1
Chương I: Lý luận chung về sự phát triền của yếu tố hàng hoá trong thực
tiễn nền kinh tế thị trường của nước ta
Ngày nay, không một ai phủ nhận vị trí vai trò đặc biệt quan trọng
của kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường trong quá trình phát triển kinh tế,và
phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế thế
giới đang ngày càng trở thành một thị trường thống nhất lôi cuốn tất cả các
nước chuyển sang kinh tế thị trường và gia nhập vào thị trường quốc tế. Do
đó, hoà với sự phát triển của kinh tế thị trường trên thế giới thì kinh tế thị
trường ở Việt Nam cũng phát triển với một tốc độ không kém cùng với sự
phát triển của nền sản xuất thể hiện qua việc thế giới hàng hoá ngày càng
phong phú, đa dạng , tính chất của hàng hoá ngày càng phức tạp.Vậy, để hiểu
hơn về “ sự phát triển của yếu tố hàng hoá trong nền kinh tế thị trường qua
thực tiễn kinh tế nước ta” diễn ra như thế nào chúng ta hãy cùng nhau xem
những phân tích dưới đây:
Lý luận chung về sự phát triển của yếu tố hàng hoá trong nền
kinh tế thị trường:
I. Khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
1. Khái niệm hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó
của con người, và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Hàng hoá ccó
hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị.
2. Hai thuộc tính của hàng hoá
2.1 Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoã mãn nhu cầu
nào đó của con người. Chính công dụng của vật phẩm làm cho nó trở thành
một giá trị sử dụng. Khoa học kỹ thuật càng phát triển, càng phát hiện ra
2
III. Các quy luật ảnh hưởng đến yếu tố hàng hoá trong nền kinh tế
thị trường( KTTT)
1. Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa cácc chủ thể tham gia
sản xuất, kinh doanh với nhau, nhằm giành những điều thuận lợi trong sản
xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, dich vụ để thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình.cạnh tranh sẽ giúp thúc đẩy sxuất phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên,
cạnh tranh cũng có mặt trái của nó, đó là tình trạng làm hàng giả, đầu cơ, trốn
thuế….
2. Quy luật cung - cầu và giá cả thị trường
Cung - cầu thường xuyên tác động lẫn nhau trên thị trường độc lập với ý chí
con người. Cầu xác định lưọng cung và ngược lại cung xác định lượng
cầu.Quan hệ cung -cầu tác động lên giá cả và ngược lại, giá cả tác động lên
cung -cầu.
Trong nền KTTT, giá cả thị trượng là hình thức biểu hiện sự hoạt động của
quy luật giá trị.giá cả thị trường được hiểu theo nhiều quan niệm sau:giá cả là
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả là tương quan tỷ lệ giữa hàng
hoá và tiền tệ. Giá cả là số tiền mà người mua phải trả cho người bán. (1 trang
60, 61)
IV. Tác dụng to lớn của sự phát triển yếu tố HH trong nền kinh tế
thị trường
Sự phát triển của yếu tố hàng hoá(YTHH) trong nền kinh tế thị trường có tác
dụng tích cực đến các mặt :
- Một là, sự phát triển của HH sẽ tạo ra nhiều loại HH trên thị trường
với đủ chủng loại, mẫu mã được cải tiến,chất lượng được nâng cao, cũng như
tăng khối lượng hàng hóa và dịch vụ. Điều này giúp cho sản phẩm HH của
nước ta có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài.
4
5
trên thị trường đa dạng, phong phú về chất lượng, giá cả, nguồn gốc. Theo
đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì trong những năm sắp tới thị trường
HH Việt Nam sẽ có những biến động lớn đặc biệt là sự tăng vọt khối lượng
HH trên thị trường hàng công nghiệp và dịch vụ.
- Thứ ba, do đòi hỏi khách quan của chi tiêu tiêu dùng xã hội khi mà
thu nhập khả dụng không ngừng tăng, đã kéo theo sự cần thiết phải tăng chi
mua HH. Vì vậy, HH phát triển phát triển là điều tất yếu để thỏa mãn mọi nhu
cầu trong xã hội.
