Lê Khăc Thu: Cử nhân khoa học lịch sử.
Ý kiến của các nhà sử học và của anh (chị) về hình thái kinh tế - xã hội
Việt Nam trước thời Bắc thuộc?
Phương thức sản xuất là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Maxr. Nó có nghĩa nôm na là "cách thức của sản xuất". Theo Marx, nó là
tổ hợp hữu cơ cụ thể của:
Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết bị lao
động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai được sử dụng.
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm soát và
phân chia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường được đưa ra
trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Marx-Lenin rất quan tâm đến các vấn đề phương
thức sản xuất trong lịch sử tiến hoá của nhân loại.
Marx và Engles trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” viết năm 1845 – 1846,
nói rằng trướng chủ nghĩa tư bản xã hội loài người đã trải qua 3 phương thức sở
hữu cơ bản.
“…Hình thức sở hữu đầu tiên là hình thức sở hữu Bộ lạc. Nó phù hợp với
giai đoạn chưa phát triển sản xuất, khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá,
bằng chăn nuôi hay nhiều lắm bằng trồng trọt…”.
“… Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữu công xã và sở hữu nhà
nước tồn tại trong thời cổ và ra đời chủ yếu từ sự tập hợp-bằng hiệp ước hay bằng
chinh phục – nhiều Bộ lạc thành một Thị tộc và chế độ nô lệ vẫn tồn tại ở đó…”.
“…Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp. Nếu
điểm xuất phát của thời cổ đại là thành thị và lãnh thổ nhỏ của nó thì điểm xuất
phát của thời trung cổ lại là nông thôn…trái với Hy lạp và Rôma, sự phát triển
phong kiến bắt đầu trên một địa vực rộng hơn nhiều… Những thế kỷ cuối cùng của
Đế quốc Rôma suy tàn và cuộc chinh phục đế quốc đó bỡi những người dã man đã
phá huỷ một khối lớn những lực lượng sản xuất… Đướ ảnh hưởng của chế độ quân
sự của người Giéc manh thì hoàn cảnh vốn có đó và cách thức tổ chức trinh phục
do hoàn cảnh đó đẻ ra, đã phát triển chế độ sở hữu phong kiến…”(1).
thức sản xuất trước đây được Marx và Engles nghiên cứu ở châu Âu (phương Tây)
đến nay, trước sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân đi xâm chiếm thuộc địa Marx
mới có điều kiện nghiên cứu về phương Đông (châu Á) thì xuất hiện thêm một
phương thức sản xuất nữa ở phương Đông được Marx coi là phương thức sản xuất
châu Á và coi là trước chủ nghĩa tư bản xã hội loài người đã trải qua bốn phương
thức sản xuất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng của mình cũng
rất quan tâm đến đặc điểm của xã hội phương Đông. Từ năm 1924, trong bài “báo
cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” người đã viết:
“… Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội
phương Tây thời cổ đại cũng như thời cận đại…
Marx đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử
nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là
toàn thể nhân loại.
Marx cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: Chế độ
chiếm nô, chế độ nô lệ, chế độ tư bản… chúng ta phải coi chừng! các dân tộc viễn
đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(4).
Như vậy Hồ Chí Minh lại đi ngược lại với quan điểm của Marx. Người cho
rằng chúng ta phải xem xét lại quan điểm của Marx về xã hội phương Đông là chưa
hẳn đã tồn tại hai phương thức sản xuất đó là chiếm nô và nô lệ. Qua đây ta có thể
thấy từ rất sớm và sớm nhất ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng
về mặt kinh tế - xã hội, Ấn Độ hay Trung Quốc không giống như phương Tây thời
cổ đại và thời cận đại; đồng thời Người nghi ngờ (sự thực là phủ định) sự tồn tại
của chế độ nô lệ và chế độ nông nô ở viễn Đông.
