Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ XX ghi nhận trong lịch sử loài người những dấu ấn sâu sắc. Đây là
thế kỷ của những cuộc cách mạng khoa học phát triển vượt bậc và nhanh chưa
từng có, của những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, là thế kỷ của những
chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của thời đại. Việt Nam một dân tộc
anh hùng đã bước qua cuộc đấu tranh giành độc lập tư do, thống nhất đất nước
và xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự ngạc nhiên và cái nhìn đầy khâm phục của
bạn bè thế giới. Song, công cuộc xây dựng đất nước phát triển kinh tế -xã hội,
với nền kinh tế mang nặng đường lối tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho
nước ta tụt hậu xa về mọi mặt từ kinh tế - văn hóa - đời sống xã hội… so với các
nước trong khu vực nói riêng và các nước trên toàn thế giới nói chung. Nền kinh
tế đó đã tạo ra tình trạng lạm phát, sự khan hiếm hàng hoá, nạn tham nhũng, suy
thoái về đạo đức của cán bộ Đảng viên, cùng hàng loạt những tiêu cực xây dựng
khác.
Đến công cuộc đổi mới, sự giác ngộ cùng với những thời cơ mới, Đảng đã
đề ra quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là : Phải phát triển nhanh hiệu quả và
bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội nhưng vẫn xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Trong đó
phải bố trí sao cho cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về cơ cấu thành phần kinh tế thực hiện
nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, phải chủ động sắp xếp lại tổ chức, đổi mới và nâng cao hiệu
quả các doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư chiều sâu, thay đổi trang thiết bị, cổ
phần hóa một số doanh nghiệp. Chính những chính sách trên của Đảng đã làm
cho nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo đói, từ một nước nhập khẩu lương thực
nay chúng ta đã trở thành một quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, nền
kinh tế dần dần được khôi phục và phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng
được nâng cao.
Qua 2 tháng được học tập lý luận tại trường và chuyến đi nghiên cứu thực tế
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm đổi mới của Đảng ta làm cơ sở lý
luận và phương pháp luận. Bài thu hoạch phân tích vấn đề sản xuất hàng hoá vi
mô nhỏ, chủ yếu dưới góc độ kinh tế - xã hội gắn với thực tiễn, kết hợp với khảo
sát, phân tích, tổng hợp các vấn đề mà đề tài đã xác định.
Kết cấu bài thu hoạch gồm có 3 phần chính:
Chương I: Những vấn đề lý luận về sản xuất hàng hoá quy mô nhỏ;
Chương II: Thực trạng sản xuất hàng hoá quy mô nhỏ trên địa bàn phường
4, thành phố Sóc Trăng.
Chương III: Một số phương hướng, giải pháp và kiến nghị trong vấn đề sản
xuất hàng hoá quy mô nhỏ trên địa bàn phường 4, thành phố Sóc Trăng.
Lê Thanh Nha
2
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
QUY MÔ NHỎ
I- CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN:
Quá trình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá là kiểu tổ
chức kinh tế đầu tiên mà loài người sử dụng để giải quyết vấn đề sản xuất cái gì,
sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai.
Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm của
người lao động làm ra được dùng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho nội bộ gia
đình, từng công xã hay từng cá thể riêng lẻ. Sản xuất tự cung tự cấp còn được gọi
là sản xuất tự cấp tự túc hoặc kinh tế tự nhiên.
Dựa vào điều kiện này mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyết định việc
sử dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra. Như vậy quan hệ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất làm họ tách biệt
nhau về mặt kinh tế. Trong điều kiện đó người sản xuất này muốn sử dụng sản
phẩm của người sản xuất khác thì phải trao đổi sản phẩm lao động cho nhau, sản
phẩm lao động đây trở thành hàng hoá.
Khi sản phẩm lao động xã hội trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở
thành người sản xuất hàng hoá, lao động của người sản xuất hàng hoá vùa có
tính chất xã hội vừa có tính chất tư nhân cá biệt.
Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá thể hiện ở chỗ do phân
công lao động xã hội nên sản phẩm lao động của người này trở nên cần thiết cho
người khác, cần cho xã hội.
Tinh chất tư nhân cá biệt thể hiện ở chỗ sản xuất ra cái gì bằng công cụ nào,
phân phối cho ai là công việc cá nhân của chủ sở hữu tư liệu sản xuất, do họ định
đoạt. Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá chỉ được thưà nhận khi họ
tìm được người mua trên thị trường và bán đưọc hàng hoá do họ sản xuất ra.
Vì vậy, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sở hữu thống nhất
giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất cá biệt của lao động.
Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội và tính chất cá biệt của lao động sản xuất hàng
hoá là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá. Những mâu thuẫn này được giải
quyết trên thị trường , đồng thời nó được tạo ra một cách liên tục thường xuyên
với tư cách là mâu thuẫn của nền kinh tế hàng hoá nói chung. Chính mâu thuẫn
này là nguyên nhân kinh tế của khủng hoảng sản xuất thừa.
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử sở hữu lâu dài.
Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn dựa trên kỹ thuật thủ công và lạc hậu.
Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn
chuyển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn.
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng
ta. Điều này thể hiện ở chỗ, thứ nhất, với trình độ phát triển như hiện nay của lực
chế độ tư hữu, chứ không phải xóa bỏ mọi hình thức sở hữu thực tế của mỗi cá
nhân trong xã hội. Trong xã hội có giai cấp, ý thức về quyền sở hữu là thuộc tính
của mỗi con người, con người chỉ cảm thấy thực sự có động cơ khi họ hoạt động
“cho mình”, tức là vì lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế của chính bản thân, sau
đó mới vì các mục đích khác. Do đó, quyền sở hữu được coi là một trong những
quyền tự nhiên của con người trong xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp và trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phát
triển của lực lượng sản xuất không thế tách rời sự phát triển hài hoà giữa hai khu
vực kinh tế cơ bản: kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân. Kinh tế Nhà nước và
kinh tế tư nhân luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tạo điều kiện để cùng
tồn tại và phát triển. Ở nước ta hiện nay, trong mối quan hệ giữa kinh tế nhà
nước và kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định bản
chất và định hướng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, còn kinh tế tư nhân
là “chỗ dựa thiết yếu”, “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của
nền kinh tế”.
II- TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH:
Chữ dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là dân tộc. Dân tộc là một
khối cộng đồng, gồm nhiều thành phần giai cấp, nhiều thành phần kinh tế. Chủ
trương nhiều thành phần kinh tế chính là biểu hiện của tư tưởng đại đoàn kết
trong lĩnh vực kinh tế. Hồ Chí Minh thường ít nói tới khía cạnh giai cấp mà
thường nhấn mạnh khía cạnh dân tộc, quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ sự cần thiết phải phát triển nhiều thành
phần kinh tế (quốc doanh, hợp tác xã, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước).
Người xác định quan điểm kinh tế: Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi. “Nhà tư bản
thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá
Lê Thanh Nha
5
khắp trong cả nước, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế. Với những
vai trò đáng kể này thì khu vực kinh tế tư nhân sẽ là lực lượng cơ bản trong công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Hội nghị lần thứ V ban chấp hành TW Đảng (khoá IX) đã đưa ra nghị quyết
về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và phát triển kinh tế tư nhân.
Khẳng định "kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa
hiện đại hóa, nâng cao phần nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế".