Chương II: Thực trạng của sự phát triển hàng hóa trong nền kinh tế thị
trường nước ta hiện nay.
I. Thực trạng của sự phát triển hàng hoá
Một câu hỏi được đặt ra là: “ Hiện nay, hàng hóa Việt Nam đi vào thế
giới còn kém về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh... Vì sao vậy?” Có
nhiều lý do, nhưng có một lý do chính là, nền kinh tế hàng hóa nước ta chưa
thật sự trở thành nền kinh tế hàng hóa lớn. Lấy việc xuất khẩu nông, thủy sản
làm ví dụ. Cơ sở sản xuất, chế biến nông, thủy sản ở nước ta, nói chung còn
lạc hậu, trong khi thị trường quốc tế lại khó tính, đòi hỏi rất cao về chất
lượng, quy cách và mẫu mã sản phẩm. Không tiến lên trình độ sản xuất lớn,
hiện đại thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ không thể khắc phục được sự lạc
hậu. Chúng ta sẽ không đi lại con đường từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây. Tuy rằng việc xây
dựng những tổ hợp sản xuất, chế biến quy mô lớn nào đấy chuyên để xuất
khẩu là cần thiết, nhưng sản xuất lớn không có nghĩa là quy mô mọi thứ phải
lớn. Con đường đi lên sản xuất lớn của chúng ta hiện nay là con đường thị
trường, một con đường mà chúng ta phải tìm tòi, khai phá ra. Vẫn là kinh tế
gia đình, nhưng nếu biết biến các cơ sở nhỏ lẻ của nó thành những mắt khâu
của nền kinh tế thị trường lớn, một nền kinh tế có sự liên kết các cơ sở sản
7
phân biệt giữa quản lý nhà nước và quản lý các đơn vị kinh tế. Các đơn vị sản
xuất, kinh doanh rất ít quyền chủ động. Các nhà máy được cung cấp nguyên
vật liệu, vật tư kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm. Việc phân phối, tiêu thụ hàng
hóa do các đơn vị thương nghiệp thực hiện. Người tiêu dùng tiếp nhận hàng
hóa một cách thụ động không có quyền lựa chọn.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau chúng ta luôn ở trong tình trạng khan
hiếm hàng hóa. Hàng hóa sản xuất ra bất kể xấu tốt thế nào đều tiêu thụ
hết.Hàng hóa xuất khẩu thường bị khiếu nại về chất lượng. Chủng loại, cơ cấu
hàng hóa ngày càng nghèo nàn. HH không được đổi mới cải tiến, lạc hậu thấp
kém so với HH ngoại. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã
hội.
Giai đọan từ 1986 đến nay: Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối
đổi mới nền kinh tế, thực hiện kinh tế mở, nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, các doanh nghiệp được trao quyền
chủ động trong mọi họat động, xóa bỏ bao cấp. Các doanh nghiệp phải chấp
nhận sự cạnh tranh để tồn tại và chất lượng HH, dịch vụ trở thành vấn đề
quyết định. Do đó, các đơn vị sản xuất, kinh doanh không ngừng đưa ra thị
trường nhiều lọai HH với mẫu mã, chủng loại khác nhau và chất lượng ngày
càng nâng cao. Vì vậy khả năng cạnh tranh trên thị trường của hàng hóa sẽ tốt
hơn và người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn khi mua HH.
Một số ví dụ so sánh tình hình phát triển HH thời kì trước và sau đổi
mới
Trước thời kì đổi mới (thời bao cấp) giáo dục không phải là hàng hóa người
ta thường bị dị ứng khi nghe các loại hình dịch vụ về giáo dục, nhìn chung khi
đó chỉ có khối hệ thống trường học của các trường công lập( trường do nhà
nước mở). Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, giáo dục cũng
có thể chia HH hiện nay ra thành 3 loại: hàng công nghiệp, hàng nông,
9
lâm,thủy sản và hàng dịch vụ.Dưới đây là bảng số liệu về sản lượng 1 số sản
phẩm chủ yếu và chỉ tiêu cơ bản về sản xuất lúa thời kỳ 1990-2000.
