BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1
MỤC LỤC ...................................................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 3
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................ 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN........................................................................................... 6
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................ 6
1.2. Tình hình phát triển Elearning .............................................................................. 8
1.3. Ứng dụng Moodle trong hệ thống giáo dục trực tuyến ....................................... 11
1.4. Mục tiêu của bài báo cáo .................................................................................... 14
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU VỀ ELEARNING ................................................................. 16
2.1. Định nghĩa Elearning ......................................................................................... 16
2.2. Đánh giá ưu nhược điểm của Elearning .............................................................. 17
2.3. So sánh phương pháp học truyền thống và phương pháp Elearning .................... 20
2.4. Elearning trong đào tạo Tiếng anh...................................................................... 25
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU VỀ GÓI PHẦN MỀM MỞ MOODLE .................................. 28
3.1. Giới thiệu về Moodle ......................................................................................... 28
3.2. Tính năng quản lý website ................................................................................. 29
3.3. Tính năng quản lý người dùng ........................................................................... 29
3.4. Tính năng quản lý khóa học ............................................................................... 31
3.5. Các đối tượng sử dụng Moodle .......................................................................... 33
PHẦN 2. THỰC NGHIỆM........................................................................................... 34
CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH ĐIỆN TỬ ................................................... 34
1.1. Giới thiệu chung về giáo trình điện tử ................................................................ 34
1.2. Xây dựng bài giảng điện tử sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 .................... 36
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC KẾT HỢP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẬY TIẾNG ANH ....................................................................................................... 41
2.1. Đánh giá một số mô hình học trực tuyến hiện nay .............................................. 41
2.2. Nguyên tắc và tiêu chí xây dựng mô hình học kết hợp ....................................... 45
các lĩnh vực của xã hội. Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức.
Đặc điểm của nền kinh tế này là dịch vụ sẽ là khu vực thu hút được nhiều lao động tham
gia nhất, đặc biệt là những lao động tri thức cao. Do đó việc nâng cao hiệu quả chất
lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia, công ty, gia đình và mỗi cá nhân.
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải tiền thân là Cao đẳng Giao thông vận
tải với hơn 7 năm phấn đấu đóng góp vào sự phát triển của ngành Giao thông vận tải nói
riêng và của toàn xã hội nói chung. Ngày 27/04/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết
định chính thức thành lập Đại học Công nghệ GTVT, đánh dấu mốc phát triển rất quan
trọng của nhà trường. Bước sang một thời kỳ mới, để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực
cho xã hội đòi hỏi cán bộ, giáo viên trường phải không ngừng nỗ lực nghiên cứu nâng
cao chất lượng đào tạo trong môi trường mới [15].
Với mục tiêu hiện nay của giáo dục, theo khẩu hiệu của UNESCO đặt ra cho giáo dục
và đào tạo của thế kỷ XXI là “Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho mọi
người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau”. Và nhiệm vụ của giáo dục phải “giúp cho
người học đạt được những kiến thức và kỹ năng, và giúp cho họ có thể tiếp tục việc học
tập suốt cuộc đời” [8]. Để làm được điều đó, việc học không chỉ còn giới hạn trong nhà
trường mà đã được mở rộng hơn về không gian, thời gian và đa dạng hơn về hình thức tổ
chức, hỗ trợ cho nhu cầu “tự học” và “học suốt đời” của mỗi người. Trong Đề án “Xây
dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” của chính phủ cũng nêu rõ: “xây dựng cả
nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi
để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học
suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn
xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 4
nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập” [2]. Vì
vậy, cần phải đưa ra những giải pháp cho vấn đề này, một trong số đó chính là học tập
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 6
PHẦN 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề:
Ngày xưa, ông cha ta chủ yếu học tập theo lối văn chương thi cử. Nội dung học tập
và nghiên cứu thu hẹp trong phạm vi tư tưởng, triết lí, nhân sinh quan...chưa có dạy học
và nghiên cứu các môn khoa học tư nhiên. Phương pháp dạy học một chiều; Người học
hoàn toàn thụ động, lấy phương thức học thuộc lòng hoặc phải theo lời thầy là chính.
