Bài Thảo Luận Môn Tâm Lí Học - Pdf 33

Câu 1: Lịch sử phát triển của tâm lí học, quan điểm của các trường phái tâm lí học hiện đại,
xu hướng nghiên cứu của ngành này trong giai đoạn tới?
− Thời kì cổ đại, khi nói về tâm lí, người ta sử dụng cụm từ “tâm hồn”. Tâm hồn là khái niệm
phản ánh quan điểm có tính lịch sử về tâm lý con người và động vật.
− Trong một thời gian khá dài, tâm lý học được phát triển ngay trong lòng triết học. Thuật ngữ
“ tâm lý học” đã xuất hiện từ cuối thế kỉ XVI và trở thành thuật ngữ thông dụng vào giữa thế
kỉ XVIII. Ngay từ thời kì cổ đại và cho đến ngày nay, trong tâm lý học đã diễn ra những
cuộc đấu tranh gay gắt mang tính giai cấp giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Vấn
đề cơ bản trong các cuộc đấu tranh đó là trả lời các câu hỏi: tâm lý là gì? Ý thức là gì? Các
quá trình tâm lý và sinh lý trong con người có quan hệ qua lại như thế nào?
− Hàng ngàn năm trước đây ở phương Đông đã có những nền văn minh vĩ đại như: văn minh
Ai Cập, văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Hoa. Trong các nền văn minh đó chứa đựng
những tư tưởng dẫn tới những kiến thức khoa học ngày nay.
− Đến cuối thế kỉ XIX, tâm lý học trở thành khoa học độc lập. Đến ngày nay, tâm lý học đã có
các chuyên ngành nghiên cứu hoạt động tâm lý của con người trong các lĩnh vực khác nhau:
tâm lý học y học, tâm lý học pháp lý, tâm lý học tội phạm,...
− Trong các văn bản tự đầu tiên từ thời cổ đại, trong các kinh ở Ấn Độ đã có những nhận xét
về tính chất của hồn, đã có những ý tưởng tiền khoa học về tâm lý.
− Thế kỉ IV – III TCN, người đầu tiên nghiên cứu “tâm hồn” một cách có hệ thống là Aristot
(384 – 322 tr.CN), ông là một trong những người có quan điểm sinh học duy vật về tâm lý
con người (mặc dù trong triết học ông có quan điểm duy tâm). Ông là tác giả cuốn sách
“Bàn về linh hồn”. Đây là cuốn sách đầu tiên đề cập đến tâm lý con người một cách có hệ
thống. Ông cho rằng, tâm hồn gắn liền với thể xác và có ba loại tâm hồn:
1. Tâm hồn thực vật có chung ở người và động vật làm chức năng dinh dưỡng (còn gọi là
“tâm hồn dinh dưỡng”).
2. Tâm hồn động vật có chung ở người và động vật làm chức năng cảm giác, vận động ( còn
gọi là “tâm hồn cảm giác”).
3. Tâm hồn trí tuệ chỉ có ở con người (còn gọi là “tâm hồn suy nghĩ”).
• Quan điểm của các trường phái tâm lý học hiện đại:
* Tâm lý học hành vi:
− Do nhà tâm lý học ở Mỹ J.Oatsơn (1878 – 1958) sáng lập, ông cho rằng tâm lý học không