Năm 1990
2,7
Năm 2000
16,5
tấn)
8,7
26,6
Điện (tỉ kwh)
4,6
10
Than sạch ( triệu tấn)
0,1
1,7
lúa ( triệu
bình quân/
khẩu
người ( kg)
325
( triệu tấn)
1,6
1990
6,0
31,9
tấn)
19,2
1995
6,7
36,9
24,4
42,5
32,0
Nguồn: niên giám thống kê ( 1999, 2000)
444
4,5
Diện tích
Tổng Chia ra
Lúa
số
Lúa
đông
hè thu
xuân
Nghìn ha
Lúa
mùa
Sản lượng
Chia ra
Tổng số Lúa
đông
xuân
Nghìn tấn
Lúa
6559,4 2323,6 1549,1 2686,7
19621,9 6788,3
21590,4 9156,3
22836,5 9035,6
10508,
4715,8
4907,2
5633,1
8117,
7526,
8167,
1994
1995
6598,6 2381,4 1586,1 2631,1
6765,6 2421,3 1742,4 2601,9
7003,
23528,2 5
5679,4
24963,7 10736,6 6500,8
7340,
7726,
1996
7666,3 3013,2 2292,8 2360,3
2210,
31393,8 0
8758,3
32529,5 15571,2 8625,0
32108,
8532,
8333,
2001
7492,7 3056,9 8
3033,
4
15474,4 8328,4
8305,
2002
7504,3 0
34447,2 16719,6 9188,7
34568,
8538,
8
17530,7 9714,5
Bảng trên cho thấy từ năm 1990- 2000, sản lượng công nghiệp Việt Nam tăng
mạnh, so với năm 1990 sản xuất dầu thô năm 2000 tăng gấp 6 lần, sản lượng
điện gấp 3 lần, sản lượng thép cán gấp 16 lần, xi măng gấp 5,3 lần .Trong khi
đó sản xuất nông nghiệp Việt Nam có những bước tiến căn bản: diện tích
8581,
11
canh tác, năng suất lúa, sản lượng lương thực và sản lượng gạo xuất khẩu tăng
liên tục qua các năm.
Tuy nhiên, khi nói đến hàng hóa mà chỉ chăm chú vào phát triển sản
lượng thì HH của nước ta không thể đứng vững trên thị trường được, muốn
tồn tại và phát triển ta cần phải nâng cao chất lượng HH. Chất lượng chính là
sự đáp ứng yêu cầu của người sử dụng tức là HH sản xuất ra phải phù hợp với
mục đích và điều kiện sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể. Hiện nay chất
lượng được đánh giá thông qua ISO ( từ vựng chất lượng). Các chỉ tiêu đánh
giá chất lượng sẽ thay đổi qua các năm tùy vào sự phát triển của nền kinh tế.
Việc quản lý Nhà nước về quản lý chất lượng hàng hóa, dịch vụ bao gồm :
- Nhà nước định hướng sự phát triển nâng cao chất lượng hàng hóa,
dịch vụ, xây dựng kế hoạch, quy hoạch về chất lượng, ban hành luật và các
chính sách khuyến khích chất lượng.
- Nhà nước quy định chế độ, thể lệ về quản lý chất lượng, ban hành tiêu
chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến chất lượng hàng hóa,
dịch vụ.
