam chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO). Bước vào "sân chơi toàn cầu hóa", để tiếp tục
đổi mới đất nước một cách mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và
bền vững, làm cho thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh, sớm ra khỏi tình
trạng của một nước kém phát triển và nhanh chóng trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời vẫn giữ được môi trường hoà bình và tạo
thêm nhiều thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ
ngày một nhanh hơn, chúng ta không thể không mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế,
chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, khi hoà bình, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế lớn, để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, chúng ta không
chỉ kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển,
đồng thời thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa
dạng hóa các quan hệ quốc tế, mà còn phải tích cực phát triển công tác đối ngoại
nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả", “tăng
cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài”. Khi kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển,
nhưng trong sự phục hồi và phát triển đó vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó
lường, để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, một mặt, chúng ta cần phải chủ
động và tích cực hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu,
khu vực và song phương; mặt khác, thực hiện chủ trương hội nhập có trọng điểm,
"theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020", củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A


giới" và làm cho "công nghiệp mất cơ sở dân tộc", còn những ngành công nghiệp
vốn là lợi thế của mỗi dân tộc thì bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mà
việc du nhập chúng "trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn
minh". Không chỉ thế, toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản chủ động tạo ra và nắm
quyền khống chế, chi phối, như các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định,
còn khiến cho tình trạng cô lập, tự cung tự cấp ở các quốc gia dân tộc bị thay thế
một cách tất yếu và không thể cưỡng nổi bởi quá trình "phát triển những quan hệ
phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc". Theo đó, có thể nói, toàn cầu
hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, trong quan niệm của các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác, về thực chất, là sự hội nhập toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, là xu thế phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật của xã hội
loài người và do vậy, không một quốc gia dân tộc nào có thể tránh khỏi ảnh hưởng
của nó.
Thứ hai, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, toàn cầu hóa kinh tế, mặc dù
mang một nội dung mới, với những nét đặc thù mới, khác rất nhiều so với dự báo
của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, song về cơ bản, vẫn là quá trình hội nhập
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

12


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trên thực tế, nó đã thực sự
trở thành một xu thế khách quan, xu thế tất yếu mà để tiếp tục phát triển, không
một quốc gia dân tộc nào có thể đứng ngoài.
Thật vậy, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay không chỉ là một xu thế khách
quan, mà còn là một quá trình hiện thực, trong đó cả lực lượng sản xuất lẫn quan

Tất cả những yếu tố đó đang làm cho quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện
nay vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực; vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh;
vừa có khả năng tạo ra cơ hội phát triển, vừa chứa đựng nhiều mâu thuẫn và
mang đến những thách thức lớn, khó lường cho mọi quốc gia dân tộc. Toàn cầu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

13


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

hóa kinh tế hiện nay đã đem lại cho các nền kinh tế quốc gia - dân tộc mối quan
hệ gắn bó, hữu cơ, tùy thuộc vào nhau và khiến cho xu hướng liên kết kinh tế
giữa các nền kinh tế này trở thành tất yếu. Song, mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế
hiện nay vẫn đang bị một số nước tư bản phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản
xuyên quốc gia có sự tăng biến chưa từng thấy trong lịch sử khống chế, chi phối,
còn các nền kinh tế dựa trên tính ưu việt của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
đã không còn giữ được ưu thế vốn có trước đây của mình và do vậy, về thực chất,
nền kinh tế toàn cầu hiện nay vẫn là nền kinh tế của tư bản toàn cầu. Với tính
chất và bản chất đó, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay vẫn luôn tiềm ẩn những yếu tố
bất trắc, những thách thức lớn, khó lường và khiến cho sự bất bình đẳng trong
phát triển vốn đã lớn lại ngày càng lớn hơn, gây nên nhiều khó khăn cho các
nước đang phát triển mà Việt Nam chúng ta là một ví dụ.
Tuy nhiên, cũng với tính chất ấy, bản chất ấy, những thuận lợi và cơ hội
lớn mà toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang mang lại cho tất cả các nền kinh tế
quốc gia - dân tộc là điều không thể phủ nhận. Những thuận lợi và cơ hội đó
trước hết là ở chỗ, nhờ toàn cầu hóa kinh tế mà thị trường được mở rộng, sự giao
lưu hàng hóa trở nên thông thoáng hơn, hàng rào thuế quan ngày một giảm và do


phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự
chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ
gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường.
Có thể nói, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, nhất là trong bối cảnh toàn
cầu hóa kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, phương châm thực hiện chủ
trương hội nhập kinh tế quốc tế mà Đảng ta đã đưa ra là hoàn toàn đúng đắn. Bởi
lẽ, bằng cách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, một mặt, chúng ta sẽ
tận dụng được những cơ hội thuận lợi, những điều kiện thiết yếu để phát triển
kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; mặt khác, chỉ có trên cơ sở tự chủ
được về kinh tế, chúng ta mới có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực một cách có hiệu quả, mới có thể bảo đảm chủ quyền quốc gia và lợi ích dân
tộc .
Thật vậy, với Việt Nam chúng ta hiện nay, chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ nhằm mục đích tạo thêm nguồn lực, tạo ra
sức mạnh tổng hợp để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mà còn
nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu và lợi ích quốc gia trong quá trình phát triển và
qua đó, phát huy vai trò, ảnh hưởng của chúng ta tới quá trình hợp tác và phát
triển của thế giới và khu vực, góp phần thiết thực vào cuộc đấu tranh chung của
nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Kiên
định phương châm bảo đảm vững chắc độc lập tự chủ về đường lối, chính sách
phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc và coi đó như một nguyên tắc cơ bản trong hội nhập kinh tế quốc tế là cơ
sở nền tảng để chúng ta thực hiện thành công chủ trương chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
Không chỉ thế, việc xây dựng một tiềm lực kinh tế đủ mạnh để trên cơ sở đó, khai
thác tối đa các lợi thế cạnh tranh, vượt qua mọi nguy cơ, thách thức trong hội
nhập cũng là một yếu tố quan trọng, đảm bảo cho quá trình chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực có được những thắng lợi ngày càng to lớn và

cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, một mặt, chúng ta không được
phép để phương hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà chúng ta xứng đáng được
hưởng; mặt khác, chúng ta cũng phải chấp nhận một sự chia sẻ lợi ích hợp lý cho
các đối tác tham gia đầu tư và hợp tác sản xuất kinh doanh với chúng ta. Đồng
thời, chúng ta cũng cần phải giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác, vừa đấu tranh; vừa
kiên quyết, vừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu và bảo vệ được lợi ích chính đáng
của chúng ta trong quá trình đầu tư và hợp tác sản xuất kinh doanh.
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan còn đòi hỏi chúng ta phải thực hiện
nhất quán phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế. Bởi lẽ,
chỉ có trên cơ sở thực hiện tốt phương châm này, chúng ta mới có thể có được
khả năng bảo đảm lợi ích quốc gia, bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia trong
hội nhập; đồng thời còn có được khả năng giữ vững độc lập tự chủ và sự cân
bằng trong quan hệ quốc tế, tránh được sự lệ thuộc, phụ thuộc một chiều vào một
đối tác hay một số đối tác nào đó trong quá trình hội nhập. Và, cũng chỉ có trên
cơ sở thực hiện tốt phương châm này, chúng ta mới có thể tránh được sự độc
quyền kinh doanh của một tập đoàn hay một số tập đoàn kinh tế nào đó trên đất
nước ta, không để họ nắm quyền chi phối, khống chế, thao túng nền kinh tế nước
ta, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa các đối tác nước ngoài trong quá trình liên
kết, hợp tác làm ăn với nước ta, tạo ra những lợi thế cần thiết cho các doanh
nghiệp nước ta vươn ra làm ăn trên thị trường thế giới và khu vực.
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan còn đòi hỏi chúng ta phải phát huy
cao độ nguồn lực trong nước, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài, kết hợp
chặt chẽ nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp theo phương châm lấy
phát huy cao độ nguồn lực trong nước làm cái có ý nghĩa quyết định, lấy tranh
thủ tối đa nguồn lực bên ngoài làm cái có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ, trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, chỉ có trên cơ sở phát huy cao độ nguồn lực
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A


sách "mở cửa", "hội nhập" với tất cả các nước trên thế giới để thu hút ngoại lực
nhằm đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong khi hội nhập, mở cửa, chúng ta vẫn giáo dục vận động nhân dân và
có những chính sách đúng đắn nhằm bảo tồn nền văn hóa và bản sắc dân tộc.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quang Giàu – GDCT 3A

18


Bài kiểm tra

Học phần: Kinh Tế Đối Ngoại

Đồng thời chúng ta kiên quyết đấu tranh chống lại những ý đồ can thiệp vào công
việc nội bộ dưới mọi biểu hiện của "diễn biến hoà bình".
Chúng ta đã từng trả giá cho việc bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập
về chính trị. Nền kinh tế nước ta đã từng rơi vào khủng hoảng trầm trọng kéo
theo nhiều khó khăn, tiêu cực xã hội. Hơn ai hết chúng ta lại thấm nhuần bài học
"kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" và với tinh thần "chủ động và
sáng tạo" trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, việc tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa sẽ giúp chúng ta lợi dụng được sự phân công lao động quốc tế
mới và nếu biết đi tắt đón đầu một số ngành mũi nhọn hợp với khả năng và trình
độ của ta, chắc chắn chúng ta sẽ tranh thủ được những cơ hội mà toàn cầu hóa tạo
ra.
Như vậy, có thể nói, với Việt Nam hiện nay, chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế khách quan
để có thể tranh thủ, tận dụng và khai thác tối đa những cơ hội thuận lợi, đồng thời
có thể khắc phục và vượt qua mọi nguy cơ, thách thức, mọi khó khăn, trở ngại
trong quá trình hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status