Thầy được coi là người có hiểu biết toàn diện còn trò được coi là người không biết gì, cần
tìm tới thầy để được rèn giũa dưới sự chỉ bảo của thầy. Do vậy trong quá trình dạy-học,
người thầy giảng giải nhiều, thời gian học tập dài, số lượng tri thức chiếm lĩnh trong qúa
trợ quá trình dạy học. Với hệ thống bài giảng được thiết kế rõ ràng, có tính định hướng để
sinh viên dễ dàng xác định được các nội dung cần học, cộng với việc tăng cường tính
tương tác giữa giáo viên và sinh viên và giữa sinh viên với nhau. Với đặc điểm này tạo
cho phương pháp đào tạo hỗn hợp được sử dụng phổ biến trên thế giới, kể cả tại các nước
có nền giáo dục phát triển [4].
Phần lớn các hệ thống e-learning hiện nay đều xây dựng dưới dạng một ứng dụng
web hệ thống quản trị học tập (LMS – Learning Management System) bao gồm tập hợp
của rất nhiều các môđun chức năng khác nhau cho phép quản lý toàn bộ từ nội dung
giảng dạy đến quá trình đăng ký học, quá trình học tập hay quá trình đánh giá kết quả học
tập của từng sinh viên trong mỗi khóa học. Ngoài ra hệ thống còn tích hợp các dịch vụ
cộng tác hỗ trợ quá trình trao đổi thông tin giữa giáo viên với sinh viên và các sinh viên
với nhau bao gồm các dịch vụ: giao nhiệm vụ tới người học, thảo luận, trao đổi, gửi thư
điện tử, lịch học,…[4].
Một số LMS phổ biến hiện nay trên thế giới phải kể đến là: IBM, BlackBoard,
WebCT, Atutor, Itias, LRN, Moodle,…. Trong đó hệ thống quản lý học tập mã nguồn mở
Moodle đang được đánh giá rất cao và chiếm số lượng lớn người dùng trên thế giới.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 8
1.2 Tình hình phát triển E-learning
1.2.1 Trên thế giới:
Nhận thấy được những hiệu quả to lớn từ e-learning, các nhà giáo dục trên thế giới đã
tích cực đầu tư, nghiên cứu cho các chương trình học tập, xây dựng các mã nguồn mở
như LMS, LCMS (Learning Content Managerment System), các công cụ đóng gói nội
dung học tập,…
Mỹ và Châu Âu là những nước tiên phong, đi đầu và có những chương trình, dự án
đầu tư vào phương pháp học tập e-learning nhằm thúc đẩy sự phát triển đào tạo trực
tuyến trong các tổ chức và các trường đại học
Tại Mỹ, e-learning đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của chính phủ
Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công
vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo
truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo
nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản
tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp
ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần
phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại. Một số quốc gia,
đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực
phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài
Loan,Trung Quốc,...
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu
vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản
xuất, các doanh nghiệp... và dùng để đào tạo nhân viên.
1.2.2 Ở Việt Nam:
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở
Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt
Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Nhiều hội nghị, hội thảo về công nghệ thông
tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 10
trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm
2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về
nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003,
Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông
tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-
learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại
học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-
learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
thiết. Tỷ lệ giờ online trực tiếp giữa giáo viên và học viên trên mạng còn thấp, việc trả lời
hướng dẫn phải được thực hiện nguội, thiếu phương pháp và đội ngũ cán bộ giảng dạy.