2
Như vậy vấn đề các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản trên phạm
vi toàn thế giới là một vấn đề vô cùng phức tạp, đặc biệt là vấn đề phương thức sản
xuất ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.
vào làm một và máy móc ứng dụng vào những luận điển của Maxr, Engles về công
xã, sở hữu nhà nước, sở hữu công xã.v.v… vào cách khái quát nhận thức của mình.
Một điều đáng tiếc là các nhà sử học châu Á còn lên tếng quá ít. Cuộc hội thảo
trước đây của các nhà sử học Trung Quốc về chế độ ruộng đất, không những
không đạt đến một sự nhất trí tương đối mà còn chưa đạt về độ sâu của nhận thức.
Các nhà sử học Maxr xít Ấn Độ cũng không làm được gì hơn so với các nhà sử học
phương Tây” (trang 9).
Như vậy nếu theo ý kiến của Gs. Trương Hữu Quýnh thì vấn đề được gọi là
phương thức sản xuất châu Á vẫn chưa có một ý kiến thống nhất đặc biệt là trong
3
giới sử học châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam giới sử học cũng rất quan tâm đến
vấn đề hình thái kinh tế - xã hội trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nhất là giai
đoạn trước chủ nghĩa tư bản với những học giả nổi tiếng như: Nguyễn Lương Bích,
Nguyễn Hồng Phong, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Văn Tạo, Chử Văn Tần, Lê
Kim Ngân, Vũ Huy Phúc, Phan Đại Doãn v.v… đều khẳng định có sự tồn tại của
phương thức sản xuất châu Á ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Vậy thì phương thức sản xuất châu Á là gì? Ta đã nghe nói về phương thức sản
xuất châu Á nhưng chưa có một định nghĩa hay sự lý giải về nó. Phương thức sản
xuất châu Á theo sự lý giải của PGs. Nguyễn Gia Phu viết trong phần kết luận của
đề tài khoa học “những phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản” năm 1996
như sau:
“Thế là sau xã hội nguyên thuỷ và trước chủ nghĩa tư bản hay nói đúng hơn
trước khi đại bộ phận các nước phương Đông bị biến thành thuộc địa hoặc nửa
thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây, ở phương Đông chỉ có một phương
thức sản xuất mà thôi. Theo thói quen phương thức sản xuất ấy được gọi là phương
thức sản xuất phong kiến. Đó cũng chính là hình thái kinh tế xã hội mà Marx gọi là
phương thức sản xuất châu Á hoặc hình thái châu Á. Do vậy tuyệt nhiên không có
sự chuyển biến từ phương thức sản xuất sang chế độ phong kiến” (trang 48-49).
nghiên cứu lịch sử các số 52 và 54, tác giả Nguyễn Lương Bích cho rằng phương
thức sản xuất châu Á là “chế độ công xã nông thôn ở châu Á”.
Gs. Nguyễn Hồng Phong trong bài “về phương thức sản xuất châu Á-lý
thuyết và thực tiễn” đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 1 năm 1982 viết:
“chúng ta có thể sơ bộ định nghĩa phương thức bóc lột của chế độ xã hội
theo phương thức sản xuất châu Á là trên cơ sở chế đọ chiếm hữu nhà nước về
ruộng đất, giai cấp quý tộc quan liêu đã bóc lột sản phẩm thặng dư dưới hình thức
tô thuế do nông dân công xã nộp” (trang 11).
Về sự khác nhau giữa xã hội phương thức sản xuất châu Á và xã hội phong
kiến, Gs. Nguyễn Hồng Phong viết:
“…Do quá trình phong kiến hoá kéo dài trong lòng xã hội phương thức sản
xuất châu Á cho nên sự phân gianh giới giữa xã hội phương thức sản xuất châu Á
và xã hội phong kiến sơ kỳ sẽ không đơn giản. Một cách đại cương – chúng ta đưa
ra một tiêu chuẩn coi như giả thiết để làm việc là: xã hội là phương thức sản xuất
châu Á khi đại bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu công xã, nhà nước. Xã hội phương
thức sản xuất châu Á chuyển sang giai đoạn sơ kỳ phong kiến chừng nào mà đại bộ
phận ruộng đất thuộc về sở hữu tư nhân…” (nghiên cứu lịch sử số 1, năm 1982.
trang 37).