nền kinh tế. Thông qua hoạt động ngoại thương HH được vận chuyển và lưu
thông ra nước ngoài được gia tăng. Do đó, HH xuất khẩu (XK) cũng có sự
biến đổi lớn về tất cả các mặt. Giữa HHXK và hàng nội địa đều có có những
yêu cầu chất lượng giống nhau nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, kinh tế chưa
phát triển, hàng tiêu thụ nội địa và hàng XK còn có sự phân biệt. Hàng XK
bao giờ cũng có những đói hỏi cao hơn hàng nội địa về chất lượng và mẫu
mã. Tuy vậy, nhờ việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nước ta đã tăng
được sản lượng HHXK trong những năm qua, đây là một dấu hiệu khả quan
phản ánh sự phát triển ngày càng cao của yếu tố HH trong nền KTTT nước ta
hiện nay.Theo đánh giá về thành tựu của việc thực hiện kế hoạch 5 năm về
xuất nhập khẩu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X thì tổng kim ngạch
xuất khẩu HH 5 năm đạt gần 111 tỉ USD, tăng 17,5%/năm ( kế hoạch
16%/năm); năm 2005 xuất khẩu bình quân đầu người đạt 390 USD gấp đôi
năm 2000. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 5 năm là 130,2 tỉ USD, tăng
18,8%/năm. Nhập siêu hàng hóa 5 năm là 19,3 tỉ USD, bằng 17,4% tổng kim
ngạch xuất khẩu HH. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tỉ trọng hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 35,8% năm
2005, hàng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 29% xuống còn 24,4%, hàng
công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 33,9% lên 39,8%. Dưới đây
là một số số liệu về xuất khẩu gạo và một số hàng hóa công nghiệp, hàng
nông-lâm thủy sản thời kì 1991-2000
14
Xuất khẩu gạo của Việt Nam
Đơn vị:
triệu tấn
Việt nam
25,3
28
23,8
25
35,7
nghiệp 14,4
17,6
28,4
36,7
35,5
36,8
34,3
48,4
46,3
35,3
II.
Đánh giá chung về thực trạng sự phát triển của yếu tố HH
trong thực tiễn nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay:
1. Ưu điểm:
- Thứ nhất, nhìn chung sự phát triển của yếu tố HH sẽ tạo ra sự đa dạng
và phong phú về số lượng và chủng loại những hàng hóa trên thị trường một
mặt phản ánh những trình độ cao của năng suất lao động xã hội, mặt khác
cũng nói lên mức độ phát triển của quan hệ trao đổi, trình độ của phân công
lao động xã hội và sự phát triển của thị trường. Việc nâng cao phát triển yếu
tố HH trong kinh tế thị trường sẽ giúp đẩy mạnh sức cạnh tranh của HH, của
doanh nghiệp của nền kinh tế để theo kịp yêu cầu hội nhập.
- Thứ hai, sự phát triển của yếu tố HH cũng góp phần nâng cao đời
sống vật chất, tăng khả năng lựa chọn cho người tiêu dùng. Thông qua khâu
trung gian là sự phát triển của HH, đời sống thật sự được cải thiện nên khi
phỏng vấn 2,5 vạn hộ tự đánh giá về mức sống năm 1999 so với năm 1990 thì
có 84,46% số hộ cho rằng đời sống có tốt hơn, 11,11% số hộ cho rằng đời
sống như cũ và chỉ có 4,43% cho rằng đời sống bị giảm sút.Bên cạnh đời sống
vật chất được cải thiện thì cả đời sống văn hóa, chăm sóc y tế cho người dân
cũng được nâng cao : đến giữa năm 2000 nước ta đã hoàn thành chương trình
mục tiêu chống nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Theo đánh giá của
tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc ( UNDP) thì chỉ số giáo dục của nước ta
năm 1999 đứng thứ 92 trên 174 nước, chỉ số phát triển con người ( HDI) đã
nâng được từ vị trí thứ 122 năm 1995 lên thứ 110 trong 174 nước năm 1999.
Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng có nhiều tiến bộ. (2 trang
37)
- Thứ ba, nó kích thích đổi mới kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất. Sức ép
của cạnh tranh buộc những người sản xuất phải áp dụng phương pháp sản
quy định có tính chất hành chính về thị trường bán và mua hàng, về giá cả, về
17
tỷ giá hối đoái, đã khiến cho các hoạt động kinh tế trong nước bị tách rời khỏi
hệ thống kinh tế thế giới.
Trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tuy có sử dụng một số khái niệm, phạm
trù trong sản xuất HH, nhưng ở đây, cơ chế thị trường không có tác dụng. Mọi
họat động kinh tế đã được nhà nước hóa. Sản xuất mặt hàng nào, sản xuất bao
nhiêu, tiêu thụ ở đâu, giá cả bao nhiêu đều do Nhà nước quyết định.
Ba là, vì mục đích hoạt động đạt lợi nhuận tối đa và sản xuất ra nhiều sản
phẩm càng tốt, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm
môi trường sống của con người.