Sự tồn tại của kinh tế cá thể tiểu chủ là tất yếu khách quan, phù hợp với
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta trong sự
nghiệp đổi mới. Trong những năm qua, thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
Lê Thanh Nha
6
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
(khoá VI) khu vực kinh tế này đã không ngừng phát triển và đóng góp xứng đáng
cho nền kinh tế quốc dân nước ta trên nhiều lĩnh vực.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ QUY MÔ NHỎ TRÊN
ĐỊA BÀN PHƯỜNG 4, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
I-ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG:
1.Vị trí địa lý:
Phường 4 nằm ở phía đông thành phố Sóc Trăng, phía Bắc giáp phường 8,
phía Nam giáp phường 9, Đông giáp xã Tân Thạnh huyện Long Phú và phía Tây
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
-Sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng của tỉnh, thành phố làm bộ mặt đô thị
phường 4 có nhiều chuyễn biến, các chủ trương, chính sách ưu tiên cũng là 1 lợi
thế để các ngành tiểu thủ công nghiệp phường 4 có điều kiện thuận lợi phát triển.
-Có thị trường tiêu thụ rộng.
………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………..
*Khó khăn:
-Một số khóm vùng sâu của phường điều kiện giao thông còn khó khăn, gây
trở ngại cho vận chuyễn hàng hoá.
-Lực lực lao động dồi dào, tuy nhiên chuyên môn kỹ thuật chưa cao, tác
phong công nghiệp chưa tốt, do đó cũng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất hàng
hoá tập trung.
…………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………..
II-THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ:
1.Những thành tựu, kết quả đạt được:
Toàn phường 4 có 34 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, sản xuất các sản phẩm
truyền thống như bánh pía, lạp xưởng, mè láo; thức ăn chăn nuôi, …
Các ngành này, trong năm 2010 đã sản xuất tổng giá trị hàng hoá đạt trên
40,9 tỷ đồng, đóng góp 1 phần quan trọng vào ngân sách của phường.
Các ngành này trong năm 2010 đã thu hút một lượng lớn lao động ( với 309
lao động), góp phần cùng địa phương giải quyết việc làm cho người lao động.
-Vấn đề thương hiệu, sở hữu trí tuệ.
-Nhìn chung, thu nhập của người lao động trong các ngành nghề này chưa
cao ( khoãng 1,2 triệu – 2 triệu/ tháng), chưa đảm bảo được cuộc sống nên lao
động thường xuyên chuyễn đổi ngành nghề.
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
*Nguyên nhân:
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
CHƯƠNG III
Lê Thanh Nha
9
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VẤN ĐỀ SẢN XUẤT
HÀNG HOÁ QUY MÔ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG 4, THÀNH PHỐ
SÓC TRĂNG.
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng và xu hướng, kiến nghị đề xuất nhà
nước ban hành các chính sách vĩ mô nhằm khuyến khích các loại hộ cá thể, tiểu
Lê Thanh Nha
10
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
chủ, nhất là khu vực nông thôn, nhằm khai thác tốt mọi tiềm năng đất đai, lao
động, vốn và kinh nghiệm để phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới.
Định hướng các hộ cá thể, tiểu chủ cần tổ chức liên kết sản xuất trong các tổ
chức hợp tác tự nguyện, hoặc tham gia các hợp tác xã, vệ tinh cho các công ty.
Những hộ cá thể có khả năng phát triển thành tư bản tư nhân cần đăng ký hoạt
động hợp pháp, có tư cách pháp nhân, được luật pháp bảo vệ quyền lợi và được
nhà nước hổ trợ về cho vay vốn, hổ trợ khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm…
Cần có chính sách ưu đãi, khuyến khích họ mở rộng sản xuất kinh doanh,
hướng tới xuất khẩu tuỳ vào điều kiện thực tế.
Có chính sách hổ trợ các cơ sở đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và
quản lý vào sản xuất, giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hoá,
giảm giá thành từ đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Hổ trợ các cơ sở trong việc mở rộng và ổn định thị trường cung ứng vật tư
và tiêu thụ sản phẩm.
Tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với kinh tế cá thể tiểu
chủ.
III-KIẾN NGHỊ:
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………
Lê Thanh Nha
12
Vấn đề sản xuất hàng hoá ở thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ
Lê Thanh Nha
13