Như vậy theo Gs. Nguyễn Hồng Phong thì sự khác nhau giữa xã hội phương
thức sản xuất châu Á và xã hội phong kiến đó là về sự sở hữu ruộng đất. Nếu đại bộ
phận ruộng đát thuộc về sở hữu công xã, nhà nước thì đó là phương thức sản xuất
châu Á còn khi đại bộ phận ruộng đất thuộc về sở hữu tư nhân là xã hội phong
kiến. Do vậy ta có thể đoán định được rằng xã hội thuộc phương thức sản xuất châu
Á tồn tại ở phương Đông thuộc giai đoạn đầu của nhà nước phong kiến hay nói
cách khác đó là thời sơ kỳ và dần phát triển lên xã hội phong kiến.
Trong khi ý kiến của các nhà sử học nói trên như vậy, thì các nhà sử học
nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế giới ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và
trường Đại học Sư phạm Hà Nội tỏ ra dè dặt hơn. Trong các giáo trình lịch sử thế
giới cổ đại do Chiêm Tế, Trịnh Nhu, Nguyễn Gia Phu biên soạn, các tác giả chỉ
trình bày lịch sử các nước phương Đông cổ đại chứ chưa kết luận chế độ xã hội
như thế. Vậy thì ở Việt Nam? Một nước thuộc phương Đông thì phương thức sản
xuất trước thời Bắc thuộc giống phương Đông chăng hay phương Tây, hay là sự kết
hợp của cả hai yếu tố trên?!
Xã hội loài người khi bước vào xã hội có nhà nước sơ khai đều trải qua giai
đoạn công xã nguyên thuỷ đây là giai đoạn bộ lạc, bộ tộc thì hầu như nước nào
cũng trải qua giai đoạn này và Việt Nam cũng không loại trừ. Còn xã hội chiếm
hữu nô lệ thì có nước có, có nước không, chứ không nhất thiết nước nào cũng phải
trải qua như chế độ công xã nguyên thuỷ. Như ý kiến của các nhà sử học đã trình
bày trên thì đa số cho rằng phương Đông không qua giai đoạn chế độ chiếm hữu nô
lệ mà bằng một chế độ khác đó là phương thức sản xuất châu Á. Vậy ở Việt Nam
có hay không chế độ chiếm hữu nô lệ thời Văn Lang – Âu Lạc nhà nước sơ kỳ đầu
tiên?
Nhìn chung giới sử học Việt Nam đều nhất trí cho rằng ở Việt Nam không
tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ mà chỉ tồn tại nô tì là những người giúp việc cho các
nhà quyền quý và quan lại nó là một dạng thức của phương thức sản xuất châu Á.
Từ đó đến nay nhiều nhà sử hộc nổi tiếng của Việt Nam đều nhất trí cho rằng
sau chế độ công xã nguyên thuỷ Việt Nam bước vào xã hội theo phương thức sản
xuất châu Á. Tiếp đó từ xã hội phương thức sản xuất châu Á đã dầ chuyển sang chế
độ phong kiến; tuy nhiên trong số những nhà sử học chủ trương ở Việt Nam tồn tại
phương thức sản xuất châu Á vẫn có một ý kiến chưa thống nhất là vào thời điểm
nào Việt Nam đã chuyển từ xã hội theo phương thức sản xuất châu Á sang xã hội
phong kiến? theo như ý kiến của đại đa số nhà sử học nêu lên sự khác nhau giữa
phương Đông và phương Tây, và sự ra đời của phương thức sản xuất châu Á thì xã
hội phương thức sản xuất châu Á là thời sơ kỳ của nhà nước phong kiến. Vậy thì
6
Việt Nam dưới thời Văn Lang-Âu Lạc được coi là thời kỳ của xã hội phương thức
sản xuất châu Á và điều này được biết đến qua kết quả của việc khảo sát chế độ
ruộng đất, giai cấp nông dân và phương thức bóc lột đối với nông dân.