Bốn là, phân phối thu nhập sẽ không cân bằng, vì sự tác động của cơ chế thị
trường sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Do đó người nghèo ít được sự lựa
chọn trong việc mua hàng hóa.
Chương III: Phương hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển hàng hóa
trong nền kinh tế thị trường
Do sự phát triển của yếu tố HH vẫn còn nhiều khuyết tật cho nên, để
hạn chế những khuyết tật vốn có của nó đồng thời thúc đẩy sự phát triển cao
hơn nữa của HH thì sự can thiệp của Nhà nước để sửa chữa những thất bại
của sự phát triển HH trong nền kinh tế thị trường là một điều tất yếu. Quá
trình phát triển kinh tế hàng hóa nói riêng và nền KTTT nói chung ở nước ta
trong suốt 15 năm qua với nhưng thành tựu dã đạt được và những tồn đọng
chưa được giải quyết đã giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích
trong cả nhận thức và công tác thực tiễn.
Hiểu rõ nhu cầu cần thiết đó. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của nền
Một số chính sách thúc đẩy tăng trưởng hàng hóa đã được ban hành
như:Trước mắt các mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế ngay đầu năm 2007 gồm
1.812 dòng thuế, chiếm 17% biểu thuế, mức cắt giảm bình quân 44% so với
20
hiện hành, đây là các mặt hàng đang có thuế suất cao từ 30% trở lên và chủ
yếu là hàng tiêu dùng nên đa số người dân sẽ được hưởng lợi; riêng ngành dệt
may có mức cắt giảm thuế tương đối lớn, sẽ có tác động quan trọng tới sản
xuất và giá cả của nhóm hàng dệt may. Các ngành chịu ảnh hưởng nhiều từ
cạnh tranh của hàng nhập khẩu do việc giảm thuế (ảnh hưởng trực tiếp đến
kim ngạch nhập khẩu) gồm: các sản phẩm gỗ, giấy, ô tô, xe máy, san phẩm
hóa chất, đồ nhựa, dệt may, máy móc thiết bị các loại… Đặc biệt các mặt
hàng như mỹ phẩm các loại, xà phòng giảm 20 - 40%, đồ trang sức bằng kim
loại quý, đá quý, ngọc trai giảm 25%, quạt điện giảm 25%, một số linh kiện
chính của xe ô tô giảm 10 - 17%, bánh kẹo các loại giảm 20 - 30%, một số
dầu thực vật giảm 20 - 40%. Một số mặt hàng giảm thuế nhập khẩu từ tháng
1/2007: Bia giảm 20%; Sản phẩm nhựa dùng trong gia đình giảm 20%; Hàng
dệt may giảm 63%; Giày dép mũ các loại giảm 20%; Đồng hồ các loại giảm
25%; Chè giảm 20%; Thịt chế biến (hộp) giảm 20%; Gạch ốp giảm 17%; Đồ
sứ giảm 17 - 20%; Thủy tinh, kính giảm 10%; Một số loại ắc quy giảm 20%;
Một so hàng tạp hóa khác giảm 20 - 25%.Riêng đối với nông nghiệp, áp lực
cạnh tranh là lớn do sản xuất nông nghiệp của ta vẫn là nền sản xuất nhỏ,
phân tán, năng suất và chất lượng thấp trong khi bình quân đất nông nghiệp
theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác trung
bình ở mức 30 triệu đồng/ha. Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến chủ trương
và các giải pháp này. Tới đây sẽ phải xây dựng thành cơ chế và chính sách cụ
thể, nhưng cần chú ý là Không bảo hộ trực tiếp khâu xuất khẩu nông sản,
không được hỗ trợ cho việc thay thế, hạn chế nhập khẩu. (3 trang 150, 168,
nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời có biện pháp xử lý
những cán bộ tha hóa về phẩm chất, yếu kém về năng lực; phát huy dân chủ
22
để xây dựng một Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân
và vì dân.Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam cần luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam bởi chỉ có như vậy việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta mới
thực sự đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều này một mặt
quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, mặt khác Đảng cũng cần phải luôn đổi mới,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đổi mới phương thức lãnh đạo
cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
23