Hiện nay vẫn còn không ít sinh viên chưa có hoặc chưa biết sử dụng máy vi tính, mạng
Internet. Đây là một thực tế vô cùng khó khăn trong quá trình học tập. Cũng theo đánh
giá của Bộ GD&ĐT thì hiện nay đang có tình trạng một số trường chạy theo số lượng,
thành tích, phát triển quy mô quá nhanh so với khả năng đảm bảo chất lượng đào tạo, so
với điều kiện về đội ngũ giảng viên và trợ giảng. Việc tổ chức đánh giá chất lượng còn
nhiều hạn chế. Chính vì vậy nhiều người còn hoài nghi về chất lượng E-learning, tâm lý
học truyền thống vẫn còn ăn sâu trong người học. Trong tương lai những vấn đề này cần
được cải thiện và khắc phục.
1.3 Ứng dụng Moodle trong hệ thống giáo dục trực tuyến
Moodle là một hệ thống quản lý học tập (Learning Management System - LMS hoặc
người ta còn gọi là Course Management System hoặc VLE - Virtual Learning
Environment) mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa được mã nguồn), cho
phép bạn tạo ra các khóa học trên mạng Internet hay các website học tập trực tuyến cho
các trường học , các tổ chức giáo dục .v.v...
1.3.1 Hiện trạng sử dụng Moodle trên thế giới và Việt nam
Moodle hiện đang được sử dụng một cách rộng rãi và tin cậy , hiện tại có trên 57.573
web site đang hoạt động. Trên thế giới hiện có trên 215 quốc gia đã và đang sử dụng
Moodle, và hiện tại Moodle đã được dịch ra 96 ngôn ngữ khác nhau. Có trên 3 triệu
người đã đăng kí tham gia cộng đồng Moodle (moodle.org) và sẵn sàng giúp đỡ giải
quyết mọi khó khăn về việc cài đặt, nâng cấp và sử dụng Moodle [16].
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 12
Cộng đồng Moodle Việt Nam được thành lập tháng 3 năm 2005 với mục đích xây
dựng phiên bản tiếng Việt và hỗ trợ các trường triển khai Moodle. Từ đó đến nay, nhiều
trường đại học, tổ chức và cá nhân ở Việt Nam đã dùng Moodle. Có thể nói Moodle là
một trong các LMS thông dụng nhất tại Việt Nam. Cộng đồng Moodle Việt Nam giúp
những chuyên gia tin học tốt thì bạn không cần thuê bên ngoài.
Khả năng hỗ trợ cho một phần mềm mã nguồn mở Moodle rất cao, Nhờ vào cộng
đồng sử dụng moodle , nhân viên IT có sẵn, hoặc các công ty dịch vụ có sẵn
Tuy là phần mềm mã nguồn mở, như chất lượng của Moodle rất tốt, chất lượng
bằng hoặc tốt hơn Blackboard /WebCT trong nhiều khía cạnh. Bởi cộng đồng các nhà
giáo dục, chuyên gia máy tính, và các chuyên gia thiết kế giảng dạy chính là những người
phát triển Moodle, và kết quả là bạn có trong tay một sản phẩm đáp ứng tốt các yêu cầu
người dùng.
Moodle còn có các tính năng hướng tới giáo dục vì chúng được xây dựng bởi những
người làm trong lĩnh vực giáo dục.
Moodle được hỗ trợ tích cực bởi những người làm trong lĩnh vực giáo dục. Họ là
những người có trình độ IT tốt và có kinh nghiệm trong giảng dạy. Họ chính là những
người dùng LMS và có thể hỗ trợ bạn.
Moodle có một cộng đồng lớn như vậy, phần mềm được dịch ra 96 ngôn ngữ và được
sử dụng tại 215 quốc gia khác nhau. Nên khả năng hổ trợ cho bạn là rất lớn.
Moodle, giống như các công nghệ mã nguồn mở khác, có thể tải về và sử dụng miễn
phí.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 14
Moodle thì rất tốt trong việc tạo điều kiện cho các sinh viên khoa học máy tính (công
nghệ thông tin) có cơ hội để phát triển một module cho LMS Moodle. Sinh viên có thể
xây dựng các module cho LMS Moodle và chia sẻ nó cho cộng đồng toàn cầu. (Ví dụ như
sinh viên Phạm Minh Đức - Đại học BK Hà Nội đã phát triển thành công module
SCORM 2004, sau đó đóng góp cho cộng đồng Moodle).