tượng tâm lý “bừng sáng”. Những hiện tượng tâm lý này tạo ra tầng ý thức trong đời sống
tâm lý con người.
* Các trường phái tâm lý học mác – xít:
1. Tâm lý học nhân văn:
Trường phái tâm lý này cho rằng, bản chất con người vốn tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm
năng kỳ diệu. Họ nhấn mạnh tính chất nhân bản của hành vi con người, đặc biệt là tiềm năng của
con người đối với sự phát triển nhân cách nếu cho họ tự lựa chọn số phận mình và điều khiển nó.
2. Tâm lý học nhận thức
trường phái này coi hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình. Tiến bộ nổi bật của
trường phái này là họ nghiên cứu tâm lý con người, nhận thức con người trong mối quan hệ với môi
trường, với cơ thể và với bộ não. Vì thế, họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị trong
các vấn đề tri giác, trí nhớ, ngôn ngữ,... làm cho các lĩnh vực nghiên cứu nói trên đạt tới một trình
độ mới.
3. Tâm lý học hoạt động
Trường phái này lấy triết học Mác – lê nin làm cơ sở lý luận và phương pháp luận, lấy phạm trù
hoạt động có ý thức trong hệ thống lý luận Mácxít làm mẫu để nghiên cứu đời sống tinh thần của
con người. Tâm lý học hành động cho rằng: tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan vào não
thông qua hoạt động, tâm lý mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, được hình thành, phát triển và
thể hiện trong hoạt động và giao lưu của con người trong xã hội.
Câu 2: các quy luật cơ bản của cảm giác, tri giác và ứng dụng của chúng trong cuộc sống,
trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt là cuộc sống, thực tiễn của sinh viên.
− Các quy luật cơ bản của cảm giác:
1. Quy luật về ngưỡng cảm giác
Cảm giác nảy sinh khi có kích thích tương ứng tác động vào các cảm giác quan (ánh sáng tác động
vào mắt, vị tác động vào lưỡi…), nhưng không phải mọi kích thích tác động vào các giác quan đều
gây nên cảm giác: kích thích quá yếu không tạo nên cảm giác (hạt bụi rơi trên cánh tay), kích thích
quá mạnh có thể dẫn đến mất cảm giác (ngọn đèn pha chiếu thẳng vào mắt).
Để gây ra được cảm giác thì kích thích phải có cường độ nằm trong một giới hạn nhất định. Giới
hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác, bao gồm:
+ Ngưỡng cảm giác phía dưới (ngưỡng tuyệt đối): là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây được

Nhờ có khả năng thích ứng, cảm giác có thể mất hẳn nếu như kích thích tác động lâu dài và không
thay đổi lên cơ quan cảm giác.
Ví dụ: Những người sinh sống khu vực ven bờ kênh không cảm giác thấy mùi hôi khó chịu như
những người mới đến.
Khả năng thích ứng của các loại cảm giác không giống nhau. Có những cảm giác có khả năng thích
ứng nhanh như cảm giác ngửi, cảm giác nhìn và cảm giác nhiệt độ. Có những cảm giác chậm thích
ứng hơn như cảm giác nghe, cảm giác thăng bằng… riêng cảm giác đau hầu như không thích ứng.
Khả năng thích ứng của cảm giác có thể thay đổi và phát triển do hoạt động, rèn luyện và tính chất
nghề nghiệp…
Ví dụ: Công nhân luyện kim có thể chịu đựng nhiệt độ cao tới 50 - 60 độ C trong hàng giờ đồng hồ.
Tính thích ứng của cảm giác tạo nên sự đơn điệu, nhàm chán trong công việc cũng như trong cuộc
sống hằng ngày, gây nên tâm trạng mệt mỏi → trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức lao
động cần phải chú ý tới những yếu tố gây ra trạng thái đơn điệu.
Ví dụ: Sản phẩm chỉ có một mẩu quảng cáo duy nhất trong thời gian dài không còn gây được sự chú
ý của khán giả, khách hàng, cảm giác. Cơ sở sinh lý của hiện tượng tác động lẫn nhau của các cảm
giác là quy luật cảm ứng qua lại giữa hưng phấn và ức chế.
Sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác có thể diễn ra một cách đồng thời hay nối tiếp trên những
cảm giác cùng loại hay khác loại. Tương phản chính là hiện tượng tác động qua lại giữa các cảm
giác cùng loại: là sự thay đổi cường độ và chất lượng của cảm giác dưới ảnh hưởng của một kích
thích cùng loại xảy ra trước đó hay đồng thời:
+ Tương phản nối tiếp: sau khi cầm cục nước đá, ta cho tay vào thau nước lạnh sẽ có cảm giác nước
ấm hơn bình thường.
+ Tương phản đồng thời: nếu ta đặt hai tờ giấy màu xám như nhau, một cái lên nền trắng, một cái
lên nền đen, thì ta sẽ cảm thấy tờ giấy xám trên nền trắng có vẻ xẫm màu hơn tờ giấy xám trên nền
đen.
Quy luật này thường được vận dụng trong các hoạt động tuyên truyền quảng cáo khi so sánh hai sản
phẩm, dịch vụ với nhau để làm nổi bật sản phẩm của mình trong nhận thức, đánh giá của người tiêu
dùng.
3. Quy luật về sự tác động qua lại của các cảm giác
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cơ quan cảm giác này