- Nô tì.
- Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn là tầng lớp đông đảo nhất trong
xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu.” (trang 44)
Như Gs. Phan Huy Lê thì Gs. Trương Hữu Quýnh cũng cho rằng ở xã hội
Việt Nam thời cổ đại đã xuất hiện nô lệ gia trưởng và xã hội đã có sự phân chia giai
cấp sơ kỳ, lấy công xã nông thôn làm cơ sở và là tầng lớp đông đảo nhất trong xã
hội.
Như vậy ý kiến của nhiều nhà sử học về xã hội Việt Nam tựu chung lại là
đều cho rằng xã hội Việt Nam không trải qua một thời kỳ thống trị của chế độ
7
chiếm hữu nô lệ nhưng quan hệ nô lệ đã xuất hiện và nó chỉ phát triển đến một
chừng mực nào đó và dưới một hình thức khác đó là chế độ nô lệ gia trưởng và xã
hội Việt Nam trải qua thời kỳ phát triển của xã hội có nhà nước sơ kỳ ở phương
Đông nghĩa là qua xã hội phương thức sản xuất châu Á.
Ý kiến của riêng tôi là ở xã hôi Việt Nam thời cổ đại cũng không trải qua sự
thống trị của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ như ở phương Tây mà ở Việt
Nam nó chỉ mới manh nha xuất hiện “giai cấp” nô lệ gia trưởng cho nên chưa có
địa vị chủ yếu trong xã hội. Do vậy không thể nói ở Việt Nam trải qua sự thống trị
của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chế độ chiếm hữu nô lệ theo quan điểm của chủ nghĩa
Marx phải là tầng lớp làm ra của cải vật chất cho xã hội và chiếm một vị trí nhất
định trong xã hội thì khi đó nó mới thật sự thống trị và xã hội mới trải qua thời kỳ
thống trị của nó, còn ở đây như chúng ta đã biết sự xuất hiện của nô lệ gia trưởng
hay nô tì ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng thực ra đó mới chỉ là
tầng lớp kẻ hầu, người hạ hay nói đúng hơn đó là một bộ phận kẻ hầu, người hạ
trong cung đình cho vua chúa hay tầng lớp trên của xã hội chứ chưa hề sản xuất ra
của cải vật chất cho xã hội mà của cải xã hội là do công xã nông thôn, một tầng lớp
dân tự do chiếm đông đảo trong xã hội và giữ địa vị chủ yếu để sản xuất ra của cải,
và được các nhà sử học cho họ thuộc thời sơ kỳ của xã hội phong kiến phương
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Các Marx – Phriđrich Engles: Tuyển tập (bộ 6 tập) - tập 1. NXB sự thật –
Hà Nội 1980.
2. Các Marx – Phriđrich Engles: Toàn tập - tập 13. NXB Chính trị quốc gia.
Hà Nội 1994.
3. V.I.Lênin: Bàn về nhà nước – NXB sự thật – Hà Nội 1960.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập – tập 1. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 1995.
5. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử: Số 52 và 54 năm 1963.
Số 1 (202) năm 1982.
6. Gs. Lương Ninh (chủ biên): Lịch sử thế giới cổ đại. NXb Giáo dục, Hà
Nội 2002.
7. PGs. Nguyễn Gia Phu: Những phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư
bản. Đà Lạt. 1996 – 1998.
8. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh: Lịch sử Việt
Nam tập 1. NXb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1993.
9. Trịnh Nhu, Nguyễn Gia Phu: Đại cương lịch sử thế giới cổ đại. tập 1. NXb
Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội 1990.
10. Gs. Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam. Tập 1. NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội 1982.
11. Gs. Trương Hữu Quýnh (chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1.
NXB Giáo dục, Hà Nội 2002.
12. Gs. Văn Tạo: Phương thức sản xuất châu Á – lý luận Marx-Lênin và thực
tiễn Việt Nam. NXb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996.
13. Vũ Huy Phúc: Tìm về chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
NXb Khoa học xã hội, Hà Nội 1979.
10