Moodle cho phép bạn trao đổi trực tiếp với chính những người phát triển phần mềm,
góp ý kiến và yêu cầu chỉnh sửa.
1.4 Mục tiêu của bài báo cáo khoa học:
Phương pháp học tập theo phương pháp E-learning hiểu theo nghĩa đầy đủ thì nó bao
Phần này chúng tôi sẽ tổ chức cấu trúc bài giảng giáo trình môn học tiếng anh trực
tuyến học phần 1 bao gồm đầy đủ các thành phần cần thiết trong một giáo trình thông
thường, thêm vào đó là các thành phần ứng dụng công nghệ thông tin và các loại truyền
thông đa phương tiện như văn bản, hình ảnh, âm thanh, video. Ngoài ra kết thúc bài
giảng, môn học sẽ có các bài kiểm tra trắc nghiệm với các câu hỏi có một lựa chọn và câu
hỏi có nhiều lựa chọn và tích hợp nó lên Moodle.
1.3.3. Đóng góp của đề tài
Đưa ra được cấu trúc bài giảng giáo trình điện tử có đầy đủ các thành phần tương tự
như một giáo trình thông thường, kèm theo các thành phần khác biệt rõ nét với giáo trình
thông thường là âm thanh, hình ảnh, flash. Bài giảng sẽ được trình bày, thể hiện trên nền
Web. Phần nội dung giảng dạy được thể hiện trong một trang màn hình và chúng có khả
năng tái sử dụng bằng cách liên kết đến các nội dung giảng dạy trước đó hoặc ở các bài
học khác giúp cho việc tra cứu thông tin trong quá trình học tiếng anh trở nên nhanh
chóng hỗ trợ cho việc giảng dạy trên lớp.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 16
CHƯƠNG 2. TÌM HIỂU VỀ E-LEARNING
2.1. Định nghĩa E-learning [5].
E-learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào việc dạy và học nhằm
làm cho công việc giáo dục trở nên dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả hơn.
E-learning là tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật cho giáo dục như
văn bản, âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, trò chơi, phim, thư điện tử, các diễn đàn thảo
luận, các forum,…
E-learning cung cấp nội dung đào tạo trên nền Web có thể được cập nhật, phát hành
tức thời và thống nhất trên toàn cầu. Cung cấp nhiều công nghệ khác nhau để thiết lập
muốn câu trả lời ngay lập tức cho một vấn đề khó khăn, họ có thể truy cập
www.google.com
Với E-Learning chúng ta trở nên năng động hơn. Cán bộ của trường có thể dùng quỹ
thời gian của mình để làm việc ngoài văn phòng (tại nhà, tại cơ sở đào tạo ở xa, quán cafe
hay một địa điểm nào đó có kết nối internet). E-Learning đóng một vai trò rất quan trọng
trong giảm thiểu lượng thời gian dành cho đào tạo cán bộ, giảng viên, học sinh - sinh
viên.
Phần lớn các hệ thống E-learning hiện nay đều được xây dựng dưới dạng ứng dụng
web đơn nhất tích hợp chức năng quản trị học tập (LMS) và chức năng quản trị nội dung
học tập (LCMS). Moodle là một nền tảng cho E-learning mã nguồn mở với số lượng rất
lớn người sử dụng có 55.637 website đã đăng ký tại 211 quốc gia với 44.915.568 người
sử dụng tại 4.727.765 khóa học vào năm 2011 (Số liệu thống kê đến hết tháng 7 năm
2011).
2.2. Đánh giá ưu nhược điểm của E-learning
2.2.1. Ưu điểm:
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 18
E-learning có một số ưu điểm vượt trội so với loại hình thức đào tạo truyền thống .