5. Quy luật về “quán tính” và “sức ì” của cảm giác:
- Khi kích tác động vào giác quan, cảm giác chưa xuất hiện ngay mà nó đòi hỏi một khoảng thời
gian nào đó. Khoảng thời gian kể từ khi kích thích tác động vào giác quan đến khi xuất hiện cảm
giác gọi là giai đoạn ẩn của cảm giác. Cảm giác cũng chưa mất đi ngay khi kích thích ngừng tác
động. Khoảng thời gian từ khi kích thích ngừng tác động đến khi cảm giác mất hẳn gọi là khoảng
sau tác động của cảm giác.
− Các quy luật cơ bản của tri giác:
1. Quy luật về tính đối tượng của tri giác
- Hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng thuộc về một sự vật, hiện tượng của thế giới
bên ngoài. Tính đối tượng của tri giác nói lên sự phản ánh hiện thực khách quan chân thực của tri
giác và nó được hình thành do sự tác động của sự vật, hiện tượng xung quanh vào giác quan con
người trong hoạt động.
- Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng: nó là cơ sở của chức năng định hướng cho hành
vi và hoạt động của con người.
Ví dụ: trẻ nhỏ nhận thức được sự vật tồn tại độc lập với cơ quan cảm giác, trong giai đoạn hành
động với đồ vật, trẻ phát triển các chức năng tâm lý mới: biết cách sử dụng đồ vật, hoạt động có
mục đích, sử dụng đồ vật theo những mục đích xác định.
2. Quy luật về tính lựa chọn của tri giác
- Tri giác của con người không thể đồng thời phản ánh tất cả các sự vật, hiện tượng đang tác động,
mà chỉ tách đối tượng ra khỏi bối cảnh (tách vật nào đó ra khỏi các vật xung quanh). Khả năng của
con người chỉ tri giác một vài đối tượng nào đó trong vô số những sự vật, hiện tượng xung quanh
gọi là tính lựa chọn của tri giác.
- Tính lựa chọn của tri giác biểu hiện thái độ tích cực của con người, nhằm tăng hiệu quả của tri
giác. Thực chất của quá trình tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh. Vì thế đối tượng
càng khác biệt so với bối cảnh thì quá trình tri giác xảy ra một cách nhanh chóng và dễ dàng, ngược
lại đối tượng càng giống với bối cảnh thì tri giác xảy ra một cách khó khăn.
- Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất cố định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể thay


đổi cho nhau, tùy thuộc vào mục đích cá nhân và điều kiện xung quanh khi tri giác.

Ví dụ: trước mặt ta là một em bé, đằng xa phía sau là người mẹ. Trên võng mạc ta, hình ảnh đứa bé
lớn hơn hình ảnh người mẹ nhưng ta vẫn tri giác người mẹ lớn hơn đứa trẻ.
- Tính ổn định của tri giác thể hiện rõ trong trường hợp tri giác về độ lớn, hình dạng, màu sắc của
đối tượng. Tính ổn định của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Cấu trúc tương đối ổn định của sự vật trong một thời gian, thời điểm nhất định.
+ Cơ chế tự điều chỉnh đặc biệt của hệ thần kinh dựa trên mối liên hệ ngược do vốn kinh nghiệm
phong phú của con người tạo nên.
5. Quy luật tổng giác
- Hình ảnh tri giác không chỉ phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của vật kích thích mà còn phụ thuộc
vào bản thân chủ thể tri giác. Khi tri giác, con người không chỉ phản ánh thế giới bằng những giác
quan
cụ
thể

bằng
toàn
bộ
hoạt
động
của
chủ
thể.
→ Tri giác thế giới không có nghĩa là “chụp ảnh” thế giới một cách trực tiếp, mà là phản ánh thế
giới thông qua “lăng kính” đời sống tâm lý của chủ thể
- Sự phụ thuộc của hình ảnh tri giác vào nội dung của đời sống tâm lý con người, vào đặc điểm tâm
lý nhân cách của họ được gọi là hiện tượng tổng giác.
Ví dụ: Sự tri giác cùng một đối tượng của nhiều người thường không giống nhau do họ có mục
đích, nhu cầu, hứng thú, tình cảm, kinh nghiệm, tâm thế khác nhau ...
6. Ảo ảnh tri giác
- Ảo ảnh tri giác là sự phản ánh sai lệch các sự vật, hiện tượng một cách khách quan của con người.

- Trong tính lựa chọn chứa đựng tính tích cực của tri giác: tri giác là quá trình tách đối tượng
ra khỏi bối cảnh. Sự lựa chọn của tri giác không manh tính cố định, vai trò của đối tượng và
bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau tùy thuộc vào yếu tố chủ quan của chủ thể.
- Quy luật này có nhiều ứng dụng trong thực tế như trong trang trí, kiến trúc, ngụy trang,
quảng cáo, dạy học…




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status