Kết hợp cả ưu điểm tương tác giữa giáo viên với sinh viên của hình thức học trên lớp lẫn
sự linh hoạt trong việc tự xác định thời gian, khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên.
Đối với nội dung học tập:
Hỗ trợ các “đối tượng học” theo yêu cầu, cá nhân hóa việc học. Nội dung
học tập được phân chia thành các đối tượng tri thức riêng biệt theo từng lĩnh
vực, ngành nghề rõ ràng. Điều này tạo ra tính mềm dẻo cao hơn, giúp cho
sinh viên có thể chọn lựa những khóa học phù hợp với nhu cầu học tập của
mình. Sinh viên có thể truy cập những đối tượng này qua các đường dẫn xác
định trước, sau đó sẽ tự tạo cho mình những kế hoạch học tập, thực hành, hay
sử dụng các phương tiện tìm kiếm để tìm ra các chủ đề theo yêu cầu.
Đối với việc đào tạo chung:
E-learning giúp giảm chi phí học tập: Bằng việc sử dụng các giải pháp học tập
qua mạng, nhà trường có thể giảm được các chi phí học tập như tiền lương
phải trả cho giáo viên, tiền thuê phòng học, chi phí đi lại, ăn ở của sinh viên.
Đối với những người học theo hình thức này, giúp họ không mất nhiều thời
gian, tiền bạc và công sức khi di chuyển, đi lại và tổ chức lớp học,… góp
phần tăng hiệu quả học tập.
E-learning còn giúp làm giảm tổng thời gian cần thiết cho việc học
Giáo viên và sinh viên có thể truy cập vào khóa học ở bất cứ chỗ nào, trong
bất kỳ thời điểm nào mà không nhất thiết phải trùng nhau. Điều này rất hữu
ích cho nhà trường trong việc đào tạo tại 3 cơ sở cách xa nhau như hiện nay.
2.2.2. Nhược điểm:
E-learning đang là một xu hướng phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới. Việc triển
khai hệ thống E-learning cần có những nỗ lực và chi phí lớn, mặt khác nó cũng có những
rủi ro nhất định. Bên cạnh những ưu điểm nổi bật như trên, E-learning còn có một số
khuyết điểm mà ta không thể bỏ qua cần phải khắc phục sau đây:
Do đã quen với phương pháp học truyền thống nên sinh viên và giáo viên sẽ
gặp một số khó khăn về cách học tập và giảng dạy. Ngoài ra họ còn gặp khó
khăn trong việc tiếp cận các công nghệ mới
Sinh viên cần phải có gắng nỗ lực hết mình khi tham gia khóa học để có kết
quả học tập tốt do việc môi trường học tập phân tán.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20
Giáo viên phải mất nhiều thời gian và công sức để soạn bài giảng, tài liệu
giảng dạy, tham khảo cho phù hợp với phương pháp học tập E-learning.
Các vấn đề khác về mặt công nghệ: cần phải được xem xét công nghệ hiện
thời có đáp ứng được các mục đích đào tạo hay không, chi phí đầu tư cho công
nghệ đó có hợp lý không. Ngoài ra, khả năng làm việc tương thích giữa các hệ
trình độ của từng nhóm. Thêm vào đó, việc học tập thông qua những buổi thảo luận mà
người thầy chỉ với vai trò là người giám sát, để sinh viên thảo luận các chủ đề với nhau.
Người thầy sẽ cho ý kiến ai đúng ai sai, và sẽ nhắc nhở khi sinh viên của mình thảo luận
lạc hướng chủ đề đang đặt ra.
Hiện nay ở Việt Nam, dạy và học vẫn còn theo phương pháp truyền thống, việc học
bị lệ thuộc vào việc dạy khi thầy là đối tượng duy nhất truyền đạt tri thức. Sinh viên học
một cách thụ động, thầy bảo gì làm nấy, ít sự sáng tạo. Phương pháp học tập theo kiểu lối
mòn, không theo kịp sự phát triển của xã hội. Phần lớn sinh viên ra trường đều phải đào
tạo thêm thậm chí là đào tạo lại vì kiến thức thu được hầu như chỉ là kiến thức sách vở,
thiếu thực tế. Trong quá trình học tập, sinh viên ít được đưa ra ý kiến của mình về việc
giảng dạy của thầy, điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập, thầy
giáo thì không biết sinh viên của mình muốn học theo hình thức nào còn sinh viên thì
không hài lòng với phương pháp giảng dạy của thầy.
2.3.2. Phương pháp học tập E-learning [10, 13].
Sự ra đời của E-learning đã khắc phục được những nhược điểm trên. Sinh viên chỉ
cần ngồi trước máy tính tự thao tác, học tập, thực hành và làm bài tập theo ý muốn. Các
chức năng như tổ chức biểu diễn tri thức, sau đó thể hiện tri thức đó trên máy tính và tổ
chức quản lý học tập đều do sinh viên tự điều chỉnh và thao tác. Với các tính năng ưu
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 22
việt, E-learning ngày càng được biết đến và được sử dụng như một công cụ trợ giảng đắc
lực nhất.
Hình 1.2.2: Sơ đồ chức năng phương pháp học tập Elearning
Vai trò, hoạt động của giáo viên và học sinh có sự thay đổi lớn so với dạy học truyền
thống. Trong đó, giáo viên chuyển từ vị trí là trung tâm của quá trình dạy học sang vai trò
là người tổ chức hướng dẫn cho các hoạt động của học sinh, sinh viên. Hoạt động dạy là
cấp chứng chỉ của Englishtown. Điểm lại các ứng dụng e-learning hiện có, một điều nổi
bật là số lượng người dùng ngày càng tăng nhanh.
2.3.3 Học kết hợp (Blended Learning – BL) [10, 13].
Học kết hợp “Blended Learning – BL” xuất phát từ nghĩa của từ “Blend” tức là “pha
trộn” để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp “hữu cơ” của
nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Đây là hình thức học khá phổ biến trên thế
giới. Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp, tuy nhiên có ba cách định nghĩa
được sử dụng rộng rãi.
- Blended Learning: kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương
tiện truyền thông) (Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2011;
Thomson, 2002)
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 24
- Blended Learning: kết hợp các phương pháp giảng dạy (Driscoll, 2002, House,
2002; Rossett, 2002)
- Blended Learning: Kết hợp hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn đối mặt (Reay,
2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche, 2003; Young, 2002).
Như vậy học kết hợp là “Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo
như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo
tối ưu cho một đối tượng cụ thể”. Tác giả Victoria L. Tinio (thành viên của nhóm công
tác e-ASEAN và chương trình phát triển thông tin châu Á Thái Bình Dương của UNDP)
cho rằng “Học kết hợp (Blended Learning) để chỉ các mô hình kết hợp giữa hình thức học
truyền thống và các giải pháp E-learning”. Mô hình kết hợp có thể được mô tả như sau.
Hình 1.2.3: Sơ đồ mô hình học kết hợp
Trong mô hình này, người học tham gia vào quá trình học tập bằng hình thức học
giáp mặt trên lớp (nhóm, các nhân, seminar, hội thảo); hình thức hợp tác qua mạng
internet (chat, blog, online, forum) và tự học (trực tuyến/ ngoại tuyến, độc lập về không
lớp 6 chúng ta học tiếng Anh hệ 7 năm, tức là từ lớp 6 đến lớp 12. Nhưng khi vào trường
cấp III, lại chẳng có trường nào học tiếp hệ 7 năm đó, mà chỉ học hệ 3 năm, từ lớp 10 đến
lớp 12. Kết quả là người học đi, người học lại, mà sách lớp 9 hệ 7 năm còn khó hơn cả
sách lớp 12 hệ 3 năm.